SKKN một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy - Pdf 47

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở
bậc Tiểu học, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu
kiến thức của các môn học khác, là một công cụ hữu hiệu
trong hoạt động và giao tiếp của học sinh, giúp học sinh tự
tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong
trường học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ
năng cơ bản ở. Do đó, môn Tiếng Việt có một vị trí rất quan
trọng đối với học sinh Tiểu học.
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 gồm nhiều phân
môn: Tập đọc - Học thuộc lòng, Luyện từ và câu, Chính tả,
Tập viết, Tập làm văn, Kể chuyện. Mỗi phân môn đều có
chức năng khi dạy Tiếng Việt cho học sinh đồng thời cũng
chuẩn bị vốn cho học sinh khi học văn. Phân môn Luyện từ
và câu cung cấp toàn bộ kiến thức về quy tắc cấu tạo từ,
biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu - đơn vị nhỏ nhất
để thể hiện chức năng giao tiếp. Dạy từ và câu cũng là một
yếu tố quan trọng để phát triển năng lực trí tuệ, những phẩm
chất đạo đức tốt đẹp của người học sinh. Vì vậy ngay từ ngày
đầu đến trường, học sinh đã được làm quen với từ và câu qua
việc học âm, vần, tiếng, từ ở lớp 1, các kiểu câu đơn giản ở
lớp 2, các từ loại cơ bản ở lớp 3, các biện pháp tu từ nghệ
thuật quen thuộc hoặc cấu trúc về câu, cụm từ, nghĩa của từ
v.v… ở lớp 4, 5. Học từ và câu giúp học sinh tiểu học có hiểu
biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ đặt câu và
tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp.
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ dạy Luyện từ và câu ở
tiểu học là giúp cho học sinh nhận diện, phân loại các đơn vị
ngữ pháp, nắm các qui tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này
trong hoạt động giao tiếp của mình. Đồng thời, dạy từ, câu
còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy giáo dục thẩm mỹ cho học

2. Các từ loại cơ bản trong câu:
Danh từ, động từ, tính từ, đại từ
3. Các kiểu câu chia theo mục đích nói:
Câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến, câu hội
thoại
4. Các bộ phận phụ trong câu
Trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ
Để học học sinh nắm chắc được kiến thức của phân
môn Luyện từ và câu, trước hết các em phải nắm chắc, phân
biệt rõ về từ đơn, từ ghép, từ láy, vì các từ loại trong câu
cũng không nằm ngoài cấu tạo của từ. Trong thực tế giảng
dạy, tôi thấy học sinh sau khi học riêng khái niệm từng bài,
vận dụng giải quyết bài tập thì phần lớn là làm được nhưng
khi được luyện sang bài khác có nội dung kiến thức về cấu
tạo từ xen lẫn nhau (như các bài tập đọc hoặc một số văn
bản khác) thì còn lúng túng, nhầm lẫn giữ từ láy - từ ghép,
một từ ghép thành hai từ đơn hoặc hai từ đơn thành một từ
ghép.
Để hướng dẫn cho học sinh nắm chắc và phân biệt được
từ đơn, từ ghép, từ láy, trước tiên người giáo viên phải hiểu
rõ khái niệm về từ đơn, từ ghép, từ


láy và giúp học sinh hiểu rõ từng khái niệm một cách dễ hiểu
nhất:
*Từ đơn: Có nhiều khái niệm về từ đơn
- Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học ở trường sư phạm
thì giới thuyết: Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên. Đa
số từ đơn Tiếng Việt là từ đơn âm (Ví dụ: sông, núi, đi, chạy,
xấu, đẹp, …). Từ đơn đa âm có thể là từ thuần Việt (Ví dụ: bồ

