một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong
phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
* Về nội dung:
- Sáng kiến đề cập tới thực trạng việc hiểu và giải nghĩa từ Hán - Việt của học sinh lớp 5
còn hạn chế.
- Sáng kiến đưa ra một số biện pháp giảng dạy có thể giúp học sinh hiểu và giải nghĩa
đúng từ Hán - Việt.
* Về mục đích:
- Giúp giáo viên tìm hiểu thêm Một số biện pháp giảng dạy giúp học sinh hiểu và giải
nghĩa đúng từ Hán - Việt.
- Giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong phân môn
Luyện từ và câu lớp 5.
* Về ý nghĩa:
- Sáng kiến sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng chí giáo viên trực tiếp giảng dạy
môn Tiếng Việt lớp 5, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu. Các đồng chí giáo viên lớp 5 sẽ có
thêm những biện pháp mới nhằm giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt.
- Khi áp dụng sáng kiến này, học sinh sẽ được nâng cao kiến thức nhiều hơn trong việc
hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt.
PHẦN 2: NỘI DUNG
---***--1. Cơ sở lý luận:
Như chúng ta đã biết, đất nước Việt Nam đã từng có một thời gian rất dài bị giặc phong
kiến phương Bắc đô hộ. Mặc dù như vậy, người dân Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói và nhiều
phong tục tập quán riêng của mình. Tuy vậy, vẫn có sự ảnh hưởng nhất định về văn hoá, thể chế
chính trị,... của Trung Quốc đối với người Việt kể cả trong tư tưởng triết học và ngôn ngữ. Theo
truyền thuyết cũng như các nguồn sử liệu của cả Trung Quốc và Việt Nam ta thì ngày từ thời
Hùng Vương, người Việt cổ đã có chữ viết riêng "chữ Khoa Đẩu", nhưng đã bị người Hán huỷ
khi bắt đầu cuộc sống của mình, theo lời dạy của ông bà, cha mẹ và thầy cô giáo, trẻ em cũng đã
được làm quen và dùng từ Hán - Việt trong học tập, trong cuộc sống. Muốn trẻ có thể dùng từ
Hán - Việt trong giao tiếp và viết văn hay đọc hiểu được yêu cầu, nội dung các môn học khác,...
các em phải hiểu đúng nghĩa của các từ ngữ Hán - Việt đó. Đây là một vấn đề không hề đơn giản.
Đối với các em học sinh lớp 1, những từ Hán - Việt được thầy cô cung cấp cho các em thường là
những từ có trong bài tập đọc được giải nghĩa ở phần chú thích cuối bài. Đến lớp 2, lớp 3, các em
đã được làm quen với phân môn Luyện từ và câu nhưng đa số vốn từ của các em được cung cấp
thêm thường là những từ thuần Việt, còn từ Hán - Việt ở hai khối lớp này thường vẫn là những từ
xuất hiện thêm ở những bài tập đọc hoặc ở những đoạn văn mẫu trong phân môn Chính tả, Tập
làm văn. Đến lớp 4, lớp 5, vốn từ của các em đã phong phú hơn. Ngoài việc cung cấp thêm vốn
từ ngữ cho học sinh, phân môn Luyện từ và câu có thêm dạng bài tập yêu cầu các em phải xếp từ
theo nhóm, những nhóm này phần lớn đều là từ Hán - Việt. Vậy làm thế nào để có thể xếp từ
theo nhóm thích hợp?Đó chính là câu hỏi cần phải đặt ra khi giáo viên giảng dạy phân môn này.
Ngoài việc xếp từ theo nhóm, các em học sinh còn phải giải nghĩa các thành ngữ, tục ngữ có rất
nhiều từ Hán - Việt. Các bài tập cuối cùng của bài thường là viết một đoạn văn ngắn theo chủ đề
vừa học. Tất cả các giáo viên đều hiểu nếu học sinh nắm được nghĩa của từ thì sẽ làm tốt các
dạng bài tập nêu trên, nhưng làm thế nào để giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của từ Hán - Việt mà
không bị nhầm lẫn? Đây chính là vấn đề mà tôi cũng như nhiều đồng nghiệp của tôi đang trăn
trở khi giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4+5.
