MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4
NHẬN BIẾT ĐƯỢC TỪ LOẠI “DANH TỪ”.
A/ MỞ ĐẦU:
I/ Lí do chọn đề tài:
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức
của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Bởi thế, dạy Tiếng Việt
có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của mỗi con
người. Vả lại, môn Tiếng Việt ở Tiểu học chiếm vị trí rất quan trọng vì đây là
môn học thực hành thông qua việc lĩnh hội lí thuyết. Thông qua hệ thống bài
tập, giáo viên giúp học sinh hình thành, phát triển các kĩ năng lĩnh hội và tạo lập
ngôn bản. Tính chất thực hành là đặc trưng nổi bật nhất của môn học. Mặc dù
vậy, chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học vẫn bố trí dạy các lí thuyết về tri thức
cho học sinh. Phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh các kiến thức về
từ và câu. Trong đó nội dung lí thuyết và thực hành về từ loại danh từ có vị trí
hết sức quan tọng nhằm giúp học sinh có ý thức hóa và hệ thống hóa các hiểu
biết về từ loại danh từ Tiếng Việt để nắm vững ngữ pháp trong câu. Từ đó giúp
các em học tốt ở bậc học cao hơn.
Muốn dạy tốt các nội dung lí thuyết về từ loại, giáo viên cần nắm vững
phương diện khoa học cơ bản của từng vấn đề, nắm vững nội dung sách giáo
khoa viết về từ loại đặc biệt là danh từ. Trên cơ sở đó tìm ra cách thức dạy học
thích hợp và đạt hiệu quả cao.
Trong hệ thống từ loại Tiếng Việt, danh từ là loại khá phong phú và chia
làm nhiều tiểu loại, quan hệ về nghĩa, chuyển loại từ của nó cũng khá phức tạp.
Vì vậy, qua nhiều năm trực tiếp đứng lớp giảng dạy tôi thấy học sinh chưa nắm
chắc cách sử dụng danh từ trong câu dẫn đến xác định sai làm ảnh hưởng đến
kết quả bài kiểm tra, bài thi. Vì thế tôi đã chọn đề tài: Một số biện pháp giúp
học sinh lớp 4 nhận biết được từ loại “danh từ” cho năm học trước và năm học
này giúp các em đạt được kết quả khả quan hơn.
II/ Đối tượng nghiên cứu:
Mục đích cuối cùng của sáng kiến kinh nghiệm là giúp học sinh lớp 4biết
Sau hai tiết học tôi kiểm tra khả năng hiểu biết của các em thì thấy có một số
em trả lời được danh từ là: chị, tay, con bướm còn phần đông học sinh không
nêu được từ chị.
+ Các phương pháp dạy học:
Phương pháp luyện tập theo mẫu: Tôi giới thiệu cho học sinh những
dạng bài tập mẫu trong sách, rồi sau đó làm theo mẫu.
Phương pháp luyện tập kĩ năng: Sau khi nhận diện từng dạng bài tập, tôi
cho các em luyện tập thật thành thạo để chiếm lĩnh tri thức.
3/ Giả thuyết khoa học:
Nếu giáo viên dạy từ loại danh từ trong các tiết Luyện từ và câu tốt thì sẽ
nâng cao chất lượng nhận biết danh từ cho học sinh lớp 4/3.
B/ NỘI DUNG:
I/ Cơ sở lí luận:
Trong quyển Phong cách học và Từ điển tu từ Tiếng Việt trang 194 có nêu:
“Từ ngữ là một hệ thống mở, phong phú hơn gấp bội các đơn vị khác của ngôn
ngữ đứng về mặt số lượng đơn vị cũng như mặt đặc điểm tu từ. cho nên bất cứ
ai cũng thấy trong vận dụng ngôn ngữ thì sử dụng từ ngữ là điều khó khăn nhất.
Cái hay cái dở trong vận dụng ngôn ngữ thể hiện trước nhất và tập trung nhất ở
sử dụng từ ngữ.”
Song song đó, từ là một thực thể tồn tại rất hiển nhiên mà bất cứ một người
bản ngữ nào cũng có thể ý thức được sự tồn tại của nó. Trong một chuỗi lời nói,
cụ thể là một trong một câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ chúng ta có thể vận
dụng từ để nói hoặc viết. Từ là đơn vị nhỏ nhất và là đơn vị để tạo thành câu,
thành văn bản. Trong một văn bản, các câu các từ được sắp xếp theo một trật tự
nhất định và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có sự chi phối lẫn nhau. Khi
đứng trong từ điển thì các từ có nghĩa bình đẳng nhưng khi được dùng trong văn
bản thì mỗi từ sẽ bộc lộ giá trị khác nhau. Tùy theo đối tượng, hoàn cảnh từ có
khả năng bộc lộ riêng tạo những nét độc đáo riêng cho mình.