có đặc trưng ấy. Tuy nhiên cũng nhấn mạnh các dấu hiệu


hình thức của từ láy, giúp học sinh Tiểu học dễ dàng nhận
biết được từ láy trong văn bản đơn giản.
Ở Tiểu học, người ta chỉ nêu nội dung của từng khái
niệm về từ đơn, từ ghép, từ láy ở một mức độ nhất định, có
tính chất sơ giản, ban đầu, phù hợp với đối tượng học sinh
tiểu học. Cũng chính vì lí do đó nên học sinh thường nhầm
lẫn khi xác định, từ đơn, từ ghép, từ láy.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trong hai năm học 2013 - 2014 và 2014 - 2015, tôi
được nhà trường phân công phụ trách lớp 4C, trường Tiểu
học Thị Trấn Thường Xuân. Trong quá trình giảng dạy, có
những thuận lợi và khó khăn như sau:
1. Thuận lợi:
- Đa số nhà học sinh đều ở gần trường, chủ yếu là con
cán bộ công chức, viên chức. Các em cũng thích học môn
Tiếng Việt, đặc biệt là phần cấu tạo từ. Ban gám hiệu nhà
trường quan tâm, tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất để thực
hiện dạy học. Phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học
tập của con em mình, mua các sách tham khảo cần thiết cho
các em học môn Tiếng Việt.
- Tình hình học tập của học sinh năm học này so với
năm học trước cóa những tiến bộ đáng kể, nhất là khả năng
giao tiếp. Học sinh đã tự tin hơn khi trình bày trước đám
đông, có khả năng cảm thụ cái hay cái đẹp của các tác phẩm
văn học.
2. Khó khăn:
Môn Tiếng Việt là một môn tích hợp nhiều kiến thức

- Chưa nhận dạng được một số từ láy, đặc biệt là các từ
láy khuyết phụ âm đầu như: ầm ĩ, ồn ào, ọc ạch, …
- Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ
ghép tổng hợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một
tính từ.
Vì vậy mà qua khảo sát chất lượng đầu năm của lớp 4C
gồm 23 em vào thời điểm tháng 9 năm học 2014 - 2015, học
sinh làm bài tập cấu tạo từ và thu được kết quả như sau:
Kết quả
Cấu tạo từ
Từ đơn
Từ láy
Từ ghép

Đạt yêu cầu
Số lượng
Tỉ lệ
16 em
69,6 %
16 em
69,6 %
17 em
73,9 %

Chưa đạt
Số lượng
7 em
7 em
6 em


tiến.
+ Em dùng dấu gạch xiên (/) để phân từ
câu: Nhờ bạn giúp đỡ, lại có chí học hành,
nhiều năm liền Hanh là học sinh Tiên tiến.
+ Tìm những từ gồm một tiếng và những
từ gồm hai tiếng câu trên.

+ Nhờ /bạn / giúp đỡ / , lại / có / chí /
học hành /, nhiều / năm / liền /
Hanh / là / học sinh /Tiên tiến/.
+ Từ gồm một tiếng: nhờ, bạn, lại,
có, chí, nhiều, …
Từ gồm hai tiếng: giúp đỡ, học
hành, học sinh, Tiên tiến.
+ Từ đơn là từ có một tiếng.

+ Như vậy, từ có một tiếng gọi là từ đơn,
vậy từ đơn là từ như thế nào?
+ Nhận xét gì về nghĩa của từ đơn
+ Những từ có nhiều tiếng như từ “giúp + Tất cả các từ đơn đều có nghĩa.
đỡ”,“học hành”, “học sinh”, “Tiên tiến”
được gọi là từ phức.
+ Vậy từ phức là gì?
+ Từ phức là từ có nhiều tiếng. Từ
nào cũng có ý nghĩa.

* Sau đó, yêu cầu học sinh tự làm nhóm tìm các ví dụ về:
- Từ đơn: mây, mưa, đá, nói, chạy,…
- Từ phức: hoa hồng, hoa mai, bút chì, bút máy, gia đình, ăn
mặc, nhà cửa, cười nói, bàn ghế, bánh kẹo…

mặt hồ
mặt của hồ
(Khi ta chêm thêm tiếng sống và của vào, cấu trúc và nghĩa
của hai tổ hợp trên đã bị phá vỡ, do đó chuồn chuồn nước và
mặt hồ là kết hợp một từ phức)
- Cách 2: Xét xem trong kết hợp có yếu tố nào đã chuyển
nghĩa hay mờ nghĩa gốc hay không.
Ví dụ : bánh dày (tên một loại bánh); áo dài (tên một loại
áo) đều là các kết
hợp của một từ đơn vì các yếu tố dày, dài đã mờ nghĩa, chỉ
còn là tên gọi của một loại bánh, một loại áo, chúng kết hợp
chặt chẽ với các tiếng đứng trước nó để tạo thành một từ
- Cách 3: Xét xem tổ hợp ấy có nằm trong thế đối lập không,
nếu có thì đấy là kết hợp của 2 từ đơn.
Ví dụ 1: Có “xoè ra” chứ không có “xoè vào”
Có “rủ xuống” chứ không có “rủ lên”
Kết luận: xoè ra, rủ xuống là từ phức
Ví dụ 2: Ngược với chạy đi là chạy lại
Ngược với bò vào là bò ra


