SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP5 PHÂN BIỆT TỪ
ĐỒNG ÂM VÀ TỪ NHIỀU NGHĨA”
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thông qua giao tiếp.
Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng ngôn ngữ là công cụ cực mạnh để học
sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng sử dụng từ Tiếng Việt. Do đó, việc đưa
học sinh vào các hoạt động học tập trong giờ Tiếng Việt được giáo viên đặc biệt quan
tâm, chú ý. Ngôn ngữ Tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, một trong
những nội dung khó đó là phần nghĩa của từ.
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, nội dung nghĩa của từ được tập trung biên
soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu. Nhiều năm liền trong quá trình dạy học, tôi
thường nhận thấy các em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ
đồng nghĩa cũng không mấy khó khăn, tuy nhiên khi học xong từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa cũng không được như mong đợi của cô giáo, kể cả học sinh khá, giỏi đôi khi cũng
còn thiếu chính xác. Trăn trở về vấn đề này, qua nhiều năm dạy lớp 5, tôi đã rút ra một số
kinh nghiệm nhỏ về cách hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Vì
thế, tôi đã chọn sáng kiến kinh nghiệm:” Một số biện pháp giúp học sinh lớp5 phân biệt
từ đồng âm và từ nhiều nghĩa”
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Thực trạng học sinh trong quá trình học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
1. Những khó khăn mà học sinh thường gặp phải
- Hầu hết học sinh lớp 5 khi học các tiết luyện từ và câu về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
đều gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể là:
- Khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: học sinh còn giải nghĩa từ sai, lúng túng và còn
lủng củng.
-Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa: còn mơ hồ, định tính.
- Phân biệt nghĩa gốc và một số nghĩa chuyển của từ: học sinh còn làm sai đến 40-45%.
- Đặt câu có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa: chưa chính xác, chưa hay, chưa đúng

năm học 2009 -2010) như sau:
Bài 1: Dòng nào dưới đây có từ nhiều nghĩa?
a, đàn gà mới nở - hoa nở- nở nụ cuời
b, vàng ưom - vàng hoe - vàng tươi
c, thơ thẩn - thơ ca - thơ ngây
Bài 2: Cặp từ nào dưới đây có từ đồng âm?
a, vỗ bờ - vỗ tay
b, vách đá - đá bóng
c, mắt cá - mắt lưới
d, lưng núi - đau lưng
Bài 3: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm, những từ nào có
quan hệ nhiều nghĩa với nhau?
Vàng: - Giá vàng nước ta tăng đột biến.
- Tấm lòng vàng.
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản.
Kết quả:
Sĩ số Điểm 9, 10 Điểm 7,8 Điểm 5, 6 Điểm dưới 5
28 4 = 14,3% 7 = 25% 14 = 50% 3 = 10,7%
Với kết quả như trên thực sự là một vấn đề đáng lo ngại, vì thế tôi đã trăn trở tìm ra
nguyên nhân của thực trạng trên. Sau đây là một số nguyên nhân.
4. Nguyên nhân của những khó khăn:
* Lý do thứ nhất: Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và hình thức giống
nhau, đọc giống nhau, viết cũng giống nhau chỉ khác nhau về ý nghĩa.
Ví dụ 1: Từ đồng âm “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công việc” xét về
hình thức ngữ âm thì hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì hoàn toàn khác nhau: “bàn” (1)
là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng để đồ đạc hoặc làm việc, “bàn” (2) là
động từ chỉ sự trao đổi ý kiến.
Ví dụ 2: Từ nhiều nghĩa: “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn”(2) trong “bàn phím”. Hai từ
“bàn” này, về hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì “bàn” (1) là danh từ
chỉ một đồ vật có mặt phẳng, có chân dùng để đi kèm với ghế làm đồ nội thất; “bàn”(2) là

+ thịt (động từ): thịt con gà
- Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế: do trùng hợp ngẫu nhiên( gió bay, bọn bay,
cái bay), do chuyển nghĩa quá xa mà thành( lắm kẻ vì, vì lý do gì), do từ vay mượn trùng
với từ có sẳn( đầm sen, bà đầm, la mắng, nốt la), do từ rút gọn trùng với từ có sẳn( hụt
mất hai ly, cái ly, hai ký, chữ ký )
Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của từ hoặc dùng
với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm.
* Từ nhiều nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các nghĩa
của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau. (SGK Tiếng Việt 5 - trang 67)
VD: Ví dụ : - Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt)
- Từ “mắt” trong câu “quả na mở mắt” là nghĩa chuyển.
Đối với giáo viên có thể hiểu: Một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiện tượng, biểu thị
nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tế khách quan thì từ ấy
được gọi là từ nhiều nghĩa. Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa có mối liên hệ mật thiết với
nhau.
Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều nghĩa với từ một
nghĩa. Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt một khái niệm thì từ ấy chỉ
có một nghĩa.Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật, hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì
từ ấy là từ nhiều nghĩa.
Nhờ vào quan hệ liên tưởng tương đồng (ẩn dụ) và tương cận (hoán dụ) )người ta liên
tưởng từ sự vật này đến sự vật kia trên những đặc điểm, hình dáng, tính chất giống nhau
hay gần nhau giữa các sự vẩt ấy .Từ chỗ gọi tên sự vật, tính chất, hành động này (nghĩa
1) chuyển sang gọi tên sự vật, tính chất, hành động khác nghĩa ( nghĩa 2), quan hệ đa
nghĩa của từ nảy sinh từ đó.
Ví dụ: Chín: (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển cao nhất,
hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
(2) Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến sự phát
triển cao nhất. ( Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)
(3) Sự thay đổi màu sắc nước da .( ngượng chín cả mặt )
(4) Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm .(cam chín).

