SKKN một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng nghĩa từ nhiều nghĩa từ đồng âm - Pdf 22

TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HS LỚP 5 PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG NGHĨA -
TỪ NHIỀU NGHĨA - TỪ ĐỒNG ÂM
PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I-ĐẶT VẤN ĐỀ
1-Cơ sở lí luận :
Bước sang thế kỉ XXI , điều kiện kinh tế xã hội nước ta có những thay đổi lớn.
Đất nước bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá .Cơ cấu kinh tế, trình độ
phát triển sản xuất ,khoa học kĩ thuật, nhu cầu xã hội thu nhập quốc dân có những
bước phát triển quan trọng .Vấn đề hội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc , vấn đề về kinh tế tri thức, công nghệ thông tin, xu hướng quốc tế hoá trong kinh
tế đang thường xuyên đặt ra và ngày càng cấp bách .Những thay đổi đó trong kinh tế
xã hội , trong giáo dục dẫn tới những yêu cầu đòi hỏi trong việc dạy Tiếng Việt nói
chung và dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng . Đối với môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu
học nó không thể là bản sao từ chương trình khoa học Tiếng Vịêt.Vì nhà trường có
nhiệm vụ riêng của mình .Nhưng với tư cách là một môn học độc lậpTiếng Việt có
nhiệm vụ cung cấp cho HS những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (hệ thống âm
thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp khả năng biểu cảm của ngôn ngữ quy tắc họat
động của ngôn ngữ ) Đồng thời hình thành cho HS kĩ năng giao tiếp( Nghe, nói, đọc,
viết).Ngoài ra Tiếng Việt còn là công cụ giao tiếp và tư duy cho nên nó còn có chức
năng kép mà các môn học khác không có được, đó là: Trang bị cho HS một số công
cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường .Tiếng Việt là
công cụ để học các môn học khác ; kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là phương tiện là điều
kiện thiết yếu của qúa trình học tập .Bên cạnh chức năng giao tiếp , tư duy ngôn ngữ
còn có chức năng quan trọng nữa đó là thẩm mĩ , ngôn ngữ là là phương tiện để tạo
nên cái đẹp; hình tượng nghệ thuật.Trong văn học HS phải thấy được vẻ đẹp của
ngôn ngữ vì thế ỏ trường tiểu học Tiếng Vịêt và văn học được tích hợp với nhau,Văn
học giúp HS có thẩm lành mạnh, nhận thức đúng đắn, có tình cảm thái độ hành vi của
con người Việt Nam hiện đại, có khả năng hòa nhập và phát triển cộng đồng .Mặt
khác ngôn ngữ văn học còn là biểu hiện bậc cao của nghệ thuật ngôn từ .Cho nên dạy
tiếng trong khi dạy tiếng trong khi dạy văn là cách bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ tối

+Khi thể hiện tiết dạy hầu như GV chỉ chú ý đến đối tượng học sinh khá, giỏi ,
còn lại đa số HS khác thụ động ngồi nghe rồi một số em khác có muốn nêu cách hiểu
của mình về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm cũng sợ sai lệch, từ đó tạo
nên không khí một lớp học trầm lắng, HS làm việc tẻ nhạt , thiếu hứng thú không tạo
được hiệu quả trong giờ học .
+Trong những bài dạy về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm hầu như
GV ít đọc tài liệu tham khảo, ít học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp
Phải chăng những tồn tại đó còn tiềm ẩn trong mỗi tiết dạy để rồi GV tự dấu đi
những kiến thức tài năng sẵn có và những gì đã được học tập, lĩnh hội ở nhà trường
sư phạm rồi dần dần đánh mất . Đứng trước thực trạng như vậy và rút kinh nghiệm
qua 5 năm dạy-học lớp 5, năm nay tôi có : “Một số kinh nghiệm giúp HS lớp 5 phân
bịêt từ nhiều nghĩa- từ đồng nghĩa, từ đồng âm” .Nhằm giúp học sinh tháo gỡ những
lầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm tạo nền tảng để các em
học tốt môn Tiếng Vịêt .Tuy là bước đầu nhưng tôi mạnh dạn nêu lên và mong được
sự ủng hộ quan tâm, đóng góp của các bạn đồng nghiệp để tôi được hòan thiện hơn
về kinh nghiệm này .
II-MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tôi chọn đề tài này nghiên cứu với mục đích :
-Giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa - từ đồng
nghĩa - từ đồng âm .Góp phần làm giàu thêm vốn từ cho HS .
-Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật và tác được ý nghĩa từ
vựng của từ khỏi sự vật được biểu thị bởi từ .
-Giúp HS có năng lực sử dụng từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ đồng âm
trong sinh sản văn bản bằng hình thức nói họăc viết, để từ đó các em sử dụng được
Tiếng Việt văn hóa làm công cụ giao tiếp tư duy
III-KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1-Khách thể nghiên cứu
Việc dạy từ nhiều nghĩa- từ đồng nghĩa - từ đồng âm ỏ nhà trường tiểu học .
2-Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm giúp HS phân bịêt về từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa - từ

