SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
MÃ SKKN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH
Lĩnh vực/ môn
: Toán
Cấp học
: Tiểu học
Năm học: 2016 – 2017
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
MÃ SKKN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH
Năm học: 2016 – 2017
MỤC LỤC
VI. KẾT QUẢ SAU KHI ĐÃ VẬN DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÊN VÀO
GIẢNG DẠY......................................................................................................25
1. Đề bài..............................................................................................................25
2. Kết quả...........................................................................................................25
PHẦN KẾT LUẬN............................................................................................27
I. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM..........................................27
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.........................................................................27
III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI CỦA SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM............................................................................................................28
IV. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT....................................................................................29
1. Đối với sách giáo khoa...................................................................................29
2. Đối với sách tham khảo.................................................................................29
3. Đối với các cấp quản lý.................................................................................29
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong tình hình hiện nay, giáo dục là một vấn đề được cả xã hội quan
tâm. Đảng và nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Bậc học tiểu học
được coi là nền tảng của các bậc học. Quá trình học ở tiểu học là nền móng
cho học sinh có vốn kiến thức để học tiếp lên các lớp trên. Trong các môn học
mà học sinh học ở bậc tiểu học, môn Toán là bộ môn rất quan trọng. Đây là
môn học chiếm tương đối nhiều thời gian học của học sinh trong suốt quá trình
học phổ thông. Đây cũng là môn học có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn
cuộc sống. Cùng với các môn học khác, môn Toán góp phần hình thành nhân
cách cho học sinh.
Ở bậc tiểu học, môn Toán cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban
đầu một cách tương đối có hệ thống về số tự nhiên, phân số, số thập phân,
Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, không phải bất kì một vấn đề nào trong
sách giáo khoa hay nội dung kiến thức cần cung cấp cho học sinh mà giáo viên
đưa ra học sinh đều hiểu và vận dụng được ngay. Trong quá trình dạy học, bằng
tâm huyết nghề nghiệp và những kinh nghiệm đã đúc rút được cho từng môn học
ở mỗi khối lớp, cho từng mạch kiến thức hay từng bài dạy, người giáo viên có
thể có những biện pháp, những cách thức truyền đạt khác nhau sao cho học sinh
hiểu bài, hiểu sâu, nhớ lâu và biết vận dụng bài học vào thực tế cuộc sống. Đó
mới chính là cái đích cuối cùng của dạy học: học để biết, học để làm, học để tự
khẳng định mình.
Chính vì những lí do trên mà tôi đã chọn cho mình đề tài nghiên cứu về
"Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính" trong
chương trình Toán 3. Việc chọn đề tài này giúp tôi hiểu sâu hơn về nội dung dạy
học giải toán ở lớp 3, các phương pháp và hình thức tổ chức giờ dạy về giải toán
ở lớp 3, các hướng phát triển cho một bài toán về giải toán ở lớp 3. Từ đó, tôi sẽ
vận dụng tốt hơn vào thực tiễn giảng dạy của mình.
7
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lí luận
Các bài tập về giải toán bằng hai phép tính thực chất là các bài tập yêu cầu
học sinh phải nắm được các bài toán đơn đã học và biết vận dụng các bài toán
đơn ấy để giải quyết các bài toán giải bằng hai phép tính từ việc suy luận, thấy
được mối liên hệ giữa hai phép tính đó để làm thành các bước giải cho bài toán
giải bằng hai phép tính. Tuy nhiên, để làm được các bài tập này, các em phải
nắm được mấu chốt của vấn đề là để giải quyết được yêu cầu của bài cần xem
xét điều chưa biết có liên quan thế nào với các dữ kiện đã cho trong bài toán. Từ
dung giải bài toán bằng hai phép tính.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế, học sinh được tiếp xúc với giải toán có lời văn từ khi bắt đầu
hình thành phép cộng, phép trừ trong môn Toán ở lớp 1 qua những bài tập có
yêu cầu viết phép tính thích hợp dựa vào những hình ảnh cụ thể như: bên trái có
1 quả bóng bay, bên phải có hai quả bóng bay hoặc trên cành có 3 con chim đậu
có 1 con chim nữa đang bay đến, … với yêu cầu ngày một tăng dần như cho biết
hình ảnh và viết sẵn các chữ số, yêu cầu học sinh điền thêm dấu phép tính thích
hợp; hoặc cho biết hình ảnh, yêu cầu học sinh tự viết thành phép tính thích hợp.