*Theo cơ chế hoán dụ có tác dụng.
- Dạng
1
:Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.
Ví dụ: Chân
1
, Tay
1
, mặt
1
là những tên gọi chỉ bộ phận được chuyển sang chỉ cái toàn thể (
anh ấy có chân
2
trong đội bóng Tay
2
bảo vệ của nhà máy số ba có Mặt
2
trong hội nghị)
Dạng
2
: nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa.
Ví dụ : Nhà
1
Là công trình xâu dựng (Anh trai tôi đang làm nhà)
Nhà
2
là gia đình ( Cả nhà có mặt)
Ví dụ 2: Thúng
1
: Đồ vật dùng để đựng đan bằng tre hoặc nứa( Cái thúng này đan khéo

Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung khi dạy luyện từ và câu và vận
dụng các phương pháp, hình thức dạy học như:
- Phương pháp hỏi đáp - Hình thức học cá nhân
- Phương pháp giảng giải - Thảo luận nhóm
- Phương pháp trực quan - Tổ chức trò chơi
- Phương pháp luyện tập thực hành
* Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên chủ yếu thông
qua việc tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh củng cố, nắm vứng kiến thức,
nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa…
+ Yêu cầu học sinh hiểu và nắm ghi nhớ để vận dụng
Tâm lí học sinh làm những bài tập đơn giản, để lộ kiến thức, ngại học thuộc lòng, ngại
viết các đoạn, bài cần yếu tố tư duy. Biết vậy tôi thường cho học sinh ngắt ý của phần ghi
nhớ cho đọc nối tiếp, rồi ghép lại cho đọc toàn phần, đọc theo nhóm đôi, có lúc thi đua
xem ai nhanh nhất, ai đọc tốt. Cách làm này tôi đã cho các em thực hiện ở các tiết học
hòn đá đá bóng
trước đó (về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa) do đó dạy đến từ đồng âm, từ nhiều nghĩa các
em cứ sẵn cách tổ chức như trước mà thực hiện. Và kết quả có tới 27/30 học sinh thuộc
ghi nhớ một cách trôi chảy tại lớp chỉ còn 3 em có thuộc song còn ấp úng, ngắc ngứ.
+ Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau
Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau (nói đọc giống
nhau viết cũng giống nhau). Ta thấy rõ ràng là “đường” (1) trong “đường rất ngọt”,
“đường” (2) trong “đường dậy điện thoại” và “đường” (3) trong “ngoài đường xe cộ đi lại
nhộn nhịp” đều phát âm, viết giống nhau. Vậy mà “đường” (1) với “đường” (2) và
“đường” (1) với “đường” (3) lại có quan hệ đồng âm, còn “đường” (2) với “đường” (3)
lại có quan hệ nhiều nghĩa.
Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của các từ đường (1),
đường (2), đường (3) là gì?
Đường (1): (đường rất ngọt): chỉ một chất có vị ngọt
Đường (2): (đường dây điện thoại): chỉ dây dẫn, truyền điện thoại phục vụ cho việc thông
tin liên lạc

