SKKN Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt - Pdf 26

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
(Một số biện pháp giúp học sinh
hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt
để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5)
Năm học 2013 - 2014
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa
đúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và
câu lớp 5, dạng bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề có liên quan đến từ Hán - Việt.
3. Tác giả:
Họ và tên: Đặng Trần Hải. Giới tính: Nam.
Ngày/tháng/năm sinh: 23 / 7 / 1977.
Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học.
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Minh Đức B.
Điện thoại: 0962 147 184.
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Lớp 5B, trường Tiểu học Minh
Đức B.
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Thực hiện đề tài với học sinh lớp 5.
- Trong thời gian thực hiện đề tài, cần có sự ủng hộ của Ban giám hiệu
nhà trường, các bậc cha mẹ học sinh và bản thân các em học sinh do mình phụ
trách.
- Muốn thực hiện thành công đề tài, người giáo viên cần có lòng say mê
nghề nghiệp, ham học hỏi (nhất là từ Hán - Việt), cần có nhiều tài liệu để
nghiên cứu, vận dụng.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: từ ngày 10 tháng 9 năm 2013
đến ngày 15 tháng 02 năm 2014.

vẫn có sự ảnh hưởng nhất định về văn hoá, thể chế chính trị, của Trung Quốc
đối với người Việt kể cả trong tư tưởng triết học và ngôn ngữ. Theo truyền
thuyết cũng như các nguồn sử liệu của cả Trung Quốc và Việt Nam ta thì ngày
từ thời Hùng Vương, người Việt cổ đã có chữ viết riêng "chữ Khoa Đẩu",
nhưng đã bị người Hán huỷ bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn. Do vậy nên trước
khi chữ Quốc ngữ ra đời, người Việt ta phải dùng chữ Hán để viết, nhưng lại
đọc theo âm Việt và đã ghi được phần lớn và cơ bản các từ Hán - Việt, sau
người Việt ta lại mượn thứ chữ Hán ấy để sáng tạo thêm ra chữ Nôm để mong
muốn có thể ghi hết được các âm thuần Việt mà chữ Hán không có: sông, núi,
nước, lửa, Nhờ vậy mà sau này các nhà truyền đạo phương Tây ngay từ thế
kỷ 18 đã dựa vào đó mà ghi lại tiếng nói của dân tộc ta thông qua các âm đọc
Hán - Nôm của người Việt. Đây là cơ sở cho việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ
ngày nay mà chúng ta đang dùng. Vì vậy, ngay từ khi nó được sáng tạo ra,
chính quyền phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ đã bắt người dân dùng chữ viết
này và coi đó như là chữ viết phổ cập. Khi Cách mạng tháng Tám thành công,
vì thấy đây là loại chữ viết dễ dùng nên chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyến khích
nhân dân dùng chữ Quốc ngữ để viết. Vậy là từ đó chữ Quốc ngữ được phổ
biến sâu rộng và phổ cập như ngày nay.
Mặc dù vậy, khi sử dụng từ ngữ, người Việt Nam vẫn thường có thói
quen sử dụng từ gốc Hán, đọc theo âm Việt (gọi là từ Hán - Việt). Từ Hán -
Việt đã góp phần làm phong phú kho tàng từ điển Việt Nam. Từ Hán - Việt có
nghĩa cổ kính, trang nghiêm, lịch sự và trang trọng. Ta thường thấy, nhiều khi
trong một văn bản nhất định, người ta không thể dùng được những từ thuần
4
Việt tương đương để thay thế. Ví dụ: "phụ nữ" là từ đồng nghĩa với "đàn bà",
nhưng không thể dùng từ "đàn bà" thay cho từ "phụ nữ" trong cụm từ "Quốc tế
Phụ nữ 8/3", vì từ "phụ nữ" được dùng với nghĩa trang trọng hơn.
Ngay từ khi sinh ra, trẻ em Việt Nam đã được tiếp xúc với ngôn ngữ
tiếng Việt. Đó là những câu hát ầu ơ của mẹ, đó là những lời gọi và nói chuyện
âu yếm của cha, của ông bà, của những người họ hàng làng xóm khi họ gần gũi