2. Thực trạng của việc nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, tôi thường được phân công giảng dạy lớp 4 hoặc lớp 5, mỗi lần dạy
đến phần bài "Mở rộng vốn từ" trong phân môn Luyện từ và câu là tôi lại gặp phải không ít khó
khăn. Khó khăn ấy không gì khác đều do học sinh hiểu chưa đúng nghĩa của từ (nhất là từ Hán Việt) nên dẫn đến khi tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, xếp từ theo nhóm bị sai. Khi giáo viên yêu
cầu học sinh giải nghĩa từ, học sinh lúng túng không biết giải nghĩa ra sao, những học sinh hiểu
thì cũng diễn đạt còn chưa chính xác.
Ví dụ: Trong bài Mở rộng vốn từ "Hữu nghị - Hợp tác" có dạng bài tập xếp từ theo hai
nhóm:
- Nhóm 1: Hữu (có nghĩa là bạn bè), - Nhóm 2: Hữu (có nghĩa là có).
Theo yêu cầu của bài tập này, học sinh phải giải nghĩa đượcý nghĩa của câu tục ngữ nêu
trên (phần chú thích đã giải nghĩa giúp các em từ "nghì": nghĩa, tình nghĩa; "đảm": biết gánh
vác, lo toan mọi việc). Vậy là học sinh phải vận dụng vốn từ ngữ mà mình đã được học để giải
nghĩa đúng ý nghĩa của câu tục ngữ nêu trên và bày tỏ ý kiến của mình, giải thích vì sao mình
chọn thành ngữ, tục ngữ đó. Với vốn từ ngữ đã được học từ lớp 1 đến lớp 5, học sinh rất khó giải
thích được những thành ngữ, tục ngữ này, rất nhiều em phải cần đến sự hỗ trợ của giáo viên.
Ở dạng bài tập viết đoạn văn ngắn theo chủ đề vừa học, thường thì học sinh đã nắm được
cách trình bày một đoạn văn theo chủ đề nhưng do chưa nắm rõ nghĩa của từ nên một số em
dùng từ không chính xác, câu văn bị hiểu sai nghĩa và như vậy bài viết thường bị điểm thấp.
Một vấn đề thực tế khó khăn nữa là học sinh còn không hiểu thêm được nghĩa các từ ngữ
Hán - Việt có trong các môn học khác mà các em đang học hằng ngày: nhiệt đới, ôn đới, hàn
đới,... (địa lý); tiền Lê, hậu Lê,... (lịch sử); bảo quản, sử dụng,... (khoa học),...
Từ thực trạng đó, tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và tìm ra những nguyên nhân sau:
* Về phía giáo viên:
Khi giảng dạy, tôi và đồng nghiệp trong trường thường cũng đã khai thác hết những kiến
thức cơ bản ở sách giáo khoa, đã có sự quan tâm tới tất cả các đối tượng học sinh, đã phát huy
tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học, rồi không quên củng cố, nhận xét,
chốt ý, khắc sâu kiến thức để học sinh ghi nhớ,... Song để học sinh luôn ghi nhớ, hiểu được đúng
và nhớ được nghĩa của từ Hán - Việt không phải là việc dễ dàng, phần lớn học sinh coi đây như
là việc học thêm một ngoại ngữ khác. Hơn nữa, sự nhận thức của các em lại không đồng đều, nên
dẫn đến kết quả tiếp thu của các em khác nhau. Chính vì điều đó, khi làm bài tập, tỉ lệ học sinh
làm bài tập đúng không cao, một số em đã nhận thức chậm thường bị điểm yếu kém.
Thời gian giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 5 theo quy định chỉ có 2 tiết/tuần;
trong khi đó, việc giải nghĩa từ giữ vai trò mở ra cánh cửa tri thức cho học sinh biết đó là "cái gì"
trước khi có thể làm được các dạng bài tập có liên quan đến những từ ngữ đó. Thực tế cho thấy
do không có đủ thời gian nên bản thân giáo viên không thể giúp tất cả học sinh trong lớp hiểu và
giải nghĩa đúng thêm các từ Hán - Việt khác có liên quan dẫn đến tình trạng học sinh làm bài kết
quả không cao.