Kết luận: Những từ “chạy đi”, “bò ra” là những kết hợp
của hai đơn.
2. Dạy từ ghép, từ láy (Bài 4A - Bài 3A - Hướng
dẫn học Tiếng Việt - Dự án VNEN)
Tôi tiến hành theo thứ tự sau:
* Dựa vào sự hiểu biết từ phức học ở Bài 3A - Hướng
dẫn học Tiếng Việt - Dự án VNEN), tôi yêu cầu học sinh cho
các ví dụ về từ phức. Sau đó thực hiện Hoạt động 6 - A. Hoạt
động cơ bản.

đầu và vần giống nhau. Đó là từ láy.
- HS đọc kĩ ghi nhớ. Nêu cách hiểu ghi nhớ cho các bạn
nghe.
- Học sinh tự tìm ví dụ về từ ghép, từ láy.


* Giáo viên khắc sâu cho học sinh về sự giống nhau và
khác nhau của từ ghép, từ láy:
- Giống nhau: Số lượng tiếng : từ hai tiếng trở lên.
- Khác nhau:
+ Từ ghép: Các tiếng có quan hệ về nghĩa
+ Từ láy: Các tiếng có quan hệ về âm.
* Khi củng cố bài để học sinh dễ so sánh từ láy, từ ghép
tôi cho sẵn một yếu tố cấu tạo từ (một tiếng), yêu cầu tìm từ
có tiếng gốc đó theo những kiểu cấu tạo khác nhau.
- Ví dụ: Dựa vào tiếng gốc sau đây, hãy tạo ra các từ
ghép, từ láy: mềm, đỏ, xinh
Học sinh sẽ tìm được như sau:
Tiếng gốc
Từ ghép
Từ láy
- mềm dẻo, mềm nhũn, mềm yếu- mềm mại, mênh mông,
- mềm

mênh mang,…
- đỏ gay, đỏ hoe, đỏ hỏn, đỏ loét,
- đỏ
- đỏ đắn, đo đỏ,….
đỏ ngầu, đỏ ối, đỏ ửng,…..
- xinh xắn, xinh xẻo, xinh

- Các từ không xác định được hình vị gốc (tiếng gốc )
nhưng có quan hệ
về âm thì đều xếp vào lớp từ láy.
Ví dụ : nhí nhảnh, bâng khuâng, dí dỏm, chôm chôm,
thằn lằn, ...
- Các từ có một tiếng có nghĩa và một tiếng không có
nghĩa nhưng các tiếng trong từ được biểu hiện trên chữ viết
không có phụ âm đầu thì cũng xếp vào nhóm từ láy (láy
vắng khuyết phụ âm đầu).
Ví dụ : ồn ào, ầm ĩ, ấm áp, im ắng, ao ước ,yếu ớt ,...
- Các từ có một tiếng có nghĩa và một tiếng không có
nghĩa có phụ âm đầu được ghi bằng những con chữ khác
nhau nhưng có cùng cách đọc ( c/k/q ; ng/ngh ;g/gh ) cũng
được xếp vào nhóm từ láy.
Ví dụ : cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề, ...
Sau đây là một số bài tập để học sinh thực hành:
* Bài tập 1: Em hãy đọc đoạn văn trong bài Con
chuồn chuồn nước dưới đây và tìm từ đơn, từ ghép, từ láy:
Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng, cái đầu tròn và hai
con mắt long lanh như thuỷ tinh ... Bốn cánh chú khẽ rung
rung như còn đang phân vân.
+ Trước khi phân loại từ theo cấu tạo, học sinh phải
vạch được đúng ranh giới từ. Nếu xác định từ sai thì sẽ phân
loại nhầm một từ ghép thành hai từ đơn hoặc ngược lại hai từ
đơn thành một từ ghép. (Ở dạng bài này học sinh không
nhầm từ láy với từ ghép vì từ láy rất dễ nhận ra).
+ Một số học sinh đã xác định cánh chú là một từ ghép.
Kết quả tách từ là:
Bốn / cái / cánh / mỏng / như / giấy bóng/ , cái đầu /
tròn / và / hai / con mắt / long lanh / như / thuỷ tinh / ... Bốn /