Khi học sinh lớp 1 đã thành thạo cộng, trừ các số trong phạm vi 10, các em được
học về "Bài toán có lời văn" với các dạng toán về "gộp", "thêm", "bớt" và một
số bài toán giải bằng phép tính trừ mà thực chất đó chính là dạng toán "Tìm số
hạng trong một tổng". Ở lớp 2, cùng với việc củng cố các bài toán có lời văn đã
học ở lớp 1, các em đã được làm quen và được luyện tập rất nhiều về giải các
bài toán đơn thuộc các dạng toán điển hình: Bài toán về nhiều hơn; Bài toán về
ít hơn; So sánh hai số hơn (kém) nhau bao nhiêu đơn vị; Các bài toán về “gộp
các nhóm bằng nhau”; Các bài toán về chia đều; Các bài toán về tìm thành phần
trong phép tính khi được học về tìm số hạng trong một tổng, tìm số bị trừ, tìm số
trừ,… Lên đến lớp 3, bên cạnh việc ôn tập, củng cố các dạng toán đã được học ở
lớp 2, học sinh được học thêm một số dạng toán đơn về gấp một số lên nhiều lần
giảm đi một số lần, tìm một trong các phần bằng nhau của một số, các bài toán
liên quan đến hình học như tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông. Đặc
biệt, các em được học "Bài toán giải bằng hai phép tính" mà mỗi phép tính giải
trong những bài toán này chính là phép tính để giải một trong những bài toán
đơn đã học. Việc học các bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3 có vai trò rất
quan trọng đối với việc học tập môn Toán bởi những bài toán giải bằng hai phép
9
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
III. CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ
1. Hướng dẫn học sinh nắm chắc cách giải các bài toán đơn
10
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
Các bài toán đơn học sinh được học bao gồm các bài toán giải bằng một
trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia. Đây là các bài toán các em được học
trong chương trình môn Toán của các lớp 1, 3 và nửa đầu học kì 1 ở lớp 3.
Ngoài ra, các em còn được học khi giải các bài toán liên quan đến tính chu vi,
diện tích của hình chữ nhật, hình vuông. Các bài toán đơn mà học sinh đã học
đều là các bài toán thuộc các dạng toán điển hình. Có thể chia các bài toán đơn
thành các dạng như sau:
1.1. Các bài toán đơn giải bằng phép tính cộng
Đây là các bài toán thuộc các dạng toán:
- Bài toán về gộp hai số;
- Bài toán về thêm một số đơn vị;
- Bài toán về nhiều hơn;
Bài toán về tìm số bị trừ.
1.2. Các bài toán đơn giải bằng phép tính trừ
Đây là các bài toán thuộc các dạng toán:
- Bài toán về bớt;
- Bài toán về ít hơn;
- Bài toán về so sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị;
- Bài toán về tìm số hạng trong một tổng;
- Bài toán về tìm số trừ.
1.3. Các bài toán đơn giải bằng phép tính nhân
Đây là các bài toán thuộc các dạng toán:
- Bài toán về gộp các nhóm bằng nhau;
- Bài toán về gấp một số lên nhiều lần;
các bài toán này, tôi đã vận dụng những hiểu biết đã có của học sinh để các em
tự tìm ra dạng toán và cách giải bài toán. Chính từ việc gợi ý của giáo viên để
củng cố, khắc sâu dạng toán mà các em luôn có tâm thế phải suy nghĩ phải tìm
tòi, phải đưa ra được cách giải cho bài toán, từ đó các em sẽ nhớ lâu dạng toán
đã học. Việc dạy học bằng phương pháp gợi mở như trên, tôi đã giúp học sinh
được rèn luyện, củng cố kiến thức đồng thời cũng đã giúp các em lấy việc giải
các bài toán có lời văn làm phương tiện để phát triển tư duy.
Còn khi dạy các dạng toán đơn mới ở lớp 3 như dạng toán về gấp một số
lên nhiều lần, tìm một trong các phần bằng nhau của một số, so sánh hai số gấp
hoặc kém nhau bao nhiêu lần, giảm đi một số lần, tôi đều hình thành kiến thức
mới cho các em từ những kiến thức đã học.