Trong Tiếng Việt, từ loại được coi là vấn đề thuộc phạm trù từ vựng ngữ
pháp, hiểu đơn giản là phạm trù ngữ pháp của các từ. Khi có một từ nào đó
a/ Điều tra thực trạng.
b/ Tìm đọc và nghiên cứu tài liệu.
c/ Thống kê so chiếu.
d/ Viết đề cương và lập kế hoạch.
e/ Tiến hành nghiên cứu, áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
f/ Đánh giá kết quả, so sánh đối chiếu, điều chỉnh bổ sung.
g/ Kiểm tra đánh giá cuối cùng hoàn thành đề tài.
h/ Viết đề tài.
2/ Những biện pháp giúp học sinh lớp 4/3 Trường Tiểu học Định Hiệp
nhận biết được từ loại “danh từ”:
Việc xác định đúng từ loại danh từ là việc làm tương đối quen thuộc đối với
học sinh. Tuy nhiên nhiều em chưa nắm chắc kiến thức nên thực hiện chưa đầy
đủ yêu cầu đề ra nên giáo viên cần có những biện pháp phù hợp để hướng dẫn
học sinh.
* Bước chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
a/ Chuẩn bị của giáo viên: Tôi nghiên cứu trước bài dạy, xác định kiến thức
trọng tâm của bài:
-Tôi xem bài ở nhà để xác định yêu cầu, kiến thức, kĩ năng của từng bài, xây
dựng hệ thống câu hỏi và bài tập cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp.
-Tôi tiến hành soạn Kế hoạch bài học với hệ thống câu hỏi chặt chẽ, sau đó
lựa chọn phương pháp cho phù hợp với nội dung bài dạy.
Ví dụ:
+ Khi dạy các danh từ: giáo viên, kĩ sư, công nhân, bác sĩ,… tôi có thể cho
học sinh xem tranh ảnh về những người đó.
+ Hay khi dạy các danh từ: thước, bảng, quạt, bàn,… tôi cho các em quan sát
các vật thật xung quanh các em. Bên cạnh, tôi còn sử dụng phương pháp đàm
thoại, gợi mở để học sinh trả lời nắm bắt tri thức. Ngoài ra, tôi còn áp dụng
phương pháp luyện tập để rèn kĩ năng cho học sinh. Đây là bước quan trọng cần
chú ý để hướng dẫn học sinh nắm tốt bài học.
-Hình thức tổ chức dạy học cũng là vấn đề quan trọng góp phần thành công
Học sinh nhặt ra các danh từ là: quần áo, anh em, vườn.
b/ Bài tập vận dụng:
Tôi tiến hành cho học sinh làm các dạng như sau:
* 1/ Tìm 3 danh từ là từ đơn rồi đặt câu với mỗi từ tìm được.
Ví dụ: nhà, mẹ, anh
Đặt câu:
-Nhà em có 5 người.
-Mẹ em là bác sĩ.
-Nam là anh của Hồng.
* 2/ Tìm 3 từ ghép là danh từ, đặt câu với mỗi danh từ đó.
Ví dụ: học sinh, giáo viên, anh em.
Đặt câu:
-Học sinh lớp 4. đang lao động.
-Ba em là giáo viên.
-Anh em phải biết thương yêu nhau.
* 3/ Tìm 3 danh từ nói về nhà trường, học tập.
Ví dụ: trường, lớp, thư viện.
* 4/ Tìm những từ thích hợp điền vào chỗ trống để tạo thành danh từ trừu
tượng:
Sự…………., niềm tin………… , trận……………, cuộc……………
Học sinh điền được:
Sự cố gắng, niềm tin yêu, trận chiến đấu, cuộc thi.
* 5/ Viết một đoạn văn ngắn khoảng 4 câu tả một cảnh đẹp mà em yêu thích,
gạch chân dưới các danh từ trong đoạn văn.
Học sinh viết được đoạn văn như sau:
Tây Ninh nổi tiếng với thắng cảnh núi Bà Đen. Ngọn núi cao chót vót nhìn từ
xa như cái nón úp xuống cánh đồng. Hàng năm cứ đến tháng giêng, hội xuân
diễn ra nơi đây thật nhộn nhịp. Mọi người từ các nơi nườm nượp về dự lễ.
Thông qua trò chơi góp phần củng cố tri thức, kĩ năng học tập của học sinh
và nhằm làm cho việc hình thành tri thức và rèn luyện kĩ năng cho các em bớt đi
vẻ khô khan, tăng thêm phần sinh động hấp dẫn, kích thích thi đua học tập giữa
các học sinh với nhau.