thường là viết một đoạn văn ngắn theo chủ đề vừa học. Tất cả các giáo viên đều
hiểu nếu học sinh nắm được nghĩa của từ thì sẽ làm tốt các dạng bài tập nêu
trên, nhưng làm thế nào để giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của từ Hán - Việt mà
không bị nhầm lẫn? Đây chính là vấn đề mà tôi cũng như nhiều đồng nghiệp
của tôi đang trăn trở khi giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4+5.
2. Thực trạng của việc nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, tôi thường được phân công giảng dạy lớp 4 hoặc
lớp 5, mỗi lần dạy đến phần bài "Mở rộng vốn từ" trong phân môn Luyện từ và
câu là tôi lại gặp phải không ít khó khăn. Khó khăn ấy không gì khác đều do
học sinh hiểu chưa đúng nghĩa của từ (nhất là từ Hán - Việt) nên dẫn đến khi
tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, xếp từ theo nhóm bị sai. Khi giáo viên yêu cầu
học sinh giải nghĩa từ, học sinh lúng túng không biết giải nghĩa ra sao, những
học sinh hiểu thì cũng diễn đạt còn chưa chính xác.
Ví dụ: Trong bài Mở rộng vốn từ "Hữu nghị - Hợp tác" có dạng bài tập
xếp từ theo hai nhóm:
- Nhóm 1: Hữu (có nghĩa là bạn bè), - Nhóm 2: Hữu (có nghĩa là có).
Trong bài này có từ "hữu tình" nghĩa là có sức hấp dẫn, gợi cảm, có tình
cảm, nhưng học sinh lại hiểu "hữu tình" nghĩa là "bạn tình". Vậy là các em xếp
từ này vào nhóm 1.
Cũng trong một số tiết ôn tập thêm có mở rộng vốn từ, học sinh đa số
hiểu sai nhiều từ ngữ Hán - Việt: "đại diện" hiểu là "mặt to", "đại lý" hiểu là
"cửa hàng to", "nhân hậu" hiểu là "người đứng phía sau","phía sau người",
6
Khi giải nghĩa các thành ngữ, tục ngữ có trong các bài tập, học sinh cũng
lúng túng không biết giải nghĩa ra sao mặc dù trong sách giáo khoa cũng có
giải
nghĩa một số từ khó liên quan đến thành ngữ, tục ngữ đó.
Ví dụ: Trong bài Mở rộng vốn từ chủ đề "Nam hay nữ", tuần 30, bài 3 có
yêu cầu sau:
Em hiểu mỗi thành ngữ, tục ngữ dưới đây thế nào? Em tán thành câu a

trong giờ học, rồi không quên củng cố, nhận xét, chốt ý, khắc sâu kiến thức để
học sinh ghi nhớ, Song để học sinh luôn ghi nhớ, hiểu được đúng và nhớ
được nghĩa của từ Hán - Việt không phải là việc dễ dàng, phần lớn học sinh coi
đây như là việc học thêm một ngoại ngữ khác. Hơn nữa, sự nhận thức của các
em lại không đồng đều, nên dẫn đến kết quả tiếp thu của các em khác nhau.
Chính vì điều đó, khi làm bài tập, tỉ lệ học sinh làm bài tập đúng không cao,
một số em đã nhận thức chậm thường bị điểm yếu kém.
Thời gian giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 5 theo quy định chỉ
có 2 tiết/tuần; trong khi đó, việc giải nghĩa từ giữ vai trò mở ra cánh cửa tri
thức cho học sinh biết đó là "cái gì" trước khi có thể làm được các dạng bài tập
có liên quan đến những từ ngữ đó. Thực tế cho thấy do không có đủ thời gian
nên bản thân giáo viên không thể giúp tất cả học sinh trong lớp hiểu và giải
nghĩa đúng thêm các từ Hán - Việt khác có liên quan dẫn đến tình trạng học
sinh làm bài kết quả không cao.
* Về phía học sinh:
Thứ nhất: Do học sinh không nắm được nghĩa của từ nên khi xếp từ theo
nhóm thường bị sai, không hiểu được ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ, khi
viết đoạn văn ngắn theo chủ đề thường dùng từ không chính xác.
Thứ hai: Do nhận thức của các em học sinh không đồng đều nên dẫn đến
tình trạng một số học sinh yếu cho dù cùng được tham gia các hoạt động lĩnh
hội kiến thức giống như các bạn nhưng vẫn làm bài sai.
Thứ ba: Do vốn hiểu biết về cuộc sống của các em còn hạn chế, sự giao
lưu không nhiều, gần như không có học sinh nào có Từ điển tiếng Việt, Từ điển
Hán - Việt hay sách tham khảo riêng, bởi vậy ngoài việc tiếp thu bài trong sách
giáo khoa, vốn từ của các em rất hạn hẹp. Hơn nữa, bản thân cha mẹ học sinh
cũng ít hiểu biết về vốn từ Hán - Việt để có thể quan tâm, giúp đỡ các em, thậm
8
chí còn hiểu sai trầm trọng. Vì vậy, việc giúp học sinh hiểu đúng và giải nghĩa
đúng từ Hán - Việt là một vấn đề vô cùng cần thiết.
Thứ tư: Từ Hán - Việt là từ gốc Hán, được đọc theo âm tiếng Việt, nghĩa