tư duy trừu tượng , từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn nên giai đoạn đầu khi giới
thiệu về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa ,từ đồng âm cần phải tác động bằng kích thích
vật thật và bằng lời .Mặt khác các em cần được nghe, thấy, phát âm và viết từ mới để
các em nói thành tiếng hoặc nói thầm đều do chúng quan sát được.
e)Nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ
Nghĩa là khi dạy từ nhiều nghĩa - từ đồng nghĩa- từ đồng âm cần được trình
bày như là việc thiết lập quan hệ giữa từ và yếu tố hiện thực , quan hệ giữa từ với một
lớp sự vật cùng loại được biểu thị bởi từ . Đó là hai mặt hình thức và nội dung của tín
hiệu từ, hai mặt này gắn chặt với nhau , tác động lẫn nhau, phải làm cho HS nắm
vững hai mặt này và mối tương quan giữa chúng .
2-Phương pháp dạy -học
a)Khái niệm : Phương pháp dạy-học là tổ hợp cá cách thức họat động của thầy và trò
trong quá trình dạy -học dưới sự hứong dẫn chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt
nhiệm vụ dạy học
b)Các phương pháp dạy-học cơ bản
-Phương pháp thuyết trình
-Phương pháp đàm thoại
-Phương pháp trực quan
-Phương pháp thực hành luyện tập
II-THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1-Đặc điểm địa phương
Địa phương là một xã miền núi nên HS trường tôi hầu hết là con em có hoàn
cảnh kinh tế gia đình còn khó khăn , điều kiện học tập của con em còn thấp , đặc bịêt
sự quan tâm của phụ huynh còn hạn chế, phần nào làm ảnh hưỏng đến kết quả học
tập của học sinh
2-Đặc điểm của nhà trường
Năm học 2006- 2007 Trường tiểu học Đức Đồng có 487 học sinh với tổng số
23 cán bộ giáo viên . Ban giám hiệu vững về chuyên môn, có bề dày kinh nghiệm
trong giảng dạy và nhiều giáo viên là giáo viên giỏi huyện, 3 năm liền có giáo viên
giỏi tỉnh , đã có nhiều tiết thao giảng về từ nhiều nghĩa- từ đồng nghĩa- từ đồng âm