* Về phía học sinh:
Thứ nhất:Do học sinh không nắm được nghĩa của từ nên khi xếp từ theo nhóm thường bị
anh chị em giáo viên. Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã chỉ đạo các tổ khuyến khích tổ viên
đăng ký thi đua, đăng ký tên SKKN để tìm tỏi, nghiên cứu.
- Bản thân cá nhân tôi là người rất yêu thích học Hán ngữ, luôn luôn muốn tìm tòi, nghiên
cứu cách dạy, cách học để giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt.
- Bản thân đã tự mua cho mình những cuốn từ điển Hán ngữ, từ điển từ Hán - Việt, từ điển
tiếng Việt, sách tham khảo các loại,... nối mạng internet để tiện tìm tòi, tra cứu, nghiên cứu khi
cần thiết.
2.1.2: Khó khăn
Những khó khăn mà tôi gặp phải không phải là những vấn đề: thiếu tài liệu, thiếu thời gian
hay thiếu kiến thức, thiếu sự hiểu biết về từ Hán - Việt mà khó khăn ở đây chính là phương pháp
dạy học của giáo viên và cách học của học sinh khiến các em không hiểu và giải nghĩa đúng từ
Hán - Việt khi làm bài tập.
Vì vậy, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về phương pháp dạy của bản thân và của đồng nghiệp
hiện đang làm là: Làm thế nào để học sinh có thể hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt? Liệu cứ
dạy như mình và các đồng nghiệp hiện nay có được không? Nêu được thì tạo sao học sinh vẫn
không hiểu và không giải nghĩa đúng? Hơn nữa các em lại không nhớ lâu? Phương pháp mà
mình và đồng nghiệp đang thực hiện có hiệu quả không? ...
Tôi quyết định lập kế hoạch khảo sát thử để thấy khả năng ghi nhớ, nắm kiến thức của các
em để từ đó suy nghĩ tìm biện pháp khắc phục.
Để có được kết quả đánh giá ban đầu của học sinh trong phân môn Luyện từ và câu, tôi đã
khảo sát ba lần với ba dạng bài tập khác nhau. Tôi phát hiện các em thường mắc những lỗi sau:
- Xếp từ theo nhóm chưa đúng, một số em còn không biết giải nghĩa từ, một số em khác
hiểu nghĩa của từ nhưng diễn đạt cũng không đầy đủ.
- Với các thành ngữ, tục ngữ các em còn hiểu rất mơ hồ, một số em không tìm được các
thành ngữ, tục ngữ theo chủ đề; đa số các em giải nghĩa về thành ngữ, tục ngữ đều lúng túng,
không biết diễn đạt ra sao.
Ví dụ: Trong bài tập 2 của bài kiểm tra, đa số các em chỉ tìm được một thành ngữ "gan
vàng dạ sắt", thành ngữ còn lại "vào sinh ra tử" rất ít em tìm được. Khi giáo viên hỏi về ý nghĩa
b. Tạo lập các từ Hán Việt dựa vào đặc điểm cấu tạo và nghĩa của các yếu tố Hán Việt.
c. Khắc sâu nghĩa của từ đã được học bằng cách tạo ra các nhóm đồng nghĩa và trái
nghĩa.
d. Hướng dẫn học sinh sử dụng từ phù hợp để đặt câu, viết đoạn.
e. Giúp học sinh biết cách sử dụng từ Hán Việt đúng giá trị phong cách của từ, phù hợp
với văn cảnh.