là hiện tượng đồng âm hay không phải đồng âm, không yêu cầu các em giải thích gì và sẽ
có hai phương án trả lời: đồng âm/không đồng âm. Đến đây giáo viên gợi mở để biết từ
“đi” trong các câu văn trên có phải là quan hệ đồng âm hay không, các em về nhà suy
nghĩ tìm hiểu SGK các tiết luyện từ và câu sau cô sẽ giúp các em tìm câu giải đáp.
Để không mất nhiều thời gian tiết học cho nội dung trên, giáo viên viết sẵn nội dung câu
hỏi gợi mở ra bảng phụ và tiến hành sau khi học sinh lấy ví dụ về từ đồng âm để khẳng
định lại ghi nhớ. Lúc đó tự các em sẽ có một sự so sánh giữa các ví dụ về từ đồng âm với
ví dụ trên đây, đồng thời giáo viên kích thích đươc tư duy của học sinh. Trước khi kết
thúc tiết học, giáo viên cũng không quên nhắc học sinh về nhà tiếp tục suy nghĩ trả lời
giải thích về hiện tượng từ “đi” trong các câu văn đã cho.
Trong bài dạy “từ nhiều nghĩa” giáo viên có thể lấy thêm một hai trường hợp về từ nhiều
nghĩa, sau đó quay lại lấy một ví dụ về từ đồng âm cho học sinh nhận định về các từ
trong ví dụ.
VD: từ “chỉ” trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa? Vì sao?
Cái kim sợi chỉ – chiếu chỉ – chỉ đường – một chỉ vàng. ở câu hỏi này, giáo viên yêu cầu
học sinh giải thích lí do lựa chọn để khẳng định kiến thức và khả năng nhận diện, phân
biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Sau khi học sinh trả lời giáo viên chốt lại từ “chỉ”
trong các trường hợp trên có quan hệ đồng âm vì nghĩa của từ “chỉ” trong mỗi trường hợp
khác nhau, không có quan hệ với nhau.
Nội dung trên, giáo viên cũng tiến hành như trong khoảng 2-3 phút, dành thời gian cho
các em làm bài tập phần luyện tập. Cuối tiết học giáo viên nhấn mạnh: các em cần lưu ý
phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, tránh nhầm lẫn đáng tiếc giữa hai hiện tượng
này.
3. Dựa vào yếu tố từ loại để giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa.
Biện pháp này thực ra ít khi tôi vận dụng bởi nếu học sinh đã hiểu đúng nghĩa của từ.
Thuộc được nhớ thì không cần thiết phải dùng đến cách dựa vào yếu tố từ loại, tuy nhiên
đối với một số học sinh trung bình và yếu giáo viên có thể kết hợp cả 3 biện pháp.
Nếu trong thực tế hàng ngày học sinh có thể bắt gặp hiện tượng một từ nào đó phát âm
gần nhau nhưng xét về từ loại khác nhau thì kết luận đó là hiện tượng đồng âm. Chẳng

chúng có sự liên hệ với nhau về nghĩa. Trong một số bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi, có
một số trường hợp giống nhau về âm thanh nhưng khó phân biệt hiện tượng đồng âm hay
nhiều nghĩa.
VD: Các từ trong mỗi nhóm dưới đây có quan hệ như thế nào?
a) Đánh cờ, đánh giặc, đánh trống
b) Trong veo, trong vắt, trong xanh
c) Thi đậu, xôi đậu, chim đậu cành
Xét về từ loại thì nhóm c các từ “đậu” có quan hệ đồng âm với nhau vì đậu “trong thi
đậu” là tính từ (đỗ, trúng tuyển) “đậu” trong “xôi đậu” là danh từ (chỉ một loại quả, củ
dùng làm lương thực, thức ăn), “đậu” trong “chim đậu trên cành” là động từ “nghỉ tạm
dừng lại”.
ở nhóm a, các từ “đánh” đều là động từ nhưng xét về nghĩa các từ “đánh cờ” (một trò
chơi), “đánh giặc” (chiến đấu với kẻ thù bằng nhiều cách) và “đánh trống” (dùng đùi
hoặc tay đánh vào mặt trống cho phát ra âm thanh) thì nghĩa của chúng có liên quan đến
nhau, đều tác động đến một sự vật khác, làm cho sự vật đó có sự thay đổi, vì vậy các từ
“đánh” ở nhóm a có quan hệ nhiều nghĩa.
Tuy nhiên các từ “trong” ở nhóm b cũng là các từ có cùng từ loại (tính từ). Song chúng
lại có quan hệ đồng nghĩa với nhau.
Trong quá trình dạy bồi dưỡng học sinh giỏi để giúp học sinh làm tốt các bài tập như trên,
giáo viên yêu cầu các em luôn nắm chắc nghĩa của từ và suy xét kĩ lưỡng nghĩa của các
từ đó, không được bộp chộp ngộ nhận hoặc mới chỉ nhiều nghĩa mang máng mà đã vội
kết luận mối quan hệ giữa các từ đã
4. Tìm ra dấu hiệu chung nhất để phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Sau các bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cùng với các bài luyện tập, có thể giúp
học sinh rút ra so sánh như sau:
* Điểm khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa:
Từ đồng âm
- Là hai hoặc nhiều từ có cùng hình
thức ngữ âm: (hòn) đá và đá( bóng)
- Các nghĩa hoàn toàn khác biệt