Ví dụ 1: Trò chơi “Tìm danh từ chỉ sự vật”, tôi tổ chức cho 2 nhóm học
sinh mỗi nhóm 4 em học sinh được chơi nhiều lượt.
Cách chơi: Mỗi người chơi có một tờ giấy đã chép sẵn đoạn thơ chỉ sự vật
sau:
“Tay em đánh răng
Răng trắng hoa nhài
Tay em chải tóc
Tóc ngời ánh mai”
Giáo viên yêu cầu:
-Tìm nhanh từ ngữ chỉ sự vật trong khổ thơ và gạch dưới các từ ngữ chỉ sự
vật đó.
-Trong thời gian như nhau, em nào xác định đúng nhiều từ ngữ nhất là người
thắng cuộc.
-Các em tìm được các từ chỉ sự vật: tay, em, răng, răng, hoa nhài, tay, em,
tóc, tóc, ánh mai.
Ví dụ 2: Trò chơi “Đặt câu với danh từ cho sẵn”
Cách chơi: Học sinh tham gia tách thành hai nhóm, mỗi nhóm 4 em. Một
học sinh nhóm thứ nhất nêu lên một danh từ rồi chỉ định một học sinh trong
nhóm thứ hai đặt câu với từ đó, lần hai sẽ đổi phiên giữa các nhóm, nhóm thứ
hai nêu từ, nhóm thứ nhất đặt câu. Nhóm nào có người không nêu được danh từ
hoặc đặt câu sai, cả nhóm sẽ phải nhảy lò cò. Hết thời gian chơi, nhóm nào ít bị
nhảy hơn sẽ thắng cuộc và được cả lớp tuyên dương.
Chú ý: Khi chơi 2 nhóm không tìm từ trùng lấp nhau và trong quá trình chơi
các em phải luôn tự giác có kỉ luật.
* Để học sinh nắm được “danh từ” vững chắc, tôi thường xuyên yêu cầu
tên chung là danh từ đơn vị. Đặc điểm chung của danh từ đơn vị là dễ dàng đứng
trực tiếp sau số từ đếm được (một số danh từ vật thể cũng có đặc điểm này).
Danh từ đơn vị gồm hai nhóm lớn:
-Danh từ đơn vị đại lượng qui ước: mẫu, sào, hecta, a, mét, mét khối, mét
vuông, lít,…
-Danh từ đơn vị rời: cục, hòn, viên, tấm, bức, đàn, bọn, lũ, bó, nắm, sải,…
Danh từ đếm được và không đếm được:
-Danh từ đếm được: cái, con, cây, người, bức, tờ, quyển, sợi, thanh, cục,
tấm, bộ, mẩu, bọn, lũ, đàn, tụi, ban, tổ, đoàn, đội, thợ,…
-Danh từ không đếm được:
+ Danh từ thể chất: muối, dầu, hơi,… Ví dụ: hai lít dầu, hai phao dầu, hai
tấn sắt,…
+ Danh từ tổng hợp: áo quần, binh lính, xe cộ, máy móc,… Ví dụ: bốn bộ
quần áo, ba đám trẻ con,…
Danh từ có thể giữ chức vụ khác nhau trong câu:
-Danh từ làm chủ ngữ: Học sinh đến trường.
CN
-Danh từ làm vị ngữ: Anh đã ăn cơm nước gì chưa?
VN
-Danh từ làm trạng ngữ: Hôm qua, trời trở rét.
TN
-Danh từ làm định ngữ: Cha mẹ học sinh rất vui mừng về kết quả học tập
của các em. ĐN
-Danh từ làm bổ ngữ: Cô rất yêu quí học sinh.
BN
-Danh từ làm hô ngữ: Học sinh, nghiêm!
HN
-Danh từ làm thành phần chú thích: Minh, một học sinh xuất sắc, đã được
học bổng.
CT
Ví dụ: Anh chiến sĩ ấy có một ý chí sắt đá.
Tính từ
Ba Tòng là một đứa rất cáo.
Tính từ
• Danh từ chuyển hóa thành quan hệ từ:
Ví dụ: Giữa rẫy, một ngọn lửa bập bùng cháy suốt đêm.
Quan hệ từ
Hay là: Trên trời, dưới cánh đồng, ngoài vườn, trong nhà…
• Bên cạnh một số động từ, tính từ lại chuyển hóa thành danh từ
khi ta kết hợp trước động từ, tính từ với các từ: cái, sự, việc, nỗi, lòng,…
Ví dụ: Sự suy nghĩ, cuộc đấu tranh, nỗi buồn, cái đẹp,… danh từ.
