Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng
2.1. Thuận lơi – khó khăn
2.2. Thành công – hạn chế
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu
2.4. các nguyên nhân, các yếu tố tác động, …
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề mà thực trạng đề tài đã đặt ra.
3. Giải pháp, biện pháp
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện phápKết quả thực hiện đề tài
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Biện pháp 1: Giáo viên cần có nắm các kiến thức về loại Từ
Biện pháp 2: Khắc sâu kiến thức, trang bị thêm kiến thức trong
các tiết dạy lí thuyết.
Biện pháp 3: Giúp học phân biệt từ láy, từ ghép bằng một số
cách, số mẹo trong tiết luyện Tiếng Việt.
Biện pháp 4 : Tăng cường cho học luyện tập
3
3
3
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
15
15
16
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
1
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
2
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục bậc Tiểu học là một khoa học khó nhất. Nó là nền móng đầu tiên
giúp con người tồn tại và phát triển. Đặc biệt là môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng
trong tất cả các môn học ở Tiểu học, nó hình thành khả năng giao tiếp, là cơ sở để
phát triển tư duy cho trẻ, giúp học sinh tiếp thu các môn học khác.
Trong hệ thống ngôn ngữ Tiếng Việt từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng.
Nó là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Ở Tiểu học, các em được học kiến thức này
qua phân môn luyện từ và câu. Việc dạy luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp thử nghiệm
- Phương pháp điều tra, xử lí số liệu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Như chúng ta đã biết môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình
thành năng lực hoạt động cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ của học sinh
thể hiện tốt hay không là nhờ vốn kiến thức về Tiếng Việt dồi dào và khả năng
chuyển tải kiến thức, nội dung hợp lý, sáng tạo của giáo viên. Do đó, vấn đề dạy
Tiếng Việt ở các trường Tiểu học nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng
là một yếu tố quan trọng giúp phát triển năng lực trí tuệ và những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp cho học sinh. Luyện từ và câu giúp học sinh Tiểu học có hiểu biết về
quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong
giao tiếp. Thông qua việc dạy và học môn Tiếng Việt để góp phần rèn luyện các em
những thao tác tư duy về ngôn ngữ; cung cấp cho học sinh các kiến thức sơ giản về
Tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu về tự nhiên- xã hội, về con người, về văn
hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài. Qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và
hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình
thành nhân cách con người Việt Nam.
Trong chương trình tiểu học, khái niệm về từ đặc biệt khái niệm về từ ghép và
từ láy được dạy chủ yếu ở phân môn luyện từ và câu của Tiếng Việt lớp 4. Việc
cung cấp tri thức, lý thuyết cấu tạo từ có ý nghĩa hết sức quan trong, bởi vì có nắm
được cấu tạo từ cũng như kiểu nhận xét về cấu tạo thì học sinh mới có kĩ năng nhận
diện, phân loại, sử dụng từ một cách có hiệu quả. Chính vì vậy việc dạy học sinh
nắm được khái niệm từ ghép, từ láy là một nhiệm vụ đơn giản, song rất phức tạp.
loại từ ghép, nhiều em vốn từ còn quá ít(học sinh dân tộc). Đặc biệt là rất nhiều em
còn nhần lẫn khi phân biệt từ láy và từ ghép trong các trường dễ lẫn lộn.
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu
Đội ngũ giáo viên trẻ, năng nổ nhiệt tình, có trình độ chuyên môn cao, tự tin
khi truyền đạt kiến thức cho học sinh. Học sinh đã có một lượng vốn từ cơ bản
được trang bị từ các lớp dưới và từ cuộc sống hằng ngày. Bên cạnh đó, đa số các
em ham hiểu biết, thích tìm tòi, tích cực chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập được
giao.
Nhiều giáo viên mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm nên còn lúng túng
trong việc lựa chọn các phương pháp dạy học hiệu quả.
Học sinh vẫn còn nhầm lẫn khi phân biệt từ láy, từ ghép.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề, hội giảng, thao giảng
để giáo viên có điều kiện trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy.