Những giải pháp trên mặc dù học sinh được cung cấp nhiều vốn từ Hán - Việt, cũng được
thực hành đặt câu, viết văn nhiều, cũng đã có nhiều em hiểu và làm bài tập đúng, viết văn hay;
nhưng xem ra các em đó lại ít nhớ lâu và ít giải nghĩa đúng được, các em hầu như chỉ nhớ một
cách máy móc theo kiểu "người ta dùng thế thì mình cũng dùng thế" sẽ là đúng và thực tế thật
nguy hiểm ở chỗ nếu "mọi người (người lớn) không hiểu mà dùng sai thì các cũng sẽ dùng sai":
cứ thấy cửa hàng to thì gọi là "đại lý"; hay "quần chúng" lại chỉ một cá nhân; hoặc "bàng quan"
là xem bề ngoài (ý chỉ sự hời hợt, thiếu trách nhiệm), lại được nhiều người lớn không hiểu nên
khi nói, đọc, viết là "bàng quang" - từ chỉ một bộ phận bên trong cơ thể người, bộ phận có nhiệm
vụ chứa nước tiểu,...
Khắc phục hạn chế của đề tài trước, đề tài này, tôi đề cập đến một biện pháp thực tế hơn,
đó là "hiểu" và "giải nghĩa đúng" từ Hán - Việt.
* Đưa ra kết quả đánh giá
Để có thể tìm ra biện pháp thích hợp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt
để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu, ngay từ đầu năm học, tôi đã cho học sinh làm
bài kiểm tra để có được số liệu về chất lượng học tập của từng học sinh với cả hai lớp 5 (theo
dạng bài tập đã nêu trên). Bài kiểm tra này đơn giản tôi cũng chỉ chọn lại một số bài tiêu biểu mà
các em đã được học ở các bài mở rộng vốn từ theo chủ đề Tài năng, Dũng cảm, Du lịch - Thám
hiểm trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4:
Đề bài:
Câu 1:Phân loại các từ sau đây theo nghĩa của tiếng "tài": tài giỏi, tài nguyên, tài trợ, tài
ba, tài đức, tài sản, tài năng, tài hoa.
a. Tài có nghĩa là "có khả năng hơn người bình thường":........................
nắm được ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ thì hoạt động lĩnh hội kiến thức mới diễn ra rất
thuận lợi.
Tôi còn khuyến khích các em đến thư viện nhà trường mượn sách tham khảo đọc để có thể
hiểu và giải nghĩa chính xác các từ Hán - Việt và các thành ngữ, tục ngữ.
3.2: Rèn trực tiếp trong những giờ học Luyện từ và câu:
Ngay từ đầu năm học, tôi đã định hướng và cùng học sinh của mình tìm ra những vướng
mắc khi học phân môn Luyện từ và câu, đặc biệt là khi làm bài tập trong các bài Mở rộng vốn từ,
giúp các em hiểu thế nào là từ Hán - Việt và thế nào là từ thuần Việt. Với học sinh lớp 5, khái
niệm về từ Hán - Việt còn rất xa lạ; bởi vậy, giáo viên cần cung cấp khái niệm cho các em một
cách đơn giản qua những câu chuyện lịch sử về "Nguồn gốc của từ Hán - Việt". Tư liệu này,
người giáo viên có thể tham khảo ở sách của thư viện nhà trường hoặc vào những website trong
mạng internet.
Để giúp học sinh làm tốt tất cả các dạng bài tập trong các tiết học "Mở rộng vốn từ", trước
hết các em phải hiểu được nghĩa của từ. Với những từ thuần Việt, nghĩa rất rõ ràng nhưng với
những từ Hán - Việt thì không phải như vậy, nó chẳng khác gì việc các em phải học thêm một
môn ngoại ngữ mới, có điều thứ ngoại ngữ ấy vẫn viết được bằng tiếng Việt mà thôi. Thực tế
trong nhiều trường hợp đặc biệt, đôi khi giáo viên phải dùng từ Hán - Việt khác để minh hoạ, giải
thích.
Ví dụ: Khi học sinh hiểu "đại lý" là "cửa hàng to", giáo viên cần tìm vài từ Hán - Việt
khác: "đại diện", "đại từ", "đại biểu",... để giải thích, minh hoạ. Giáo viên cần chú ý khai thác
vốn hiểu biết của các em để đặt những câu hỏi nhằm gợi ý, dẫn đường cho các em hiểu được
"đại" nghĩa là "thay", vì thế: "đại diện" nghĩa là "thay mặt", "đại từ" nghĩa là "từ thay thế cho từ
khác", "đại biểu" nghĩa là "thay cho người khác", "đại lý" nghĩa là "cửa hàng bán thay",... Đồng
thời, cũng cần khuyến khích học sinh Tìm thêm các từ ngữ có chứa tiếng "đại" với nghĩa là
"thay",... và như vậy nếu các em tìm được đúng yêu cầu của câu hỏi, tức các em đã hiểu được
nghĩa từ rồi đó.