-Trong từng tiết học, tôi giúp học sinh nắm được đặc trưng cơ bản của danh
từ nhằm để tránh sự nhầm lẫn giữa danh từ với các từ loại khác.
-Tôi cung cấp cho các em một số vốn từ về danh từ để từ đó hướng dẫn các
kĩ năng sử dụng danh từ Tiếng Việt.
-Tôi luôn nghiên cứu bài dạy thật kĩ để nắm vững nội dung cần dạy cho học
sinh, tôi áp dụng những phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phân
tích ngữ liệu mẫu, từ đó từng bước nhận ra những dấu hiệu của khái niệm, lĩnh
hội nội dung bài học. Kế tiếp tôi hướng dẫn học sinh thực hành, luyện tập (với
các dạng bài tập đã nêu ở trên) bằng nhiều hình thức tổ chức lớp học sau:
+ Học theo lớp: tổ chức học chung toàn lớp.
+ Học theo nhóm: tổ chức nhiều nhóm trao đổi bàn bạc về một nội dung bài
học.
+ Học cặp đôi: hai học sinh gần nhau (cùng bàn) cùng trao đổi thảo luận về
một nội dung, một câu hỏi được giáo viên nêu ra.
+ Học cá nhân: từng cá nhân làm việc độc lập để cùng thực hiện một nhiệm
vụ học tập.
-Tôi thường xuyên dự tính trước những khó khăn mà học sinh có thể vấp
phải hoặc những tình huống có thể xảy ra trên lớp để khi soạn giáo án có biện
pháp giải quyết kịp thời. Tùy từng loại bài tập mà tôi có những cách gợi ý,
hiệu quả cao thì bản thân người giáo viên phải có bước chuẩn bị tốt nội dung bài
dạy, chú ý khâu soạn Kế hoạch bài học; học sinh phải chuẩn bị bài chu đáo, phải
có nhu cầu ham học, ham thực hành với từng loại bài tập cụ thể. Với sự áp dụng
các biện pháp dạy học thích hợp, tôi nhận thấy học sinh năm nay có nhiều tiến
bộ hơn so với những năm học trước, các em hiểu được cách trình bày bài làm dễ
hiểu rõ ràng và đúng yêu cầu đề ra. Nhờ có nhiều nỗ lực nên tôi đã thu được một
kết quả khả quan. Các em có hứng thú học tập và tiếp thu bài tốt hơn, biết rõ từ
loại danh từ trong câu và cách vận dụng nó để đặt câu, viết đoạn.
Giáo viên cần có thái độ mẫu mực, tận tụy, kiên nhẫn, đối xử công bằng giúp
đỡ học sinh học tập. Giáo viên tổ chức, hướng dẫn, theo dõi học sinh, tạo hứng
thú cho học sinh học tập. Khêu gợi sự tò mò, tìm tòi , thói quen đặt câu hỏi,…
của học sinh trong các tiết học.
2/ Hướng phổ biến áp dụng đề tài:
Qua quá trình thực hiện, đề tài đem lại hiệu quả cao. Tôi thấy đề tài này
không chỉ áp dụng cho học sinh lớp tôi mà còn có thể áp dụng cho cả học sinh
khối 4 ở trường, không những ở năm học này mà còn có thể áp dụng cho nhiều
năm học tiếp theo.
3/ Hướng nghiên cứu đề tài:
Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và áp dụng đề tài này vào năm học tiếp theo.
Không ngừng học tập, tìm tòi và sáng tạo, đổi mới phương pháp - hình thức
tổ chức dạy học để phục vụ cho công tác giảng của bản thân, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục.
* Tóm lại: Hoạt động dạy và học luôn kết hợp hài hòa với nhau sao cho học
sinh nhận thức tốt và phát huy tích cực, sáng tạo trong học tập, các em có ý thức
tự tìm tòi, học hỏi bạn bè, vượt lên bằng kiến thức tự có của bản thân, năng động
hơn, đem lại kết quả tốt đẹp hơn.
Qua kết quả đạt được, tôi càng phấn khởi vì công sức của mình bỏ ra đã
được đền bù bằng một kết quả đáng khích lệ. Tôi mong rằng các em sẽ tự tin
không chỉ trong giao tiếp hằng ngày mà còn tiến xa hơn nữa trong tương lai khi
3/ VỞ BÀI TẬP môn Tiếng Việt lớp 4 NXB – GD 2005.
4/ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG môn Tiếng Việt lớp 4 NXB – HN 2005.
5/ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC NXB – GD
2006.
6/ Một số tài liệu khác của NXB – GD.
ĐÁNH GIÁ - NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ - NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ - NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
class="bi x0 y0 w2 h1"