Bản thân giáo viên có ý thức tự rèn bồi dưỡng chuyên môn, nắm được các
kiến thức cơ bản về từ loại Tiếng Việt. Nhiệt tình trong công việc, không ngừng
tìm tòi, nghiên cứu tìm ra phương pháp tốt nhất để truyền đạt kiến thức cho học
sinh.
Kiến thức về Từ ghép và từ láy mà sách giáo khoa Tiếng Việt 4 cung cấp cho
học sinh còn hơi ít. Nhiều loại sách tham khảo có thể giúp giáo viên tìm ra những
biện pháp thiết thực, phù hợp, bao quát và cụ thể hơn.
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
5
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
Học sinh ham hiểu biết, thích tìm tòi và khám phá vẻ đẹp của Tiếng Việt. Tuy
nhiên hiểu biết của các em phần lớn còn mang tính cụ thể, máy móc.
học tốt lên làm bài điều này vô tình làm cho học sinh tiếp thu chậm ít cơ hội thực
hành. Hơn nữa sách cũng chỉ hướng dẫn học sinh phân biệt một số từ điển hình
nhìn là có thể nhận dạng được ngay. Trên thực tế còn rất nhiều từ học sinh không
biết hoặc lẫn lộn khi nhận diện chúng thuộc loại từ nào, điều đó dẫn đến việc sử
dụng từ sai khi giao tiếp.
6
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
3. Giải pháp, biện pháp
3.1. Mục tiêu
Nhằm giúp học sinh học biết nhận diện, phân biệt loại từ một cách chính xác
từ đó có thể sử dụng từ để viết câu, viết đoạn văn.
3. 2. Nội dung và cách thức thực hiện.
Biện pháp 1: Giáo viên phải nắm được các kiến thức về loại từ
Chúng ta đã biết, quá trình truyền đạt kiến thức có vai trò quan trọng trong
việc chiếm lĩnh kiến thức của học sinh, trong đó giáo viên là người trực tiếp truyền
thụ đến cho các em những kiến thức mới, giúp học sinh hiểu kiến thức và có kĩ
năng vận dụng khi làm bài tập hay giao tiếp trong cuộc sống. Chính vì vậy, muốn
học sinh có được kiến thức về từ, biết nhận diện, phân biệt và sử dụng từ phù hợp
thì ngay từ đầu bản thân mỗi giáo viên cần phải trang bị cho mình hệ thống kiến
thức về từ.
Mảng kiến thức về từ loại mà giáo viên cần nắm vững bao gồm:
Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ. Tiếng có thể có nghĩa rõ ràng hoặc không rõ
ràng. Ví dụ: Sạch sẽ (tiếng sạch có nghĩa, tiếng sẽ không có nghĩa)
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa dùng để đặt câu. Từ có hai loại: Từ đơn và từ
phức.
Từ do một tiếng tạo thành gọi là từ đơn. Ví dụ: Nhà, ăn, uống, đi, đứng,…
Từ tượng thanh là từ láy mô phỏng, gợi tả âm thanh trong thực tế. Ví dụ: ầm
ầm, lạch bạch, thì thầm,…
Từ tượng hình là từ láy gợi tả hình dáng, hình ảnh của người vật; gợi tả màu
sắc, mùi vị.
Ví dụ: - Hình dáng: lè tè, lênh khênh, dong dỏng, chót vót
- Màu sắc: lấp lánh, long lanh, mênh mông
- Mùi vị: thoang thoảng, ngào ngạt
Biện pháp 2: Giáo viên khắc sâu kiến thức, trang bị thêm kiến thức trong
các tiết dạy lí thuyết cho học sinh.
Để học sinh có thể nhận dạng, phân biệt được từ thì việc trang bị cho học sinh
các kiến thức về từ vô cùng quan trọng. Vì vậy ngay từ bước hình thành kiến thức
giáo viên phải giúp học sinh tự rút ra kiến thức dựa vào việc trải nghiệm qua các ví
dụ, sau đó yêu cầu học sinh tự lấy ví dụ minh họa. Cụ thể giáo viên làm như sau:
* Dạy bài “Từ đơn, từ phức”
Giáo viên giúp học sinh hình thành khái niệm như sau:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Viết câu lên bảng: Nhờ / bạn / giúp đỡ /
lại / có / chí / học hành / nhiều / năm /
liền /, Hanh / là / học sinh / tiên tiến /.