* Với dạng bài tập xếp từ theo nhóm, tôi yêu cầu học sinh phải nắm vững nghĩa của từ
trước khi làm bài tập. Với những em có nhận thức chậm, tôi dành cho các em nhiều thời gian hơn
so với các em khác trong tiết học, các em cần được hướng dẫn cụ thể từng bài tập. Còn với các
học sinh khác, tôi thường tự tạo cho các em có cơ hội để phát huy tính tích cực của mình trong
đầy đủ ý nghĩa mà còn thể hiện được sự trang trọng:
Ví dụ: Hôm này là ngày quốc tế phụ nữ (từ "đàn bà" không thể thay thế cho từ "phụ nữ".)
Sau khi học sinh viết đoạn văn theo chủ đề, tôi tiến hành chấm bài và nhận xét ngay trước
lớp, chỉ rõ những lỗi sai của học sinh và yêu cầu các em chữa lỗi vào vở, sau đó đọc lại cho thầy
giáo và các bạn cùng nghe, nhận xét, góp ý. Cuối giờ, tôi thường chọn những đoạn văn hay của
học sinh khá-giỏi đọc cho các em nghe để học sinh trung bình, yếu có thể học tập.
3.3: Tổ chức các trò chơi học tập
Nhằm gây hứng thú cho học sinh trong các giờ học được diễn ra thường xuyên và được áp
dụng linh hoạt. Đôi khi trò chơi chính là nội dung các bài tập, chẳng hạn như thi tìm từ đồng
nghĩa, trái nghĩa, thi xếp từ theo nhóm nhanh và đúng,...
Cần chú ý rằng, tuy các em đã học lớp 5, nhưng việc động viên, khích lệ bằng điểm số, lời
khen vẫn là rất quan trọng, cho nên thầy cô cần để ý nhiều đến việc động viên, đánh giá, cho
điểm, tặng quà (nếu có điều kiện). Tuy đã lớn, là lớp anh chị, nhưng các anh chị này vẫn thích
ganh đua, vẫn thích chơi hơn học. Vì vậy, dạy học nhằm vào sự ganh đua, vào trò chơi của các
em luôn là một việc làm hiệu quả.
3.4: Kể chuyện vui ngôn ngữ
- Tôi thường dành thời gian 5 phút cuối mỗi giờ học để khuyến khích HS sưu tầm, nghe
đọc hoặc kể những câu chuyện vui về việc dùng sai chữ nghĩa trong cuộc sống rất gần gũi với
các em (nhất là từ Hán - Việt). Tôi tận dụng thời gian 5 phút này rất có ý nghĩa, đó là giúp các
em khỏi mệt mỏi, chán nản sau mỗi tiết học để đọc hoặc kể cho các em nghe một câu chuyện
ngăn về việc dùng sai chữ nghĩa trong nhân dân: dán ngược chữ "song hỷ" trong đám cưới, treo
biển "Lễ vu quy" ở nhà chú rể, chuyện một chủ cửa hàng bỏ tiền ra mua hàng bán kiếm lời
nhưng vẫn gọi cửa hàng của mình là "đại lý",... Mỗi câu chuyện ngắn về một cách dùng sai của
một chữ thôi nhưng đó lại là phần bài học khắc sâu nhất của các em. Tôi thấy các em đều rất
thích thú, chăm chú nghe quên cả tiếng trống trường đã báo hiệu hết giờ hay chuyển tiết.
Cần chú ý cân nhắc thật kỹ vì tuỳ tiết học mà vận dụng đọc hay kể câu chuyện gì hay về
chữ gì, tránh ngẫu hứng hay tự do kể chuyện có khi sẽ làm các em quên ngay kiến thức vừa học
trong bài trước đó.
