SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG gd & §T THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI CÁC BÀI TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN DẤU HIỆU CHIA HẾT
CHO HỌC SINH CÓ NĂNG KHIẾU TOÁN LỚP 4
Người thực hiện : TrÞnh ThÞ Vui
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị : Trêng TiÓu häc Xu©n QuangThä Xu©n
SKKN thuộc lĩnh vực môn : Toán
Thanh ho¸ NĂM 2016
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Môn Toán là môn học góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh
Tiểu học, môn Toán giúp học sinh học tốt các môn học khác và tiếp nhận thế
giới xung quanh. Đặc biệt Toán ở Tiểu học giúp học sinh hình thành các kĩ năng
thực hành như: tính, đo lường, giải toán ... và ứng dụng trong cuộc sống.
Mặt khác môn Toán còn giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số
lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Đối tượng nghiên cứu của
toán học với quan hệ về số lượng và hình dạng là thế giới của hiện thực. Vì thế
ở tiểu học cho dù là những kiến thức đơn giản nhất cũng là những thể hiện của
các mối quan hệ về số lượng và hình dáng không gian. Chằng hạn, các mối quan
hệ về số lượng bao gồm các quan hệ cộng, trừ, nhân, chia, lớn hơn, nhỏ hơn,
bằng trên các tập hợp N, Q hoặc những quan hệ giữa những đại lượng. Môn
Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả giải các bài toán liên quan đến dấu hiệu chia hết cho học
sinh có năng khiếu toán lớp 4”, làm kinh nghiệm cho quá trình dạy học của bản
thân, để giúp các em học sinh giải được những dạng toán có liên quan đến dấu
hiệu chia hết đạt hiệu quả cao hơn.
2. Mục đích nghiên cứu.
Xuất phát từ cơ sở lí luận về dạng các bài toán liên quan đến dấu hiệu chia
hết ở lớp 4, tôi tiến hành tìm hiểu vấn đề dạy học toán 4 về dấu hiệu chia hết
trong chương trình Sách giáo khoa mới. Trên cơ sở đó tìm hiểu
nguyên nhân và đề xuất những biện pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả của việc dạy học Toán về dấu hiệu chia hết ở lớp 4.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
a) Đối tượng nghiên cứu:
- Cơ sở lí luận của việc dạy học Toán về dấu hiệu chia hết của
lớp 4 ở Tiểu học
- Vấn đề dạy học Toán về dấu hiệu chia hết cho học sinh năng khiếu
lớp 4 ở Tiểu học
b) Phạm vi nghiên cứu:
- Các bài toán có liên quan đến dấu hiệu chia hết của lớp 4
- Chương trình Toán lớp 4 (SGK mới)
- Các bài tập bổ trợ và nâng cao lớp 4
* Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dõng lại ở
việc điều tra việc dạy học Toán về dấu hiệu chia hết của khối lớp 4 trường Tiểu
học Xu©n Quang từ 15/9/2015 đến 30/3/2016
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
trình nhưng rất cần thiết vì thế tôi đã tìm tòi, tham khảo sách, học hỏi bạn bè
đồng nghiệp và đã rút ra cho mình “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
giải các bài toán liên quan đến dấu hiệu chia hết cho học sinh có năng khiếu
toán lớp 4” để dạy học sinh có năng khiếu Toán.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
* Năm học 2014- 2015, sau khi dạy buổi 2 cho học sinh phần Dấu hiệu
chia hết, tôi nhận thấy phần nhiều các em còn lúng túng trong việc nhận dạng
toán về dấu hiệu chia hết, từ đó dẫn đến việc vận dụng các tính chất chia hết để
làm các bài tập chưa thành thạo và thiÕu chính xác. Vì vậy tôi đã tiến hành
kiểm tra, khảo sát kiến thức ở lớp 4A mà tôi chủ nhiệm, thực tế như sau:
a) Khảo sát quá trình học tập của học sinh:
Thời gian làm bài là 40 phút với các dạng bài sau:
Bài 1: Hãy viết các số có 3 chữ số khác nhau chia hết cho 15 từ 4 chữ số
sau: 0, 2, 4 và 5.
Bài 2: Thay x và y trong số a = 1996xy để được số chia hết cho 2, 5 và 9.
4
Bài 3: Không thực hiện phép tính, hãy xét xem các tổng và hiệu dưới đây
có chia hết cho 3 không ?
a) 450 + 135
b) 450 - 135
c) 614 + 520
Bài 4: Cho a = x459y. Hãy thay x, y bởi những chữ số thích hợp để khi
chia a cho 2, 5 và 9 đều dư 1.