liệu, thiếu thời gian hay thiếu kiến thức, thiếu sự hiểu biết về từ Hán - Việt mà
khó khăn ở đây chính là phương pháp dạy học của giáo viên và cách học của
học sinh khiến các em không hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt khi làm bài
tập.
Vì vậy, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về phương pháp dạy của bản thân và
của đồng nghiệp hiện đang làm là: Làm thế nào để học sinh có thể hiểu và giải
nghĩa đúng từ Hán - Việt? Liệu cứ dạy như mình và các đồng nghiệp hiện nay
có được không? Nêu được thì tạo sao học sinh vẫn không hiểu và không giải
nghĩa đúng? Hơn nữa các em lại không nhớ lâu? Phương pháp mà mình và
đồng nghiệp đang thực hiện có hiệu quả không?
Tôi quyết định lập kế hoạch khảo sát thử để thấy khả năng ghi nhớ, nắm
kiến thức của các em để từ đó suy nghĩ tìm biện pháp khắc phục.
Để có được kết quả đánh giá ban đầu của học sinh trong phân môn
Luyện từ và câu, tôi đã khảo sát ba lần với ba dạng bài tập khác nhau. Tôi phát
hiện các em thường mắc những lỗi sau:
- Xếp từ theo nhóm chưa đúng, một số em còn không biết giải nghĩa từ,
một số em khác hiểu nghĩa của từ nhưng diễn đạt cũng không đầy đủ.
- Với các thành ngữ, tục ngữ các em còn hiểu rất mơ hồ, một số em
không tìm được các thành ngữ, tục ngữ theo chủ đề; đa số các em giải nghĩa về
thành ngữ, tục ngữ đều lúng túng, không biết diễn đạt ra sao.
Ví dụ: Trong bài tập 2 của bài kiểm tra, đa số các em chỉ tìm được một
thành ngữ "gan vàng dạ sắt", thành ngữ còn lại "vào sinh ra tử" rất ít em tìm
được. Khi giáo viên hỏi về ý nghĩa của các thành ngữ, các em hiểu còn chưa
chính xác.
10
- Khi tìm các từ đồng nghĩa, trái nghĩa với những từ đã cho, các em
thường tìm những từ thuần Việt vì đó là những từ dễ hiểu ngay, còn những từ
Hán - Việt thì chỉ những học sinh khá - giỏi mới tìm ra.
Ví dụ: Khi tìm từ cùng nghĩa với từ "dũng cảm", học sinh thường tìm
được các từ thuần Việt: không sợ, dám làm, gan dạ nhưng ít thấy học sinh tìm