Câu 3: Tìm những thành ngữ nói về quan hệ gia đình.
Câu 4: Viết một đoạn văn ngắn về đề tài: Bảo vệ môi trường.
Câu 5: Tìm những câu tục ngữ có ý khuyên chúng ta cần phải biết nhớ ơn người khác.
Kết quả học sinh đạt được như sau:
Lớp 5B: (không hiển thị)
Lớp 5A: (không hiển thị)
Sau khi chấm bài học sinh, tôi nhận thấy các em học sinh lớp 5B đều đã nắm được yêu cầu
cơ bản của bài. Các em học sinh tỏ ra tiến bộ rõ rệt: xếp từ theo nhóm rất chính xác, tìm được
khá đầy đủ các từ đồng nghĩa, một số học sinh khá-giỏi tìm đúng và đủ các từ đồng nghĩa theo
yêu cầu. Với bài tập đòi hỏi các em tìm thành ngữ, các em cũng làm tương đối tốt. Đoạn văn
ngắn về đề tài Bảo vệ môi trường được toàn thể các em nắm vững yêu cầu, rất nhiều em viết
đoạn văn dùng từ hay, có sáng tạo, đoạn văn giàu hình ảnh. Những câu tục ngữ các em tìm được
theo yêu cầu của bài tập 5 cũng rất chính xác. Không còn một em nào dưới điểm trung bình, tỉ lệ
học sinh khá-giỏi của lớp 5B cũng cao hơn tỉ lệ học sinh khá-giỏi của lớp 5A.
Những kết quả thu được sau những tháng ngày vận dụng thử nghiệm "Một số biện pháp
giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và
câu lớp 5" của mình cũng làm tôi cảm thấy say mê hơn với cái nghề dạy học của mình.
Có lẽ lòng yêu nghề, yêu văn hoá Việt, yêu ngôn ngữ Hán - Việt và cả các em học sinh nữa
chính là những động lực giúp tôi luôn cố gắng học hỏi, tích luỹ thêm kinh nghiệm, tích luỹ thêm
kiến thức để có thể trở thành một giáo viên được các em tin yêu, quý trọng.
5. Khả năng áp dụng của SKKN
Qua việc áp dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này có thể thấy rõ ràng rằng:
- Sáng kiến đã được áp dụng thử nghiệm tại lớp 5B của nhà trường. Nội dung giảng dạy là
các bài luyện từ và câu có mở rộng vốn từ Hán - Việt trong môn Tiếng Việt lớp 5. Sau khi áp
dụng và khảo sát nhận thấy, tỉ lệ học sinh khá-giỏi của lớp 5B còn cao hơn tỉ lệ học sinh khá-giỏi
của lớp 5A, đó là minh chứng.
- Sáng kiến kinh nghiệm này nếu được áp dụng vào giảng dạy phân môn Luyện từ và câu
lớp 5, dạng bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề, đặc biệt là từ Hán - Việt sẽ đạt được kết quả cao.
2.1: Với Sở Giáo dục và Phòng Giáo dục:
- Hằng năm, hằng quý, hằng tháng cần cung cấp kịp thời và thường xuyên các sách báo, tài
liệu tham khảo bồi dưỡng cho giáo viên có nội dung phục vụ trực tiếp việc giảng dạy của giáo
viên.
- Hằng năm, cần mở thêm các lớp bồi dưỡng kiến thức riêng giáo viên về từ Hán - Việt
hoặc mở các lớp học chuyên đề về từ Hán - Việt, học Hán ngữ dành riêng cho giáo viên tiểu học.
- Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi cũng đã tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp trong
trường, trong huyện, trong tỉnh, nhưng đa số các đồng chí đều cho rằng đây là một đề tài rất khó,
ít có biện pháp nào để có thể khắc phục được. Bởi vậy, tôi tha thiết đề nghị Sở Giáo dục, Phòng
Giáo dục hãy tổ chức thêm các chuyên đề về "Các biện pháp giúp học sinh tiểu học hiểu và giải
nghĩa đúng từ Hán - Việt để có thể làm tốt các bài tập trong chương trình sách giáo khoa