- Em hãy thảo luận tìm các từ chỉ gồm - Từ gồm một tiếng: nhờ, bạn, lại, có,
một tiếng, các từ gồm nhiều tiếng.
chí, nhiều, năm, liền, Hanh, là
- Từ gồm nhiều tiếng là: giúp đỡ, học
hành, học sinh, tiên tiến.
- Giảng: Từ một tiếng như: nhờ, bạn, lại,
có, chí, nhiều, năm, liền, Hanh, là gọi là
từ đơn, từ gồm nhiều tiếng như: giúp đỡ,
học hành, học sinh, tiên tiến gọi là từ
phức.
sâu kiến thức cho học sinh:
Sự giống nhau và khác nhau của từ ghép, từ láy.
- Giống nhau: Đều có từ hai tiếng trở lên
- Khác nhau:
+ Từ ghép: Các tiếng có quan hệ về nghĩa
+ Từ láy: Các tiếng có quan hệ về âm.
Khi củng cố bài để học sinh dễ so sánh từ láy, từ ghép giáo viên cho sẵn một
yếu tố cấu tạo từ (1 tiếng), yêu cầu tìm từ có tiếng gốc đó theo những kiểu cấu tạo
khác nhau.
Ví dụ: Dựa vào tiếng gốc (mềm, đỏ, xinh), hãy tạo ra các từ ghép, từ láy:
Học sinh sẽ tìm được như sau
Tiếng gốc
mềm
đỏ
xinh
Từ ghép
Từ láy
mềm dẻo, mềm nhũn, mềm mềm mại, mềm mềm,…
yếu …
đỏ gay, đỏ hoe, đỏ hỏn, đỏ đỏ đắn, đo đỏ, đỏ đỏ,…
loét, đỏ ối, đỏ ửng,…..
xinh đẹp, xinh tươi,…
xinh xắn, xinh xinh,…
*Dạy bài : Luyện tập về từ láy và từ ghép
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
của tổ hợp đó về cơ bản vẫn không thay đổi thì tổ hợp đó là hai từ đơn.
Ví dụ: Tung cánh = > Tung (đôi) cánh
( Sau khi chêm thêm tiếng đôi vào giữa tổ hợp trên, nhưng nghĩa của tổ hợp
này về cơ bản không thay đổi, do đó tung cánh là kết hợp 2 từ đơn)
- Ngược lại, nếu mối quan hệ giữa các tiếng trong tổ hợp mà chặt chẽ, khó có
thể tách rời và đã tạo thành một khối vững chắc, mang tính cố định (không thể
chêm, xen) thì tổ hợp ấy là một từ ghép.
Ví dụ: Chuồn chuồn nước => chuồn chuồn (sống ở) nước
10
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
(Khi ta thêm tiếng ở vào tổ hợp trên thì cấu trúc về nghĩa của tổ hợp trên đã bị
phá vỡ, do đó mặt hồ và chuồn chuồn nước là từ ghép)
Cách 2: Trong bối cảnh cụ thể, xét xem tổ hợp ấy có yếu tồ nào mờ nghĩa
không, nếu có yếu tố bị mờ nghĩa thì đó là từ ghép.
Ví dụ1: - “Bạn cho tôi đổi chiếc áo ngắn này lấy chiếc áo dài kia”.
- “Cô giáo em trông thật duyên dáng trong bộ áo dài truyền thống”.
( áo dài trong câu thứ nhất là 2 từ đơn, còn áo dài trong câu thứ hai là từ ghép
bởi yếu tố dài đã bị mờ nghĩa, nó là tên một loại áo)
Cách 3: Kiểm tra xem tổ hợp ấy có thể đối lập với nó không
- Nếu có thể đối lập với nó thì đó là hai từ đơn.
Ví dụ:
- đi lên đối lập với đi xuống
Kết luận: đi lên là kết hợp của 2 từ đơn
- Nếu hai tiếng khác từ loại thì đó là từ ghép phân loại.
- Lưu ý:
+ Hai tiếng trong từ ghép tổng hợp thường là 2 từ cùng nghĩa (gần nghĩa)
như: vui sướng, đau khổ, xinh đẹp hoặc trái nghĩa nhau như: cao thấp, lớn bé, xa
gần, trẻ già.