Chẳng hạn như khi dạy bài "Gấp một số lên nhiều lần", tôi đã hình thành
quy tắc từ kiến thức đã được học. Học sinh tự vẽ đoạn thẳng AB dài 2cm, tìm
12
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
cách vẽ đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần đoạn thẳng AB, tìm cách tính độ dài của
đoạn thẳng CD. Từ những việc làm trên của học sinh, chính các em đã tự tìm ra
cách gấp 2cm lên 3 lần, tự lấy được ví dụ về gấp một số nào đó lên một số lần
rồi tìm ra quy tắc gấp một số lên nhiều lần.
Sau mỗi dạng toán mà học sinh mới được học, tôi đều cho học sinh luyện
tập củng cố kiến thức qua các bài luyện tập trong sách giáo khoa và trong các
tiết dạy ở buổi hai. Ngoài ra, tôi còn cho học sinh củng cố mỗi dạng toán bằng
những bài toán ngược để các em tránh bị nhầm lẫn.
Ví dụ: Để củng cố dạng toán "Gấp một số lên nhiều lần" ngoài các bài toán
để củng cố kiến thức đơn thuần, tôi cho học sinh làm thêm những bài toán như:
Mảnh vải hoa dài 15m và dài bằng mảnh vải xanh. Hỏi mảnh vải xanh dài bao
nhiêu mét?
Bằng phương pháp dạy học gợi mở, phương pháp kiến tạo và luyện tập với
bán được mấy mét vải xanh? ( Bài tập 2 - Trang 26 - SGK Toán 3)
Cũng với cách làm như trên, tôi đã hướng dẫn học sinh đặt thêm cho bài
toán câu hỏi:
Một cửa hàng có 40m vải xanh và đã bán được số vải đó. Hỏi:
a) Cửa hàng đã bán được mấy mét vải xanh?
b) Cửa hàng còn lại bao nhiêu mét vải xanh?
Hoặc khi củng cố dạng toán "Gấp một số lên nhiều lần" có bài tập:
Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số cam của con. Hỏi mẹ
hái được bao nhiêu quả cam? ( Bài tập 2 - Trang 33 - SGK Toán 3)
Học sinh của tôi đã tự đặt thêm cho bài toán một câu hỏi nữa để bài toán có
hai câu hỏi như sau:
Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số cam của con. Hỏi:
a) Mẹ hái được bao nhiêu quả cam?
b) Cả hai mẹ con hái được bao nhiêu quả cam?
Bằng cách hướng dẫn học sinh đặt thêm câu hỏi cho bài toán, ngoài việc
củng cố kiến thức mới học, tôi đã hướng dẫn các em củng cố thêm được những
kiến thức khác, đồng thời đã giúp học sinh phát huy tính sáng tạo, phát triển
năng lực tư duy. Biện pháp này tôi thường tiến hành song song, đồng thời với
biện pháp thứ nhất, tôi thấy hiệu quả rất rõ rệt, học sinh nắm chắc hơn các dạng
toán đơn.
Việc cho học sinh làm quen với những bài toán có hai câu hỏi như trên thực
tế là tôi đã cho học sinh làm quen với những bài toán giải bằng hai phép tính.
Đây chính là những bài toán làm bước chuẩn bị cho học sinh học giải toán bằng
hai phép tính sau này.
14
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
Nói tóm lại: Cả hai biện pháp tôi đã thực hiện như trên đều là những bước
chuẩn bị cần thiết để hình thành và hướng dẫn học sinh tìm hướng giải cho
15
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
- Từ bài toán có hai câu hỏi này mà HS đã trình bày được cách giải, tôi nêu
vấn đề: Bỏ câu hỏi thứ nhất đi, bài toán chỉ còn một câu hỏi 2.
HS đọc bài toán như sau:
Hàng trên có 3 cái kèn, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 cái kèn. Hỏi cả
hai hàng có bao nhiêu cái kèn?
Tôi hướng dẫn HS dựa vào bài toán có hai câu hỏi ở trên (chính là bài toán
có 2 lần đáp số), nêu cách giải bài toán mới này. Cụ thể, tôi hướng dẫn HS bằng
một số câu hỏi:
Câu hỏi 1 : Muốn tìm số kèn ở cả hai hàng, các em cần biết thêm số kèn có
ở hàng nào?