Qua một số bài tập làm văn mà HS lớp tôi đã làm do HS không hiểu được
nghĩa của từ và cách sử dụng nó nên khi viết bài văn về “ tả cây bóng mát mà em
yêu thích” . Em Nguyễn Hùng có đoạn viết : “Lá bàng xanh, thân bàng nâu, quả
bàng cũng màu xanh ”. Hoặc đối với đề bài tả về đồ chơi mà em thích nhất bạn Bùi
Lí đã viết : “ con gấu bông có cặp mắt đen sì mũi nhọn như bóng ”.
Sỏ dĩ các em dùng từ như vậy là do không nắm được từ đồng nghĩa, cơ sở tạo
nên từ nhiều nghĩa
2-Học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp
Khi dạy về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm tôi thường trao đổi với
ban giám hiệu, bạn bè đồng nghiệp, để tìm ra cái hay, cái mới trong giảng dạy nên đã
rút ra được nhiều kinh nghiệm bổ ích cho bản thân.
3-Hướng dẫn học sinh khi học các khái niệm về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa,
từ đồng âm
3.1 Từ đồng nghĩa :
Định nghĩa : *Từ đồng nghĩa là các từ khác nhau về mặt ngữ âm nhưng giống
nhau về mặt ý nghĩa , chúng cùng biểu thị các sắc thái khác nhau của cùng một khái
niệm.( Tài liệu của Trường đại họcVinh )
Ví dụ: Cùng nói đến khái niệm ăn có xơi, nhậu nhẹt
*Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau .
Ví dụ: siêng năng , chăm chỉ,cần cù,
*Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn , có thế thay thế cho nhau trong lời nói. Ví
dụ : hổ, cọp, hùm,
*Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn .Khi dùng những từ này ,ta phải
cân nhắc để lựa chọn cho đúng .Ví dụ :
+ăn, xơi, chén, (biểu thị thái độ, tình cảm khác nhau đối với người đối thoại
hoặc điều được nói đến).
+mang, khiêng, vác, ( biểu thị những cách thức hành động khác nhau )
(Sách Tiếng Việt 5 tập 1)
3.2 Từ nhiều nghĩa :
Định nghĩa :*Là từ dùng một hình thức âm thanh biểu thị nhiều ý nghĩa (biểu

ngắt câu ) (Sách Tiếng Việt 5 tập 1)
4-Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm
4.1-Từ đồng nghĩa
* Bản chất của từ đồng nghĩa :Thực tế học sinh thường nhầm lẫn giữa từ
đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm.Không nắm được nghĩa của chúng bởi vì
định nghĩa về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chưa chính xác dẫn đến sự
khó khăn cho HS trong vịêc nhận diện. Phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ
đồng âm chỉ dựa vào định nghĩa là chưa đủ . Đứng trước thực tế đó nên tôi đã mở
rộng thêm cho HS một số kiến thức sau:
-Từ đồng nghĩa : Bản chất của từ đồng nghĩa ( tính ở mức độ của từ đồng
nghĩa )
Khả năng họat động tác động đến sự di chuyển của các sự vật có các từ: ném,
lao, phóng, quăng, vứt, xán xô, đẩy liệng, tống đạp, đá, nhấn, dìm, kéo, dật, rút, gieo,
rắc, vãi, trút, xoay, quay, gồng,, gánh
Căn cứ vào chiều di chuyển để chia ra các nhóm đồng nghĩa .
-Di chuyển ra xa chủ thể: ném, phóng, lao
-Di chuyển gần lại : lôi, kéo, co, giật, rút
-Di chuyển quay xung quanh chủ thể: gánh,xoay, quay
-Di chuyển cùng chủ thể : Gồng, gánh, bưng, đội, cõng
Các từ trong từng nhóm có mức độ đồng nghĩa cao hơn so với các từ trong các nhóm
khác .
a)Bản chất của từ đồng nghĩa là những từ đồng nhất với nhau về nghĩa nhưng
có tính mức độ .Tính mức độ này là do các từ ngoài sự đồng nhất thì có sự khác biệt
nhất định về sắc thái nghĩa .
Ví dụ : Về trạng thái chấm dứt sự sống: chết, hi sinh, tử, mất
Về hiện tượng hấp thụ thức ăn: Tống, hốc, tọng, ăn
Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác , đó là chỉ ra sự giống nhau và khác
nhau .Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái .
Ví dụ 1: Quả, trái
Giống nhau : Sản phẩm của cây trong một thời kì sinh trưởng nhất định (quả