+ Ngoài ra cũng có một số hai tiếng cùng là danh từ lại được xem đó là từ
ghép phân loại: nhà lầu, nhà sàn, đất cát, đất đỏ.
Cách 2: Chen thêm tiếng “và” vào giữa hai tiếng
- Nếu có thể thêm tiếng và vào giữa hai tiếng của từ đó mà nghĩa của nó
không đổi thì đó là từ ghép tổng hợp.
Ví dụ: - quần áo: có thể thêm tiếng “và” thành quần và áo => quần áo là từ
ghép tổng hợp
- Nếu thêm tiếng và vào giữa hai tiếng của từ đó mà nghĩa của từ đó thay đổi
thì đó là từ ghép phân loại.
Ví dụ: - quần tây : không thể thêm tiếng “và” vào giữa => quần tây là từ ghép
phân loại.
c.3. Phân biệt từ ghép với từ láy khi những từ đó có cả 2 tiếng có bộ phận của
tiếng giống nhau
* Cách hữu hiệu nhất là xét nghĩa của từng tiếng trong từ
- Nếu tất cả tiếng trong từ đều có nghĩa(có quan hệ về nghĩa)hoặc đó là từ Hán
-Việt( gốc Hán) thì xếp nó vào từ ghép. Ví dụ: thúng mủng, tươi tốt, đi đứng, bình
minh, cần mẫn, tham lam, bảo bối, ban bố
- Nếu trong từ chỉ 1 tiếng có nghĩa, hoặc không xác định được tiếng gốc trong
từ đó thì ta xếp vào nhóm từ láy ( Ví dụ: chim chóc, đất đai, tuổi tác, thịt thà, cây
cối, máy móc, nhí nhảnh, băng khuâng, bát ngát...)
- Nếu tất cả các tiếng trong từ đều không có phụ âm đầu thì xếp nó vào nhóm
từ láy. Ví dụ: ồn ào, ầm ĩ, ấm áp, im ắng, ao ước ,yếu ớt,...
- Nếu từ các tiếng có phụ âm đầu được ghi bằng những con chữ khác nhau
nhưng có cùng cách đọc ( c/k/q ; ng/ngh ;g/gh ) cũng được xếp vào nhóm từ láy.
(Ví dụ : cuống quýt, cũ kĩ, ngốc nghếch, gồ ghề,...)
hoàn thành bài tập
- Yêu cầu học sinh nêu kết quả, giải
thích lí do
- Nhận xét, sửa sai chốt kết quả đúng
+ Từ đơn: em, mơ, làm, mây, trắng, bay,
khắp, nẻo, trời, cao, nhìn, quê, mình, đẹp
+ Từ ghép: non sông, gấm vóc
+ Từ láy: biết bao
- Nhấn mạnh và hướng dẫn một số mẹo
để xác định đúng từ ghép hay tổ hợp hai
từ đơn .
Hoạt động của Học sinh
- Học sinh nêu yêu cầu của bài
- Học sinh thảo luận, làm bài
- Đại diện nêu kết quả, giải thích lí do
- Học sinh lắng nghe
Bài 2: Xếp các từ sau thành hai loại :
Từ ghép và từ láy
tươi tốt, tươi tắn, cuống quýt, bình minh,
ồn ào, chợ búa, nhí nhảnh, cây cối, vắng
lặng.
- Yêu cầu học sinh đọc đề, thảo luận - Học sinh đọc đề, thảo luận và làm bài
nhóm 4 và làm bài vào bảng phụ.
- Yêu cầu học sinh lên bảng đính kết quả - Các 2,3 nhóm lên đính kết quả và trình
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
những câu nào sử dụng từ láy, đó là
những từ nào, nó thuộc kiểu láy nào ?