- GV kết hợp ghi:
Tìm số cái kèn ở hàng dưới : ? cái
Tìm số cái kèn ở cả hai hàng: ? cái
Câu hỏi 2: Tìm số kèn ở hàng dưới, em đã làm như thế nào?
Câu hỏi 3: Tìm số kèn có ở cả hai hàng em đã làm như thế nào?
- GV kết hợp ghi:
Tìm số cái kèn ở hàng dưới : ? cái 3 + 2 = 5 (cái kèn)
Tìm số cái ken ở cả hai hàng: ? cái 3 + 5 : g (cái kèn)
Như vậy, cùng với việc đặt các câu hỏi của GV, HS nêu ý kiến trả lời, tôi đã
thiết lập cho HS việc đi tìm các bước giải của bài toán bằng sơ đồ phân tích đi
lên. Từ sơ đồ phân tích đi lên ở trên, HS dựa vào đó có thể nhận ra các bước giải
và phép tính giải bài toán.
- Từ các bước giải của bài toán đã được thiết lập như trên, tôi giới thiệu cho
HS biết đây là bài toán giải bằng hai phép tính và đặc điểm của bài toán giải
bằng hai phép tính: chỉ có 1 đáp số là kết quả của phép tính thứ hai.
Từ sơ đồ phân tích đi lên này, tôi gợi ý để HS nhận ra muốn giải được bài
tích cho học sinh hiểu cách chọn nào đúng, cách chọn nào sai và tại sao lại đúng,
hoặc tại sao lại là sai? Khi đã chọn được đúng bài toán, học sinh sẽ giải được bài
toán theo hướng phân tích đi lên để tìm cách giải như tôi đã hướng dẫn ở trên.
e. Củng cố
Khi học sinh đã nắm được thế nào là bài toán giải bằng hai phép tính, cách
đặt câu hỏi phụ để tìm bước giải thứ nhất, xác định dạng toán cho từng bước
giải, cuối tiết học tôi cho học sinh nhận xét các phép tính dùng để giải những bài
toán bằng hai phép tính vừa học ở trên. Khi đó, tôi khắc sâu cho học sinh hiểu
đây là những bài toán giải bằng hai phép tính cộng, hoặc phép tính trừ và phép
tính cộng. Mục đích của việc làm này là hình thành các dạng toán giải bằng hai
phép tính mà các em sẽ được học tiếp trong chương trình môn toán lớp 3.
17
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
3.2. Bài "Bài toán giải bằng hai phép tính" (Tiết 51-Trang 51-SGK Toán 3)
Với tiết dạy này, tôi tiến hành như sau:
* Xác định kiến thức kĩ năng của bài:
HS biết giải và trình bày bài giải của các bài toán giải bằng hai phép tính;
rèn kĩ năng giải bài toán bằng hai phép tính.
* Tổ chức các hoạt động dạy học:
a. Kiểm tra bài cũ
Nội dung kiểm tra bài cũ là yêu cầu giải 1 hoặc 2 bài toán giải bằng hai phép
tính thuộc dạng toán giải bằng hai phép tính mà học sinh đã được học ở tiết 50.
b. Hướng dẫn bài toán mẫu
Tôi không đưa ngay bài toán mẫu như SGK mà đưa một số dữ kiện như sau:
Một cửa hàng ngày thứ nhất bán được 7 xe đạp, ngày thứ hai bán được số
xe đạp gấp đôi ngày thứ nhất.
Tôi yêu cầu học sinh tự đặt câu hỏi để các dữ kiện đã cho trên trở thành
một bài toán giải bằng hai phép tính. Khi học sinh đã đặt đúng câu hỏi, tôi lại
nào đã học để khắc sâu kiến thức cho các em.
Như vậy bằng phương pháp dạy học kiến tạo, bằng hệ thống câu hỏi gợi
mở, tôi đã hướng dẫn HS vận dụng kiến thức đã học để hình thành bài toán giải
bằng hai phép tính từ việc gộp bài toán có 2 lần đáp số, biết cách phân tích để
tiện hướng giải của bài toán giải bằng hai phép tính là tìm ra mối quan hệ giữa
các dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm, đưa chúng về hai bài toán đơn đã học và
vận dụng kiến thức đã học để giải quyết từng bài toán đơn đó.