* Các bài toán kiểm tra trên thuộc 4 dạng khác nhau như :
Dạng 1: Các bài toán về lập số có liên quan đến dấu hiệu chia hết.
Dạng 2: Dùng dấu hiệu chia hết để điền chữ số chưa biết.
Dạng 3: Các bài toán về vận dụng tính chất chia hết của một tổng và một
hiệu.
Bài 4:
Ta nhận thấy: a chia cho 5 dư 1 nên y phải bằng 1 hoặc 6.
5
Mặt khác a chia cho 2 dư 1 nên y phải bằng 1. Số phải tìm có dạng
a = x4591.
a = x4591 chia cho 9 dư 1 nên (x + 4 + 5 + 9 + 1) chia cho 9 dư 1 hay
(19 + x) chia cho 9 dư 1, suy ra x = 0 hoặc 9, mà x là chữ số hàng chục
nghìn của số a có 5 chữ số nên x không thể bằng 0. Suy ra x = 9.
Số phải tìm là: 94591.
* Kết quả khảo sát đầu năm học: 2015-2016 môn Toán như sau:
Sĩ số học
sinh lớp 4A
25 em
Điểm 9-10
SL
TL%
1
4%
Kết quả
Điểm 7-8
Điểm 5-6
SL
TL%
SL
TL%
5
thức gần giống các bài các em đang giải nhưng xét về bản chất thì lại khác nên
các em đã làm sai như vậy.
Ở dạng 4: Các bài toán về phép chia có dư.
Lỗi sai của các em ở bài này là chưa biết vận dụng kiến thức đã học để
đưa về bài toán có liên quan đến dấu hiệu chia hết. Bên cạnh đó khả năng
chuyển dịch từ phép chia có dư sang phép chia hết còn yếu nên học sinh dễ
mắc sai lầm khi làm bài.
b) Nguyên nhân dẫn đến thực trạng:
* Nguyên nhân từ học sinh:
6
+ chưa nắm vững kiến thức nên hay dễ lẫn lộn.
+ Đọc đề bài chưa rõ.
+ chưa phân tích kĩ yêu cầu đề bài.
* Nguyên nhân từ phía giáo viên:
Từ những lỗi phổ biến của học sinh, tôi đã rút ra một số nguyên nhân xuất
phát từ phía giáo viên là:
- Trong khi giảng dạy việc xác định nội dung và phương pháp còn nhiều
lúng túng nên giáo viên chưa có được cách dạy cho hợp lý.
- Do chưa có kinh nghiệm nên tôi vẫn còn dạy theo kiểu áp đặt học sinh.
Thường xuyên hướng dẫn các em giải các bài toán theo hướng của cô đó là:
hướng dẫn một vài bài mẫu và yêu cầu học sinh làm các bài tương tự. Với cách
giảng dạy này sẽ không phát huy được tính sáng tạo của học sinh, các em chỉ
cần làm theo cô, giải theo cô, chỉ cần thay số, sửa đổi lời giải là được. Như vậy,
khi gặp các bài toán không giống mẫu, các em sẽ lúng túng không biết cách giải
và đôi khi các em còn nhầm lẫn dấu hiệu chia hết.
- Mặt khác, giáo viên chưa chú ý hướng dẫn học sinh biết phát hiện bài
toán từ kiến thức đã có hoặc từ bài toán quen thuộc, chưa chú ý đến việc hướng
dẫn học sinh biết chọn nhiều cách giải khác nhau mà chủ yếu chỉ giải xong bài
buộc học sinh phải phát huy tính linh hoạt của tư duy, học sinh phải tự tìm tòi,
khám phá và tự chiếm lĩnh tri thức, tuyệt đối không cung cấp sẵn kiến thức.
b) Hướng dẫn học sinh giải toán theo quy trình 4 bước sau:
+ Hướng dẫn tìm hiểu đề (tri giác vấn đề).
+ Lập chương trình giải toán.
+ Trình bày bài giải.
+ Kiểm tra đánh giá kết quả.
c) Hướng dẫn cho các em nắm được từng dạng toán:
Với từng dạng toán, phương pháp dạy học bao giờ cũng có hai phần cơ
bản: dạy lý thuyết và thực hành. Bởi giữa lý thuyết và thực hành luôn có sự liên
quan mật thiết, bổ trợ lẫn nhau. Lý thuyết chính là các kiến thức cần có để học
sinh vận dụng vào giải quyết các bài tập, quá trình luyện tập thực hành sẽ làm
cho kiến thức của các em được củng cố một cách vững chắc và có hệ thống hơn.