và trái nghĩa.
d. Hướng dẫn học sinh sử dụng từ phù hợp để đặt câu, viết đoạn.
e. Giúp học sinh biết cách sử dụng từ Hán Việt đúng giá trị phong cách
của từ, phù hợp với văn cảnh.
Những giải pháp trên mặc dù học sinh được cung cấp nhiều vốn từ Hán -
Việt, cũng được thực hành đặt câu, viết văn nhiều, cũng đã có nhiều em hiểu và
làm bài tập đúng, viết văn hay; nhưng xem ra các em đó lại ít nhớ lâu và ít giải
nghĩa đúng được, các em hầu như chỉ nhớ một cách máy móc theo kiểu "người
ta dùng thế thì mình cũng dùng thế" sẽ là đúng và thực tế thật nguy hiểm ở chỗ
nếu "mọi người (người lớn) không hiểu mà dùng sai thì các cũng sẽ dùng sai":
cứ thấy cửa hàng to thì gọi là "đại lý"; hay "quần chúng" lại chỉ một cá nhân;
hoặc "bàng quan" là xem bề ngoài (ý chỉ sự hời hợt, thiếu trách nhiệm), lại
được nhiều người lớn không hiểu nên khi nói, đọc, viết là "bàng quang" - từ chỉ
một bộ phận bên trong cơ thể người, bộ phận có nhiệm vụ chứa nước tiểu,
Khắc phục hạn chế của đề tài trước, đề tài này, tôi đề cập đến một biện
pháp thực tế hơn, đó là "hiểu" và "giải nghĩa đúng" từ Hán - Việt.
* Đưa ra kết quả đánh giá
Để có thể tìm ra biện pháp thích hợp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa
đúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu, ngay từ đầu
năm học, tôi đã cho học sinh làm bài kiểm tra để có được số liệu về chất lượng
học tập của từng học sinh với cả hai lớp 5 (theo dạng bài tập đã nêu trên). Bài
kiểm tra này đơn giản tôi cũng chỉ chọn lại một số bài tiêu biểu mà các em đã
được học ở các bài mở rộng vốn từ theo chủ đề Tài năng, Dũng cảm, Du lịch -
Thám hiểm trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4:
12
Đề bài:
Câu 1: Phân loại các từ sau đây theo nghĩa của tiếng "tài": tài giỏi, tài
nguyên, tài trợ, tài ba, tài đức, tài sản, tài năng, tài hoa.
a. Tài có nghĩa là "có khả năng hơn người bình thường":
b. Tài có nghĩa là "tiền của":

khảo sách để nắm được nghĩa của các từ khó. Khi các em đã hiểu được nghĩa
của từ trong bài học, nắm được ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ thì hoạt
động lĩnh hội kiến thức mới diễn ra rất thuận lợi.
Tôi còn khuyến khích các em đến thư viện nhà trường mượn sách tham
khảo đọc để có thể hiểu và giải nghĩa chính xác các từ Hán - Việt và các thành
ngữ, tục ngữ.
3.2: Rèn trực tiếp trong những giờ học Luyện từ và câu:
Ngay từ đầu năm học, tôi đã định hướng và cùng học sinh của mình tìm
ra những vướng mắc khi học phân môn Luyện từ và câu, đặc biệt là khi làm bài
tập trong các bài Mở rộng vốn từ, giúp các em hiểu thế nào là từ Hán - Việt và
thế nào là từ thuần Việt. Với học sinh lớp 5, khái niệm về từ Hán - Việt còn rất
xa lạ; bởi vậy, giáo viên cần cung cấp khái niệm cho các em một cách đơn giản
qua những câu chuyện lịch sử về "Nguồn gốc của từ Hán - Việt". Tư liệu này,
người giáo viên có thể tham khảo ở sách của thư viện nhà trường hoặc vào
những website trong mạng internet.
Để giúp học sinh làm tốt tất cả các dạng bài tập trong các tiết học "Mở
rộng vốn từ", trước hết các em phải hiểu được nghĩa của từ. Với những từ thuần
14
Việt, nghĩa rất rõ ràng nhưng với những từ Hán - Việt thì không phải như vậy,
nó chẳng khác gì việc các em phải học thêm một môn ngoại ngữ mới, có điều
thứ ngoại ngữ ấy vẫn viết được bằng tiếng Việt mà thôi. Thực tế trong nhiều
trường hợp đặc biệt, đôi khi giáo viên phải dùng từ Hán - Việt khác để minh
hoạ, giải thích.
Ví dụ: Khi học sinh hiểu "đại lý" là "cửa hàng to", giáo viên cần tìm vài
từ Hán - Việt khác: "đại diện", "đại từ", "đại biểu", để giải thích, minh hoạ.
Giáo viên cần chú ý khai thác vốn hiểu biết của các em để đặt những câu hỏi
nhằm gợi ý, dẫn đường cho các em hiểu được "đại" nghĩa là "thay", vì thế: "đại
diện" nghĩa là "thay mặt", "đại từ" nghĩa là "từ thay thế cho từ khác", "đại biểu"
nghĩa là "thay cho người khác", "đại lý" nghĩa là "cửa hàng bán thay", Đồng
thời, cũng cần khuyến khích học sinh Tìm thêm các từ ngữ có chứa tiếng "đại"