tròn / và / hai / con mắt / long lanh / như / thuỷ tinh / ... Bốn /
cánh / chú / khẽ / rung rung / như / còn / đang / phân vân/ .
- Từ đơn: bốn, cái, cánh, mỏng, như, tròn, và, hai, như,
bốn, cánh, chú, khẽ, như, còn, đang.
- Từ ghép: giấy bóng, cái đầu, con mắt, thủy tinh,
- Từ láy: long lanh, rung rung, phân vân
*Bài tập 2: Hãy xếp các từ: bạn học, khúc khích, quê
hương, mặt mũi, nết na, nhấp nhổm, tốt tươi, thoang thoảng,
đi đứng, lấp lánh vào 2 nhóm từ ghép và từ láy.
Một số học sinh đã xếp mặt mũi, tốt tươi, đi đứng vào từ
láy. Tôi đã tiến hành sửa như sau:
- Vì sao em xếp các từ đó vào nhóm từ láy? (...... vì
cùng có phụ âm đầu


giống nhau)
- Mỗi tiếng tốt và tươi, mặt và mũi, đi và đứng có nghĩa rõ
ràng không?
(.... có)
- Như vậy, trường hợp cả hai tiếng đều có nghĩa rõ ràng
thì xếp vào từ ghép.
+ Các nhóm từ xếp là:
- Từ ghép: bạn học, quê hương, mặt mũi, tốt tươi, đi
đứng.
- Từ láy: nết na, lấp lánh, thoang thoảng, khúc khích,
nhấp nhổm.
* Giáo viên chốt lại: Ở bài tập này, một số từ vừa có
quan hệ về nghĩa, vừa có quan hệ về âm thì xếp vào từ
ghép.
Khi học sinh biết cái sai, hiểu vì sao lại sai, tôi khắc


b) Các từ láy

:
-

mềm nhũn

-

mềm mại
-

xinh đẹp

-

xinh xắn
-

khoẻ mạnh

-

khoẻ khoắn
-

mong chờ

-

làm rất tốt. Đặc biệt, những dạng bài tập này khi làm ở tiết
ôn tập hay ôn luyện vào buổi học thứ hai, các em rất có
hứng thú học tập, làm bài nhanh hơn và ít nhầm lẫn giữa từ
đơn với từ phức, hay từ ghép với từ láy.
Khi dạy ôn kiến thức về cấu tạo từ, để học sinh học mà
không cảm thấy nhàm chán tôi đã sử dụng nhiều hình thức
dạy học khác nhau như làm vào phiếu, thảo luận nhóm để
đưa ra kết quả hay tạo sự thi đua giữa các nhóm, có sự khích
lệ kịp thời cho bằng hình thức tặng hoa nếu cá nhân học sinh
hoặc nhóm hoàn thành tốt (Vì theo thông tư 30/ BGD&DT -


Về đánh giá học sinh Tiểu học thì không còn cách đánh giá
bằng điểm số cho học sinh)
Vào thời điểm đầu tháng 3 năm 2015, tôi ra một số đề
Tiếng Việt bổ sung cho học sinh lớp 4C (23 em), trong đó có
dạng bài tập về tìm từ đơn, từ ghép, từ láy. Bài tập có dạng
như sau:
Bài 1: Tìm từ đơn, từ phức trong ca dao sau:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Bài 2: Viết một đoạn văn ngắn về tình bạn (từ 5 đến 7
câu), trong đó có ít nhất 2 từ láy và 2 từ ghép.
Bài 3: Xếp các từ: châm chọc, chậm chạp, mê mẫn,
mong ngóng, nhỏ nhẹ, mong mỏi, phương hướng, vương vấn,
tươi tắn vào hai cột: từ ghép, từ láy.
Những dạng bài tập trên đều là các dạng bài tập nâng
cao nhưng các em đều làm đúng 100%, không còn sự nhầm

nghiệm để giờ dạy đạt hiệu quả. Đồng thời bản thân luôn
chú tâm tìm và phát hiện các sáng kiến để nâng cao chất
lượng dạy học cho các em. Mặc dù đã rất cố gắng song năng
lực còn có những hạn chế, vì vậy sáng kiến kinh nghiệm của
tôi sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Kính mong
nhận được những ý kiến giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, đồng
chí đồng nghiệp để sáng kiến ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các
đồng nghiệp!




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status