Các em nắm chắc kiến thức cơ bản, biết vận dụng các kiến thức này vào từng
dạng cụ thể, biến các kiến thức thầy cô truyền thụ thành kiến thức của bản thân.
- Để học sinh nắm được “Các bài toán có liên quan đến dấu hiệu chia
hết”, tôi đã cho học sinh học theo từng dạng, tổ chức cho học sinh tiến hành làm
các bài tập từ dễ đến khó. Sau đó, tôi đưa ra các phương pháp giải để học sinh áp
dụng, lấy ví dụ minh hoạ để học sinh hiểu vấn đề, cho các bài tập tương tự để
học sinh vận dụng.
- Khi dạy từng dạng bài, tôi luôn yêu cầu học sinh đọc kĩ đề, tóm tắt đề
bài theo cách ngắn gọn, dễ hiểu, đưa ra nhiều cách giải bài toán; chú ý kiểm tra
kết quả của từng học sinh và chỉ hướng dẫn khi các em thực sự gặp khó khăn,
không bao giờ tôi làm thay cho học sinh.
d) Thay các dạng toán từ dễ đến khó như sau:
DẠNG 1: Các bài toán về lập số có liên quan đến dấu hiệu chia hết.
a) Yêu cầu về kiến thức:
Để giúp các em giải được các dạng toán này giáo viên cần giúp các em nắm
được các kiến thức cơ bản sau:
* Dấu hiệu chia hết cho 2:
- Số tự nhiên A và tổng các chữ số của nó luôn có cùng số dư khi chia cho 3.
Ví dụ: 85 : 3 dư 1 thì (8 + 5) chia cho 3 cũng dư 1.
Lưu ý:
- Khi xét trong một tổng mà có các số hạng không chia hết cho 3 nhưng tổng
các chữ số của các số hạng đó chia hết cho 3 thì tổng đã cho chia hết cho 3.
Ví dụ : Tổng (41 + 67) có 41 và 67 đều không chia hết cho 3
Nhưng (4+1+ 6+7) chia hết cho 3 thì (14 + 67) cũng chia hết cho 3
* Dấu hiệu chia hết cho 4:
- Các số có hai chữ số tận cùng chia hết cho 4 thì chia hết cho 4.
- Số chia hết cho 4 là số có hai chữ số tận cùng của nó cũng chia hết cho 4.
Ví dụ: 24 chia hết cho 4 nên 1324 chia hết cho 4.
* Dấu hiệu chia hết cho 6:
- Một số chia hết cho 6 khi số đó chia hết cho 2 và 3.
Ví dụ: 198 chia hết cho cả 2 và 3 nên 198 chia hết cho 6.
* Một số dấu hiệu khác:
- Một số chia hết cho 8 khi ba chữ số tận cùng của nó tạo thành một số chia
hết cho 8.
- Một số chia hết cho 25 khi hai chữ số tận cùng của số đó là: 25, 75, 50, 00.
- Một số chia hết cho 45 khi số đó chia hết cho 5 và 9.
9
Song song với việc nắm vững các kiến thức cơ bản tôi giúp các em nắm
được phương pháp giải các dạng toán này.
b) Phương pháp giải:
Ở dạng này cần sử dụng phương pháp phân tích, trước tiên cần xác định số
cần tìm phải đảm bảo những yêu cầu nào có tính chất chung, tính chất tổng quát.
Chẳng hạn: Số cần viết có mấy chữ số, là số chẵn hay số lẻ, lớn nhất hay
bé nhất, mối liên hệ giữa các chữ số trong các hàng ra sao và số đó được viết bởi
những chữ số nào ?
4
9
590
0
5
- Liệt kê các số lập được:
* Chẳng hạn: 504; 540; 594; 590 (Các trường hợp còn lại làm tương tự)
Bài giải:
Các số chia hết cho 2 có tận cùng bằng 0 hoặc 4.
Vì các số đều có các chữ số khác nhau nên các số lập được là:
540
450
490
504
954
10
940
950
590
không để cho học sinh nhầm lẫn dấu hiệu chia hết cho 3 và dấu hiệu chia hết cho
9)
Ví dụ: Số chia hết cho 2 có tận cùng là 0, 2, 4, 6, 8.