vững nghĩa của từ bởi đa phần từ ngữ trong thành ngữ, tục ngữ đều là từ Hán -
Việt.
* Với dạng bài tập tìm từ đồng âm, trái nghĩa, tôi khuyến khích các em
tìm hết các từ theo đúng yêu cầu bài, cho điểm tối đa đối với những học sinh
tìm được nhiều từ chính xác.
* Với dạng bài tập viết đoạn văn ngắn, tôi cũng yêu cầu học sinh đọc kỹ
yêu cầu bài, hướng dẫn học sinh viết đúng theo chủ đề, chọn và dùng từ cho
chính xác, câu văn cần có sự sáng tạo, gắn với thực tế, cách trình bày bài văn
theo đúng cấu trúc đã được học. Với dạng bài tập này, tôi đặc biệt lưu ý học
sinh trong những văn cảnh cụ thể. Có những trường hợp các em cần dùng từ
Hán - Việt mà không nên dùng từ thuần Việt để câu văn không những diễn đạt
được đầy đủ ý nghĩa mà còn thể hiện được sự trang trọng:
Ví dụ: Hôm này là ngày quốc tế phụ nữ (từ "đàn bà" không thể thay thế
cho từ "phụ nữ".)
Sau khi học sinh viết đoạn văn theo chủ đề, tôi tiến hành chấm bài và
nhận xét ngay trước lớp, chỉ rõ những lỗi sai của học sinh và yêu cầu các em
chữa lỗi vào vở, sau đó đọc lại cho thầy giáo và các bạn cùng nghe, nhận xét,
góp ý. Cuối giờ, tôi thường chọn những đoạn văn hay của học sinh khá-giỏi
đọc cho các em nghe để học sinh trung bình, yếu có thể học tập.
16
3.3: Tổ chức các trò chơi học tập
Nhằm gây hứng thú cho học sinh trong các giờ học được diễn ra thường
xuyên và được áp dụng linh hoạt. Đôi khi trò chơi chính là nội dung các bài
tập, chẳng hạn như thi tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, thi xếp từ theo nhóm
nhanh và đúng,
Cần chú ý rằng, tuy các em đã học lớp 5, nhưng việc động viên, khích lệ
bằng điểm số, lời khen vẫn là rất quan trọng, cho nên thầy cô cần để ý nhiều
đến việc động viên, đánh giá, cho điểm, tặng quà (nếu có điều kiện). Tuy đã
lớn, là lớp anh chị, nhưng các anh chị này vẫn thích ganh đua, vẫn thích chơi
hơn học. Vì vậy, dạy học nhằm vào sự ganh đua, vào trò chơi của các em luôn

- Sau mỗi bài tập, giáo viên đều phải rút kinh nghiệm cho từng học sinh,
giúp học sinh tự nhận ra lỗi sai và sửa ngay vào vở bài tập.
- Đối với các em học sinh yếu, nếu có thời gian, giáo viên cần phụ đạo
thêm kiến thức cho các em, luôn có mặt để động viên, khen thưởng kịp thời,
giúp đỡ các em không có điều kiện mua sách, tài liệu tham khảo bằng cách cho
các em mượn sách để học, hoặc khuyến khích các em trong lớp có tài liệu cho
mượn,
18
4. Kết quả thu được sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Sau một thời gian áp dụng thử nghiệm tại lớp 5B, tôi tiến hành khảo sát
chất lượng môn Tiếng Việt với các dạng bài tập khác nhau ở cả hai lớp để so
sánh, đối chứng. Đề bài của phân môn Luyện từ và câu (phần mở rộng vốn từ)
như sau:
Đề bài:
Câu 1: Phân loại các từ sau đây theo nghĩa của tiếng "công": công dân,
công nhân, công bằng, công cộng, công lý, công nghiệp, công chúng, công
minh.
a. Công có nghĩa là "của nhà nước, của chung".
b. Công có nghĩa là "không thiên vị".
c. Công có nghĩa là "thợ, khéo tay".
Câu 2: Tìm từ đồng nghĩa với từ "công dân".
Câu 3: Tìm những thành ngữ nói về quan hệ gia đình.
Câu 4: Viết một đoạn văn ngắn về đề tài: Bảo vệ môi trường.
Câu 5: Tìm những câu tục ngữ có ý khuyên chúng ta cần phải biết nhớ
ơn người khác.
Kết quả học sinh đạt được như sau:
Lớp 5B:
Lớp 5A:
19
Sau khi chấm bài học sinh, tôi nhận thấy các em học sinh lớp 5B đều đã