Nói tóm lại: Nếu học sinh lớp 3 không thấy được mối quan hệ giữa các dữ
kiện trong bài toán thì việc tìm câu trả lời cho câu hỏi phụ sẽ rất khó khăn. Nếu
học sinh lớp 3 không nắm chắc các dạng toán giải bằng một phép tính thì việc
tiến hành các bước giải cho bài toán cũng khó mà thành công. Còn nếu kĩ năng
tính toán của học sinh lớp 3 còn hạn chế thì việc giải các bài toán bằng hai phép
tính sẽ rất chậm chạp và có thể đáp số của bài toán sẽ không chính xác.
Điều này càng chứng tỏ rằng giải toán bằng hai phép tính là bài toán kiểm
tra tổng hợp nhiều kiến thức toán học của học sinh.
4. Hướng dẫn học sinh nắm chắc một số dạng toán giải bằng hai phép tính
qua luyện tập
Từ sau bài "Bài toán giải bằng hai phép tính", học sinh được luyện tập một
số bài toán giải bằng hai phép tính. Nội dung giải toán này được luyện tập rất
nhiều trong suốt quá trình học Toán 3 của học sinh. Những bài toán giải bằng hai
phép tính này không được sắp xếp thành những dạng cụ thể nào mà chúng chứa
một hoặc cả hai phép tính được dùng để củng cố khắc sâu kiến thức của một bài
mới nào đó như nhân, chia số có 3, 4, 5 chữ số với số có một chữ số; củng cố
19
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
các đơn vị đo đại lượng; … Nhiều bài không thuộc một dạng toán điển hình nào
mà để khái quát chúng thành dạng nào đó, trong quá trình luyện tập, học sinh
phải tìm ra các bước giải mỗi bài toán ấy bằng cách đưa chúng về hai bài toán
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
Bao gồm những bài toán liên quan đến những dạng toán đơn đã học: Bài
toán về bớt một số đơn vị, chia đều.
4.1.5. Bài toán giải bằng phép tính cộng và phép tính chia
Bao gồm những bài toán liên quan đến những dạng toán đơn đã học:
- Bài toán về gộp hai số, chia đều
- Bài toán về nhiều hơn, so sánh số lớn gấp số bé bao nhiêu lần.
4.1.6. Bài toán giải bằng phép tính nhân và phép tính cộng
Bao gồm những bài toán liên quan đến những dạng toán đơn đã học:
- Bài toán về gộp một số nhóm bằng nhau, gộp hai số (một số là kết quả
của gộp các nhóm đó)
4.1.7. Bài toán giải bằng hai phép tính chia
Bao gồm những bài toán liên quan đến những dạng toán đơn đã học: Bài
toán về chia đều, chia thành các phần bằng nhau.
4.1.8. Bài toán giải bằng phép tính nhân và phép tính chia
Bao gồm những bài toán liên quan đến những dạng toán đơn đã học: Bài
toán về gộp các nhóm bằng nhau, chia đều
4.1.9.Bài toán giải bằng phép tính chia và phép tính cộng
Bao gồm những bài toán liên quan đến những dạng toán đơn đã học: Tìm
một trong các phần bằng nhau của một số; gộp hai số.
4.2. Những bài toán điển hình
Ngoài các dạng toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3 được thống kê ở trên
thì học sinh còn được học một số dạng toán sau:
4.2.1. Bài toán có phép chia có dư
4.2.2. Các bài toán trên quan đến hình học
4.2.3. Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
- Khi dạy học sinh giải những bài toán bằng hai phép tính có phép chia có
dư, tôi khắc sâu cho học sinh: Trong câu hỏi thường có từ “ít nhất” và khi trình
rèn kĩ năng vận dụng tri thức, củng cố tri thức, phát triển năng lực tư duy.