Số chia hết cho 5 có tận cùng là 0 hoặc 5
Vậy số chia hết cho 2 và 5 thì tận cùng phải là 0.
Ví dụ: Một số chia hết cho 10 tức là chia hết cho 2 và 5 suy ra tận cùng
của số đó phải là 0.
c) Ví dụ minh hoạ:
Cho a = x378y là số tự nhiên có 5 chữ số khác nhau. Tìm tất cả các chữ số
x, y để thay vào ta được số a chia hết cho 3 và 4.
* Cách giải:
- Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 4 để xác định y.
- Dùng phương pháp thử chọn kết hợp với dấu hiệu chia hết cho 3 để xác
định x.
11
Bài giải
a chia hết cho 4 nên 8y chia hết cho 4. Vậy y = 0, 4 hoặc 8.
a có 5 chữ số khác nhau nên y = 0 hoặc 4.
- Thay y = 0 ta có a = x3780
Vì x3780 chia hết cho 3 nên (x + 3 + 7 + 8) chia hết cho 3 hay (x + 18)
chia hết cho 3. Suy ra x = 3, 6 hoặc 9.
Số a có 5 chữ số khác nhau nên x = 6 hoặc 9.
Ta được các số 63780 và 93780 thoả mãn điều kiện của đề bài.
- Thay y = 4 ta có a = x3784
Vì x3784 chia hết cho 3 nên (x + 3 + 7 + 8 + 4) chia hết cho 3 hay (x + 22)
chia hết cho 3. Suy ra x = 2, 5 hoặc 8.
Số a có 5 chữ số khác nhau nên x = 2 hoặc 5. Ta được các số 23784 và
53784 thoả mãn điều kiện đề bài.
2 không?
a) 692 + 450
b) 524 + 238 + 123
c) 3692 – 450
d) 958 – 125 - 236
* Cách giải:
- Dựa vào dấu hiệu chia hết cho 2 xét xem từng số hạng của tổng có chia hết
cho không? Nếu các số hạng của tổng chia hết cho 2 thì tổng đó cũng chia hết
cho 2.
- Nếu có một số hạng của tổng không chia hết cho 2 thì tổng cũng không
chia hết cho 2.
- Tương tự ta xét xem số bị trừ và số trừ có chia hết cho 2 không? Nếu số bị
trừ và số trừ chia hết cho 2 thì hiệu đó cũng chia hết cho 2. Nếu có một số bị trừ
hoặc số trừ nào đó không chia hết cho 2 thì hiệu đó cũng không chia hết cho 2.
Bài giải
a) Ta thấy số hạng thứ nhất 692 chia hết cho 2 và số hạng thứ hai 450 chia
hết cho 2 nên tổng 692 + 450 chia hết cho 2.
b) Ta thấy 524; 238 chia hết cho 2 mà 123 không chia hết cho 2 nên tổng
524 + 238 + 123 không chia hết cho 2.
c) Ta thấy số bị trừ 3692 chia hết cho 2 và số trừ 450 chia hết cho 2 nên hiệu
3692 - 450 chia hết cho 2.
d) Ta thấy 958 và 236 đều chia hết cho 2 nhưng 125 lại không chia hết cho 2
nên hiệu 958 - 125 - 236 không chia hết cho 2.
d) Bài tập tự luyện:
Bài 1. Không làm phép tính, hãy xét xem tổng và hiệu dưới đây có chia hết
cho 3 không ? Tại sao ?
a) 693 + 459
b) 33693 - 459
c) 92616 + 48 372
d) 92616 - 48 372
- Nếu một số chia cho 5 dư 4 thì tận cùng là 4 hoặc 9.
- Một số chia hết cho 5 dư 1 thì số đó trừ đi 1 cũng chia hết cho 5.
- Một số không chia hết cho 5 thì số dư trong phép chia số đó cho 5 chính
bằng số dư trong phép chia chữ số cuối cùng của số đó cho 5.
•
Một số không chia hết cho 3 thì số dư trong phép chia số đó cho 3
chính bằng số dư trong phép chia tổng các chữ số của số đó cho 3.
Ví dụ: 17 : 3 = 5 dư 2 thì (1 + 7) chia cho 3 cũng dư 2
• Một số không chia hết cho 9 thì số dư trong phép chia số đó cho 9 chính
bằng số dư trong phép chia tổng các chữ số của số đó cho 9.