- Trả lời theo suy nghĩ
- Lắng nghe
- Đọc yêu cầu làm bài vào vở
- Học sinh đọc và nêu
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Để thực hiện việc dạy học như trên giáo viên cần có sự chuẩn bị, đầu tư thật
chu đáo cho mỗi tiết dạy. Giáo viên cần nắm được những điểm mẫu chốt cần nhấn
mạnh đồng thời tham khảo kiến thức từ nhiều tài liệu, sách tham khảo để không chỉ
giúp học sinh nắm vững những kiến thức bài học mà còn giúp các em có kĩ năng
nhận diện, phân biệt và sử dụng từ hợp lí.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Mỗi biện pháp, giải pháp trên đều hướng tới mục đích giúp cho học sinh nắm
được các kiến thức về từ, có thể nhận diện, phân biệt, từ đó biết sử dụng từ khi giao
tiếp. Nếu việc hệ thống các kiến thức giúp cho bản thân giáo viên có nền móng kiến
thức để truyền đạt đến học sinh thì việc khắc sâu kiến thức, đặc biệt việc trang bị
14
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
cho các em một số mẹo phân biệt một số trường hợp khó phân biệt, dễ nhầm lẫn
không chỉ giúp học sinh nắm được kiến thức mà có thêm một số kĩ năng nhận diện
phân biệt từ. Còn việc luyện tập sẽ giúp các em trải nghiệm những kiến thức đã
ghép
47,6%
21
100%
2. Số học sinh biết sử dụng 7
từ đơn, từ láy, từ ghép khi
viết câu, viết đoạn văn.
33,3%
15
71,4
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của đề tài
Sau một năm học áp dụng tôi nhận thấy đa số học sinh của mình đã phân biệt
nhanh và chính xác từ ghép với từ láy, không còn trường hợp lẫn lộn giữa từ ghép
và tổ hợp hai từ đơn, xác định đúng từ ghép tổng hợp với từ ghép phân loại, biết
dùng từ để viết đoạn văn đạt chất lượng cao hơn. Kiến thức nhờ đó được củng cố
và mở rộng thêm.
Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng đạt được kết quả như trên do một số
em là học sinh dân tộc, việc tiếp thu Tiếng Việt của em còn hạn chế, để có được kết
quả cao hơn thì cần tăng cường thêm Tiếng Việt cho các em nhiều hơn.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Tiếng Việt của chúng ta rất giàu và đẹp, nó có thể diễn tả được mọi sắc thái
phải tổ chức cho học sinh ôn bài hợp lí. Luôn luôn tạo điều kiện cho học sinh luyện
viết đoạn văn bằng cách vận dụng vốn từ ngữ được học để nâng cao chất lượng viết
văn cho các em. Bên cạnh đó cũng cần thống nhất trong tổ chuyên môn, để cùng
đầu tư suy nghĩ và chọn lọc kiến thức quan trọng, cần thiết cũng như phương pháp
dạy học hợp lí nhất để cùng soạn và dạy các tiết học.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với giáo viên: Cần chuẩn bị kĩ càng chu đáo phương tiện dạy học,
nội dung giáo án trước khi đến lớp. Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc
trong tất cả các tiết học để các em có thể tiếp thu kiến thức Tiếng Việt. Tăng cường
sưu tầm các kiến về từ từ nguồn sách tài liệu, sách tham khảo để có thêm phương
pháp phù hợp .
2.2. Về phía nhà trường: Cần tăng cường thêm vào thư viện các tài liệu về Từ
đơn, từ ghép, từ láy, từ điển Tiếng Việt để GV tiện tham khảo, tìm thêm bài tập cho
học sinh.
Tổ chức các chuyên đề, các tiết hội giảng về Từ đơn, từ ghép, từ láy. Phổ biến
rộng rãi các kinh nghiệm dạy học của đội ngũ giáo viên giỏi để cùng rút kinh
nghiệm và có cơ hội học tập lẫn nhau.
16
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong
Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tốt từ láy, từ ghép.
Mặc dù kết quả vẫn còn khiêm tốn nhưng đã có nhiều khả quan hơn trong
việc “Giúp học sinh học lớp 4 học tốt từ ghép, từ láy” và chắc chắn vẫn còn nhiều
thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được sự góp ý bổ sung với tinh thần xây dựng
của các bạn đồng nghiệp để những nội dung trình bày trên có thể được áp dụng
rộng rãi và hiệu quả hơn trong các trường Tiểu học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người viết
Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1 – NXB Giáo dục
Sách giáo viên Tiếng Việt 4, Tập 1- NXB giáo dục
Bài tập nâng cao Luyện từ và câu - NXB giáo dục
Giáo viên: Đinh Thị Hậu, trường Tiểu học Tây Phong