mang nghĩa chuyển?
Chân: a. Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
b. Bé đau chân
Đối với bài tập trên giáo viên yêu cầu học sinh nêu được nghĩa của từ “chân” trong mỗi
câu và xác định nghĩa chuyển, nghĩa gốc “chân” trong câu a chỉ một bộ phận làm trụ đỡ
của cái kiềng – nghĩa chuyển, “chân” trong câu b một bộ phận của cơ thể đỡ và di chuyển
cơ thể – nghĩa gốc.
Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm hoặc nhiều nghĩa
* Đối với từ đồng âm
Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: bàn, cờ, nước
ở bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh với mỗi từ các em cần đặt ít nhất là hai câu,
các từ đó có quan hệ đồng âm với nhau.
VD: Bàn: - Cả nhà ngồi vào bàn để ăn cơm
- Bố mẹ em cũng đang bàn chuyện cưới vợ cho anh trai
* Đối với từ nhiều nghĩa
Đặt câu để phân biệt nghĩa của từ “đứng”
Đứng: Nghĩa 1: ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền
Nghĩa 2: Ngừng chuyển động
Giáo viên có thể gợi ý nghĩa 1, nói tới một tư thế của người hoặc động vật. Nghĩa 2 nói
tới trạng thái của một đồ vật hiện tượng, dựa vào gợi ý đó học sinh có thể đặt câu.
Nghĩa 1: Chúng em đang đứng nghiêm trang chào cờ
Nghĩa 2: Kim đồng hồ đứng lại
Dạng 3: Phân biệt quan hệ đồng âm, quan hệ nhiều nghĩa
VD: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm, những từ nào có
quan hệ nhiều nghĩa với nhau?
Vàng: - Giá vàng nước ta tăng đột biến
- Tấm lòng vàng
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản
ở bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa của các từ “vàng” rồi xác định mối
quan hệ giữa chúng dựa vào các căn cứ như mục (II.2)

b. Khẩn trương tránh những điều
không may sắp xảy đến
c. Sự di chuyển nhanh của phương
tiện giao thông
d. Sự di chuyển nhanh bằng chân
Đáp án: 1-d, 2-c, 3-a, 4-b
Đối với những bài tập trên, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để nối những cụm từ
hoặc câu với nghĩa thích hợp ở những trường hợp dễ nhận thấy trước. Trường hợp khó
còn lại nếu học sinh chưa hiểu nghĩa các em có thể vận dụng cả phương pháp loại trừ
ở cả từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có mặt cả bốn dạng bài tập trên. Bên cạnh đó, mỗi
nội dung lại có một số dạng bài tập riêng.
* Đối với từ đồng âm có dạng bài tập đố vui
Trùng trục như con chó thui
Chín mặt, chín mũi, chín đuôi, chín đầu
(Là con gì?)
Hoặc dạng bài tập chỉ ra những từ đồng âm được dùng để chơi chữ trong các câu sau:
a. Bác bác trứng, tôi tôi vôi
b. Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa
Với bài tập này ngoài việc chỉ ra các từ đồng âm, đối với học sinh khá giỏi, giáo viên nên
yêu cầu các em nêu cách hiểu của mình về các câu trên
* Đối với từ nhiều nghĩa có dạng bài tập thay thế từ
Tìm từ có thể thay thế từ “mũi” trong các cụm từ sau:
- Mũi thuyền
- Mũi súng
- Mũi đất
- Mũi quân bên trái đang thừa thắng xốc tới
- Tiêm ba mũi
6. Tự tích lũy một số trường hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong cuộc sống
hàng ngày để có thêm vốn từ trong giảng dạy
* Đối với từ đồng âm:

(ca dao)
- Kể chi tuổi tác già mua
Trống chèo xin cứ thi đua đến cùng
(Mẹ Suốt – Tố Hữu)
i. lợi
- Bà già đi chợ cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn
Trong bài thơ “Rắn đầu biếng học” của Lê Quý Đôn cũng sử dụng từ đồng âm để chơi
chữ:
Chẳng phải liu điu cũng giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối
Lằn lưng cam chịu dấu roi da
Từ nay Trâu Lỗ xin gắng học
Kẻo hổ mạng danh tiếng thế gia
Câu chuyện vui sau đây cũng sử dụng từ đồng âm để chơi chữ:
Xưa, có anh chàng mượn của người hàng xóm một cái vạc đồng. ít lâu sau anh ta trả cho
người hàng xóm hai con cò, nói là vạc đã biến mất nên đền hai con cò này. Người hàng
xóm đi kiện. Quan gọi hai người đến xử. Người hàng xóm thưa: “Bẩm quan, con cho hắn
mượn vạc, hắn không trả”, anh chàng nói “bẩm quan, con đã đền cho anh ta cò”.
- Nhưng vạc của con là vạc thật
- Dễ cò của tôi là cò giả đấy phỏng? – Anh chàng trả lời
- Bẩm quan, vạc của con là vạc đồng
- Dễ cò của tôi là cò nhà đấy phỏng?
* Đối với từ nhiều nghĩa:
a. chạy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status