Ví dụ: 78 : 9 = 8 (dư 6) thì (7 + 8) chia cho 9 cũng dư 6.
• Một số không chia hết cho 4 thì khi chia cho 4 sẽ có số dư bằng số dư
trong phép chia số tạo bởi hai chữ số cuối cùng của số đó cho 4.
Ví dụ: 15 : 4 = 3 (dư 3) thì 12615 : 4 cũng dư 3.
• Một số không chia hết cho 8 thì khi chia cho 8 sẽ có số dư bằng số dư
trong phép chia số tạo bởi ba chữ số cuối cùng của số đó cho 8.
Ví dụ: 321 : 8 (dư 1) thì 17 321 : 8 cũng dư 1.
• Một số không chia hết cho 25 thì khi chia cho 25 sẽ có số dư bằng số dư
trong phép chia số tạo bởi hai chữ số cuối cùng của số đó cho 25.
Ví dụ : 53 : 25 = 2 (dư 3) thì 47253 : 5 cũng dư 3.
b) Phương pháp giải:
- Khi giải dạng toán này cần áp dụng những tính chất của phép chia có dư.
- Căn cứ vào số dư để suy ra mối liên hệ với phép chia hết. Chẳng hạn: Một
số chia cho 5 dư 1 thì chữ số hàng đơn vị của số đó chỉ có thể là 1 hoặc 6 và như
vậy số đó trừ đi 1 hoặc 6 sẽ chia hết cho 5.
- Dùng phương pháp thử chọn kết hợp với liệt kê để xác định số cần tìm.
c) Ví dụ minh hoạ:
Tìm số tự nhiên nhỏ nhất khác 1 sao cho khi chia số đó cho 2, 3, 4, 5 và 7
đều dư 1.
* Cách giải :
qua luyện tập thực hành
Sau khi học xong phần lý thuyết, tôi tiếp tục cho học sinh thực hành làm các
bài tập để củng cố lại các kiến thức đã học.
+ Bằng hệ thống câu hỏi, tôi gợi mở để học sinh ôn lại kiến thức lý thuyết về
dấu hiệu chia hết trước khi cho các em làm bài tập.
+ Hoặc : Sau khi học sinh làm và chữa bài tập hoàn chỉnh trên bảng, tôi đặt
câu hỏi để học sinh nhắc lại kiến thức về dấu hiệu chia hết mà các em vừa vận
dụng để giải bài toán.
Với cách làm như thế kiến thức của học sinh sẽ được củng cố, khắc sâu và
các em sẽ nhớ lâu hơn.
Ví dụ: Thay các chữ x, y bằng các chữ số thích hợp trong số 32x4y để
được một số chia chia hết cho 5 dư 1 và chia hết cho 3.
* Giáo viên có thể hỏi như sau :
- Một số chia cho 5 dư 1 có tận cùng là mấy ?
- Em hãy nêu dấu hiệu chia hết cho 3 ?
3.3.Giải pháp thứ ba: Vận dụng dấu hiệu chia hết vào giải các bài toán có
tính thực tế.
Trong quá trình dạy bồi dưỡng học sinh có năng khiếu toán, tôi nhận thấy
rất rõ một điều rằng: Kiến thức cơ bản giống như nền móng của một ngôi nhà,
nền móng có chắc chắn thì ngôi nhà mới đảm bảo độ vững chãi. Kiến thức cơ
15
bản của các em có vững vàng thì mới có thể vận dụng để nâng cao và làm các
bài ở dạng khó hơn. Chính vì thế, chỉ khi nào tôi chắc chắn học sinh hoàn toàn
có thể làm chủ kiến thức cơ bản tôi mới tiến hành cho các em vận dụng để giải
bài toán có tính thực tiễn.
Ví dụ: Từ kiến thức đã học về dấu hiệu chia hết cho 3, tôi cho học sinh
làm bài toán cơ bản sau:
Không thực hiện phép tính, hãy xét xem các số và các tổng sau có chia hết
3)
+ Tổng số mãnh giấy sau một số lần cắt có cjia hết cho 3 không ? (Có)
+ Vậy Toàn đếm được 100 mãnh giấy đúng hay sai ? (sai)
+ Kết luận: Toàn đếm đúng hay sai ? (sai)
16
Bài giải:
Mỗi lần cắt tờ giấy thì số mãnh tăng lên là 3. Do đó dù cắt bao nhiêu lần thì
số mãnh giấy tăng thêm luôn luôn là số chia hết cho 3. Mà ban đầu Toàn có 3
mãnh cũng là số chia hết cho 3 nên tổng số mãnh sau một số lần cắt phải là số
chia hết cho 3. Số 100 là không chia hết cho 3 nên Toàn đã đếm sai.