Ví dụ : Hoài sơn/ củ mài ; trần bì/ vỏ quýt: Các từ Hán Việt dùng trong khoa
học, các từ thuần Việt dùng trong đời sống .
d)Hiện tượng đồng nghĩa không tách rời hiện tượng đa nghĩa, đó là nguyên
nhân của tính mức độ . Các từ đồng nghĩa với nhau không phải đồng nghĩa về tòan
bộ dung lượng nghiã của nó mà chỉ đồng nghĩa ở một một nghĩa nào đó mà thôi.
Ví dụ : Trông có ba nghĩa : -hướng mắt quan sát
-Giữ, chăm sóc
-nương vào, nhờ vào
Dựa có ba nghĩa : -Theo , căn cứ theo
-Tựa vào, nhờ vào
-Nương vào, nhờ vào
Trông và dựa đồng nghĩa với nhau ở nghĩa thứ ba
*Một từ nếu là từ đa nghĩa , với các nghĩa gốc khác của nó, nó có thể đồng nghĩa với
nhiều từ khác nhau
Ví dụ : Ăn -thắng (Đội tớ ăn rồi, đội cậu thua )
-Hợp (ăn cánh, ăn ảnh, ăn hình )
-Hưởng, nhận ( tàu ăn than
-Hao, tốn ( xe ăn xăng)
*Phân loại từ đồng nghĩa:
Từ đồng nghĩa xẩy ra ở nhiều cấp độ :
-Hình vị với hình vị : xanh- thanh- lam-bích- lục
Đánh- chiến – kích -đấu
-Từ với từ : Thiên- trời ; sơn –núi
-Từ Hán Việt với từ thuần Việt : Huynh đệ-Anh em; phụ nữ- đàn bà
-Từ thuần Vịêt với từ Thuần Việt : ăn-xơi
-Cụm từ với cụm từ :
*-nguồn gốc của từ đồng nghĩa
a)Đồng nghĩa do cấu tạo từ , đồng nghĩa sẵn có giữa các yếu tố thuần Việt .
Ví dụ : Từ các từ Nhanh, mau, chóng có thể cấu tạo ra hàng lọat từ:
Nhanh : nhanh chóng , nhanh nhanh, nhanh nhẹn, nhanh nhạy

vật, tính chất, hành động khác nghĩa ( nghĩa2), quan hệ đa nghĩa của từ nảy sinh từ đó
.
Ví dụ : Chín: (1) chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ phát triển
cao nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng.
(2)Chỉ quá trình vận động, quá trinh rèn luyện từ đó, khi đạt đến
sự phát triển cao nhất .( Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã chín)
(3)Sự thay đổi màu sắc nước da .( ngượng chín cả mặt )
(4)Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm .(cam chín).
Như vậy muốn phân tích được nghĩa của từ đa nghĩa , trước hết phải, miêu tả
thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho sự phân tích nghĩa .Nghĩa
của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở :
+Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có hai dạng sau :
-Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các
sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan về hình dáng.
Ví dụ : Mũi
1
( mũi người) và Mũi
2
( mũi thuyền) :Miệng
1
( miệng xinh) và
miệng
2
( miệng bát)
Dạng 2 : Nghĩa của từ phát triểm trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức năng,
của các sự vật, đối tượng .
Ví dụ : cắt
1
( cắt cỏ) với cắt
2

1
Là công trình xâu dựng (Anh trai tôi đang làm nhà)
Nhà
2
là gia đình ( Cả nhà có mặt)
Ví dụ 2: Thúng
1
: Đồ vật dùng để đựng đan bằng tre hoặc nứa( Cái thúng này
đan khéo quá)
Thúng
2
: Chỉ đơn vị ( Hai thúng lúa)
Dạng 3 : Nghĩa của từ phát triển dựa trên nguyên liệu hay công cụ với sản
phẩm được làm ra từ nguyên liệu hay công cụ đó hoặc hành động dùng nguyên liệu
hay công cụ đó .
Ví dụ : Muối
1
: Nguyên liệu ( Một kg muối) ; muối
2
: hành động làm cho thức
ăn chín hoặc lên men ( Chị ấy muối dưa ngon lắm)
4.3Từ đồng âm :
a)Văn cảnh( ngữ cảnh) là tập hợp những từ đi kèm một từ nào đó tạo cho từ
tính xác định về nghĩa .
b)Họat động của từ đồng âm :
-Tạo ra những văn cảnh trong đó có nhiều từ đồng âm xuất hiện:
Con ngựa đá con ngựa đá con ngựa đá không đá con ngựa .
-Tạo ra những ngữ cảnh đan xen nhau trong đó có một yếu tố nào đó được hiểu
gấp đôi .
Bà già đi chợ cầu đông,