5. Tổ chức cho học sinh luyện tập giải toán trong các tiết dạy ở buổi hai
5.1. Đưa ra một số yêu cầu khác nhau về giải bài toán bằng hai phép tính
Các bài toán trong sách giáo khoa thường chỉ là những bài toán cho trước
đề bài, yêu cầu học sinh giải bài toán, chỉ có vài bài đưa yêu cầu khác là nêu bài
toán theo tóm tắt rồi giải. Các yêu cầu trên có lẽ chỉ phù hợp với đối tượng học
sinh đại trà mà chưa phát huy được hết khả năng sáng tạo của học sinh. Chính vì
vậy, tôi đã mạnh dạn đưa vào bài giảng của mình, nhất là các tiết dạy Toán ở
buổi hai thêm một số yêu cầu về giải toán bằng hai phép tính như sau:
5.1.1. Lập đề toán theo mẫu
22
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
Khi hướng dẫn học sinh giải một bài toán bằng hai phép tính xong, tôi yêu
cầu các em lập bài toán tương tự nhằm mục đích kiểm tra mức độ hiểu bài của
học sinh.
5.1.2. Tìm câu hỏi cho bài toán
Để đặt ra được yêu cầu này đối với học sinh, tôi đã đưa ra một số dữ kiện đã
cho của bài toán, yêu cầu học sinh tự đặt câu hỏi cho bài toán rồi giải bài toán.
Chẳng hạn: Hãy đặt thêm câu hỏi để được bài toán giải bằng hai phép tính:
Nam có 5 viên bi, Hùng có nhiều hơn Nam 15 viên bi. Hỏi …
Học sinh có thể đặt được các câu hỏi sau:
Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu viên bi?
Hoặc: Hỏi số bi của Hùng gấp mấy lần số bi của Nam?
Hoặc: Số bi của Nam bằng một phần mấy số bi của Hùng?
Và với mỗi câu hỏi trên thì lại được một bài toán khác và cách giải cũng
khác nhau.
5.1.3. Lập bài toán từ một số dữ kiện đã cho và dữ kiện cần tìm
Với yêu cầu này, tôi chuẩn bị trước một số dữ kiện đã cho, một số câu hỏi,
rời nhau, có thể có cả câu lời giải, phép tính sai dưới hình thức các thẻ, yêu cầu
học sinh lựa chọn phép tính và lời giải của phép tính thích hợp với bài toán
(hoặc mỗi bài toán)
5.1.7. Tìm hướng phát triển cho bài toán
Yêu cầu này cũng tương tự yêu cầu đặt câu hỏi cho bài toán.
5.2. Sưu tầm, thiết kế và tổ chức một số trò chơi toán học có thể vận dụng để
giúp học sinh luyện tập giải toán bằng hai phép tính.
Trong dạy học giải toán có lời văn, nhất là giải những bài toán giải bằng hai
phép tính, nếu đề cập đến việc tổ chức bằng trò chơi thì có lẽ nhiều người sẽ cho
rằng không hợp lí hoặc không được khả thi. Song trên thực tế, trong các tiết dạy
Toán có nội dung dạy về giải bài toán bằng hai phép tính, tôi thường kết hợp tổ
chức các trò chơi học tập để tạo hứng thú cho học sinh đồng thời với cách tổ
chức như vậy tôi có thể kiểm tra được việc nắm bài cũng như giúp các em hiểu
sâu và nhớ lâu kiến thức hơn. Mục đích của các trò chơi đều là rèn kĩ năng giải
các bài toán bằng hai phép tính cho học sinh.
Dưới đây là một số trò chơi Toán học tôi đã sưu tầm, xây dựng để tổ chức
trong các giờ dạy Toán có nội dung về giải bài toán bằng hai phép tính:
5.2.1. Trò chơi “Giải toán tiếp sức”
- Chuẩn bị:
+ Một bài toán hoặc một số bài toán, một số câu lời giải và phép tính viết
liền nhau hoặc một số câu lời giải và một số phép tính viết tách rời nhau, có thể
có cả câu lời giải, phép tính sai dưới hình thức các thẻ.
24
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán bằng hai phép tính
+ Chọn hai (hoặc ba, bốn,…. nhóm) học sinh chơi, mỗi nhóm 4 - 5 em
- Cách chơi:
Từ một bài toán hoặc một số bài toán, một số câu lời giải, một số phép tính
viết tách rời nhau mà GV đưa ra, yêu cầu HS tiếp nối chọn câu lời giải và phép