3.4. Giải pháp thứ tư: Định hướng cho học sinh tìm nhiều cách giải khác
nhau cho một bài toán:
Việc đi sâu tìm nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán có vai trò vô
cùng to lớn trong việc rèn luyện kĩ năng, củng cố kiến thức, rèn luyện trí thông
minh, óc sáng tạo cho học sinh bởi vì:
- Những cách giải khác nhau của một bài toán sẽ góp phần hình thành và
củng cố ở học sinh về tính chất của các phép tính và mối quan hệ giữa các phép
tính số học.
-Việc tìm ra nhiều cách giải khác nhau sẽ giúp học sinh có dịp để so sánh
các cách giải đó, chọn ra cách giải hay nhất, ngắn gọn nhất và tích luỹ được
nhiều kinh nghiệm để giải toán.
- Việc tìm ra nhiều cách giải sẽ giúp cho học sinh rèn luyện đức tính tiết
kiệm, bởi vì từ nhiều cách giải ấy học sinh sẽ tìm ra được con đường ngắn nhất
để đi tới đích, đồng thời giúp học sinh hiểu sâu, nắm vững hơn cấu trúc của bài
toán.
Ví dụ: Ví dụ minh hoạ của dạng 4
Tìm số tự nhiên nhỏ nhất khác 1 sao cho khi chia số đó cho 2, 3, 4, 5 và 7
đều dư 1.
chuyờn ny, tụi nh Ban giỏm hiu nh trng a ra bi kim tra cho hc
sinh lp 4A ca tụi trc tip ging dy, kt qu nh sau:
* Kt qu kho sỏt mụn Toỏn sau khi ỏp dng cỏc bin phỏp trong
nm hc 2015-2016 nh sau:
S s hc
sinh lp 4A
25 em
im 9-10
SL
TL%
8
32%
Kt qu
im 7-8
im 5-6
SL
TL%
SL
TL%
12
48%
5
20%
im di 5
SL
TL%
0
Trong giai đoạn đổi mới như hiện nay, đặc biệt là thực hiện đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông, nhiệm vụ của giáo dục đòi hỏi ngày càng cao. Do đó
trong quá trình giảng dạy, để nâng cao chất lượng dạy và học, người giáo viên
cần phải coi trọng sự sáng tạo của học sinh, tạo cơ hội để học sinh hoạt động học
tập chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên cần chú ý hướng dẫn, gợi ý và tìm cách tổ
chức cho học sinh tự làm chủ trong việc giải quyết các vấn đề, không nên làm
mẫu, tuyệt đối không làm thay học sinh. Cần phát huy vai trò tích cực học tập
của học sinh, tạo điều kiện để các em phát huy khả năng của bản thân, có như
vậy các em mới hứng thú học tập, mới có được những kiến thức chắc chắn.
- Để việc dạy học môn toán đảm bảo tính khoa học, tính chính xác, tính sư
phạm và phát huy được tính chủ động sáng tạo, tư duy logic của học sinh, giáo
viên cần không ngừng tự học, tự bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn
nghiệp vụ; nghiên cứu thêm tài liệu tham khảo để không ngừng nâng cao trình
độ chuyên môn, nắm chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa; tích cực đổi
mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy học
2. Kiến nghị
- Ban giám hiệu cần tăng cường dự giờ, góp ý rút kinh nghiệm về phương
pháp dạy học toán nói chung và mạch kiến thức giải các bài toán có liên quan
đến dấu hiệu chia hết nói riêng, kịp thời có những giải pháp hay hiệu quả nhằm
nâng cao chất lượng dạy hoc.
- Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên môn, tập trung sâu vào thảo luận đổi
mới phương pháp dạy học, nghiên cứu sâu về mạch kiến thức về giải các bài
toán có liên quan đến dấu hiệu chia hết, lựa chọn phương pháp dạy học và hình
thức tổ chức dạy học khoa học hợp lí.
- Tăng cường kiểm tra chất lượng học sinh trên cơ sở đó đánh giá công tác
giảng dạy cũng như năng lực chuyên môn của giáo viên .
19
- ng viờn khuyn khớch giỏo viờn thc hin tt cụng tỏc t hc, t bi