học tiếp theo trong và ngoài nhà trường để có thêm minh chứng khẳng định
tính khả thi của đề tài.
6. Hiệu quả của sáng kiến
- Khắc phục được những nhược điểm mà các giải pháp trước đã đề ra, đó
là giáo viên đã có thêm những biện pháp mới nhằm giúp học sinh hiểu và giải
nghĩa đúng từ Hán - Việt.
- Đồng thời, khắc phục được tình trạng học sinh không hiểu nghĩa từ Hán
- Việt và giải nghĩa sai từ Hán - Việt.
21
- Một số biện pháp nêu ra trong sáng kiến chính là những phương pháp
dạy học tích cực, hướng tới người học, tạo được sự gần gũi, thân thiện giữa
thầy và trò (mục 3.4:)
PHẦN 3: KẾT LUẬN
1. Khẳng định kết quả mà sáng kiến này mang lại.
Áp dụng "Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ
Hán - Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5" là vấn đề
rất cần thiết cho tất cả các khối lớp chứ không riêng gì khối lớp 5. Trong các
phân môn của môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh bước
đầu rèn kỹ năng viết văn để có thể từ đó học tốt phân môn Tập làm văn - phân
môn đỉnh cao của việc học tập tiếng Việt ở tiểu học. Khi viết kinh nghiệm này,
tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào công tác giảng dạy và giáo dục
học sinh.
Kinh nghiệm được hoàn thành với sự ủng hộ, giúp đỡ của các đồng chí
đồng nghiệp và các em học sinh lớp 5B trường tôi. Tôi cũng có tham khảo ý
kiến của nhiều đồng chí đồng nghiệp khác trong huyện, trong tỉnh để sáng kiến
này được được hoàn thiện. Vì vậy, sáng kiến kinh nghiệm này chắc chắn sẽ là
tài liệu học tập hữu ích cho các đồng chí giáo viên.
Tuy nhiên, sáng kiến này chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ, một vài biện
pháp nhỏ của riêng cá nhân tôi nên chắc sẽ không tránh khỏi hạn chế. Tôi rất
mong sẽ tiếp tục được đón nhận sự góp ý của đông đảo các đồng chí bạn bè

thường xuyên có biện pháp giúp các em hiểu và giải nghĩa từ Hán - Việt. Có
23
như vậy mới tạo điều kiên thuận lợi giúp các em làm tốt tất cả các bài tập của
môn Tiếng Việt và dùng từ, viết câu chính xác trong các môn học khác.
- Và không còn cách nào hơn đó là mỗi đồng chí giáo viên hãy cùng
đồng hành với học sinh, đó là các đồng chí hãy tự học, tự tập giải nghĩa thêm
các từ Hán - Việt xem sao? Nếu không ngại khó, hãy tự học thêm Hán ngữ, vì
nó sẽ giúp ích rất nhiều cho các đồng chí.
Xin chân thành cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Trọng Canh, Chuyên đề từ Hán- Việt, Đại học Vinh, 2007.
2. Hoàng Trọng Canh, Thông tin phản hồi cho các câu hỏi và bài tập
chuyên đề từ Hán- Việt, Đại học Vinh, 2007.
3. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 5,
Nxb Giáo dục, 2005.
4. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Sách giáo viên Tiếng Việt 5, tập 1+2,
Nxb Giáo dục, 2005
5. Đặng Mạnh Thường, Luyện từ và câu, Nxb Giáo dục, 2005.
6. Tiếng Việt 4, 5, tập 1,2 (Sgk), Nxb Giáo dục, 2005.
7. Từ điển tiếng Việt, Từ điển Hán - Việt các loại.
8. Nhiều tác giả - các website - mạng internet - từ điển Hán - Việt trực
tuyến.
9. Sáng kiến kinh nghiệm của bản thân: Dạy từ Hán Việt cho Học sinh tiểu
học qua phân môn Luyện từ và câu năm 2011-2012.
10. Các chuyên đề giải nghĩa từ Hán - Việt khác.
24
MỤC LỤC
Nội dung đề mục Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

17
17
19
21
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status