giống nhau
hoặc gần
giống nhau .
Ví dụ :
Siêng năng,
chăm chỉ,
cần cù ,
Nghĩa của từ được phát triển dựa trên hai cơ
sở :
-Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có
hai dạng sau :
+D
1
:Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống
nhau về hình thức giữa các sự vật hiện tượng
hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương
quan về hình dáng Ví dụ : Mũi
1
( mũi người),
mũi
2
(mũi thuyền)
+D
2
: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ
về cách thức hay chức năng của các sự vật,
đối tượng .Ví dụ: Cắt
1
( cắt cỏ), cắt
2

máy số ba có mặt
2
trong hội nghị )
+D
2
: Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ
Cơ sở tạo ra từ
đồng âm là do
tính chất tiết
kiệm
-Thường xẩy ra ở
những từ có cấu
trúc đơn giản
-Các từ đồng âm
trong Tiếng Việt
chỉ xẩy ra trong
ngữ cảnh vì
Tiếng Việt là
ngôn ngữ không
biến hình
giữa vật chứa với cái được chứa.Ví
dụ :Nhà
1
là công trình xây dựng (Tôi đang
làm nhà),Nhà
2
là gia đình(Cả nhà ăn cơm )
D
3
:Nghĩa của từ phát triển dựa trên quan hệ

Thời điểm dạy và học Học kì I Giữa học kì II
Số học sinh phân biệt
được từ đồng nghĩa, từ
nhiều nghĩa, từ đồng âm
66,6% 90%
Số học sinh đạt điểm
khá, giỏi . 33% 50%
Năm học này học sinh lớp 5 thi học sinh giỏi huyện, tỉnh và tôi đã trực tiếp có
trách nhiệm bồi dưỡng học sinh giỏi trên lớp ở các tiết tự học .Với sự nỗ lực của cô,
trò nên trong đề thi chọn học sinh giỏi ở trường đi thi huyện có :
(1)Tìm 4 từ đồng âm và đặt câu với mỗi từ .
(2)Viết một đoạn văn ngắn trong đó ít nhất có một từ mang nghĩa gốc và một
từ mang nghĩa chuyển .
Nhìn chung các em đã làm đúng và nhiều em viết được đoạn văn hay, đạt điểm
khá cao, cả 5 HS lớp tôi đều được chọn vào đội tuyển dự thi HS giỏi huyện
Năm học 2006-2007 ( tính đến hết tháng 4)lớp 5B có 30 em học sinh do tôi
chủ nhiệm .Tôi đã vận dụng các biện pháp trên ngày càng nhuần nhuyễn hơn ,
thường xuyên tự tìm tòi và đọc tài liệu nên khi ra đề :
(1)Tìm những câu tục ngữ , thành ngữ, ca dao, câu thơ, câu đố có từ đồng
âm .
(2) Đặt câu với từ ăn: (ăn mang nghĩa gốc) và (ăn mang nghĩa chuyển )
Kết quả các em làm đã tăng lên rõ rệt .
Tổng số bài trên trung bình : 28/30 em : đạt 93,3%
Số bài khá, giỏi : 14/30 em : đạt 46,6%
PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I-KẾT LUẬN
Để giúp HS phân biệt và làm đúng được yêu cầu của bài tập về từ đồng nghĩa,
từ nhiều nghĩa, từ đồng âm trong quá trình dạy học – người giáo viên cần
-Giúp học sinh xác định rõ các đặc điểm, cấu tạo của chúng về hình thức và
bản chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status