skkn Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 giải tốt bài toán có lời văn - Pdf 40

Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
II. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI:

B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG:
1 / Về tình hình học sinh lớp 3B
2/ Kết quả thống kê bài làm của học sinh
3/ Thực trạng về giải toán có lời văn hiện nay đối với học sinh

TRANG
2
2
3
5
5
5
5
6

lớp 3B:

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

7


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Song song với việc dạy và học môn Tiếng Việt, việc dạy và học Toán ở
trường Tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển
khả năng toán học cho học sinh. Bởi từ đây, những bài học đơn giản đầu tiên sẽ là
nền móng đưa các em đi vào thế giới toán học bao la sau này. Để phát triển tốt khả
năng toán học cho học sinh, hơn đâu hết, việc học toán ở trường Tiểu học phải đặc
biệt được chú trọng. Chúng ta đã và đang thực hiện tốt nội dung này.
Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy

Trang 1


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

Trong môn toán ở bậc Tiểu học, các bài giải toán có lời văn có một vị trí hết
sức quan trọng, chiếm phần lớn lượng thời gian trong học toán của học sinh. Việc
giải thành thạo các bài toán là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá khả năng
học toán của mỗi học sinh. Việc giải toán được chú trọng như thế có lẽ vì những
tác dụng thiết thực mà nó đạt được trên cả 2 mặt lí thuyết và thực tế với học sinh
tiểu học:
- Trước hết giải toán tốt là một bước củng cố tốt trong việc khắc sâu kiến thức
số học, đo lường, các yếu tố đại số, hình học ở học sinh.
- Bên cạnh đó thông qua nội dung thực tế nhiều hình, nhiều vẻ của các đề toán,
học sinh sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều
kiện để rèn luyện khả năng áp dụng các kiến thức toán học vào đời sống. Thực
hiện tốt lời dạy “Học đi đôi với hành” của Bác Hồ.
- Ngoài ra việc giái toán sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo, thói quen

tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt chưa rõ
ràng, thiếu lôgic.
Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải vất vả hơn so với dạy các
em thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số của bài toán. Việc đặt lời giải là một
khó khăn với các em học sinh vì các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu
được đề, chưa trả lời các câu hỏi của giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì?... Đến khi
giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải...
Vậy làm thế nào để học sinh hiểu đề bài, biết cách giải và tìm ra đáp số đúng
của bài toán, đó là điều khiến tôi rất trăn trở. Đây là lí do mà tôi chọn đề tài
“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3B Trường Tiểu học Thanh Thùy giải
các bài toán có lời văn” , mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao
kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3/3
nói riêng. Để các em có thể giải thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó
ở các lớp trên.

II. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI:
“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3B Trường Tiểu học Thanh Thùy giải
các bài toán có lời văn” nhằm giúp các em định hướng được cách giải các bài
toán có lời văn một cách thuận lợi và chính xác.

Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy

Trang 3


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

B. PHẦN NỘI DUNG

Trung bình
Yếu
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
TSHS
8
22,8%
11
31,4 %
11
31,4%
5
14,3%
35 *Qua kết quả thống kê bài khảo sát chất lượng của học sinh đầu năm tôi đã
thống kê được thì chất lượng làm bài của các em không tốt.
+ Trong đó có 8 em là làm bài đạt điểm tối đa điểm 9, 10
+ 11 em làm bài được điểm 7, 8 vì các các em tính toán chưa cẩn thận dẫn đến
kết quả chưa chính xác.
+ Còn 5 em còn lại thì rơi vào trường hợp các em không giải được bài toán có
lời văn.
* Nguyên nhân:
+ Do các em chưa đọc kĩ đề bài, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng
tâm của đề toán không chịu phân tích đề toán khi đọc đề.
+ Đa số học sinh bỏ qua một bước cơ bản trong giải toán là tóm tắt đề toán.

học sinh chưa xác định các kiểu tóm tắt đề toán khác nhau phụ thuộc vào từng
dạng bài cụ thể.
+ Học sinh chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bài toán phức
tạp. Hầu hết, các em làm theo khuôn mẫu của những dạng bài cụ thể mà các em
thường gặp trong sách giáo khoa, khi gặp bài toán đòi hỏi tư duy, suy luận một
chút các em không biết cách phân tích dẫn đến lười suy nghĩ. Một số em biết tìm
ra phép tính đúng nhưng khi đặt lời giải thì còn lúng túng và có khi đặt lời giải cho
bài toán chưa hợp lý.
+ Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểm tra lại bài, dẫn đến
nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan. Ngoài ra, còn có
những trường hợp học sinh hiểu bài nhưng còn lúng túng trong cách trình bày nhất
là với các bài toán giải có lời văn phức tạp.

Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy

Trang 6


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

+ Thực tế trong một tiết dạy 35 phút, vừa dạy bài mới, vừa làm bài tập và
các bài toán có lời văn thường ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả
lời không được nhiều nên học sinh chưa khắc sâu kiến thức, chưa nắm được mẹo
để giải bài toán.
Từ những thực trạng trên tôi mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp giảng
dạy như sau:

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

dành khoảng 3 - 4 phút để cho các em nghỉ giải lao tại chỗ bằng cách tổ chức cho
học sinh chơi các trò chơi học tập vừa giúp các em thoải mái sau giờ học căng
thẳng và qua các trò chơi học tập tạo cơ hội cho học sinh có cơ hội được trao đổi,
được luyện nói nhiều trong các tiết học giúp các em có vốn từ lưu thông, các em có
thể nhận xét và trả lời tự nhiên, nhanh nhẹn mà không rụt rè, tự ti vừa giúp các em
có phản ứng nhanh nhẹn, ghi nhớ một số nội dung bài đã học kĩ hơn.
- Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn chú ý rèn
luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho các em bởi vì đọc thông, viết thạo là yếu tố
“đòn bẩy” giúp học sinh hiểu rõ đề và tìm cách giải bài toán một cách hợp lý,
chính xác.
- Trong một tiết dạy để đạt được kết quả cao đòi hỏi người giáo viên phải
chuẩn bị tốt. Sự chuẩn bị càng tốt thì hiệu quả càng cao. Vì vậy, người giáo viên
phải nắm vững yêu cầu của từng loại bài để có phương pháp cụ thể phù hợp với
loại bài đó. Ngoài ra người giáo viên phải có thao tác linh hoạt và khắc sâu kiến
thức từng dạng bài tập cho học sinh.
- Khuyến khích học sinh tham gia giải toán qua mạng. Mua sách, báo nhi đồng
để tập giai các bài toán đố trong sách, phát huy thêm kiến thứ cho các em.

1.2/ Đối với phụ huynh học sinh
Để thực hiện tốt cuộc vân động “ Hai Không” của ngành giáo dục và giúp
cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái, tôi đã tổ chức
gặp gỡ các bậc cha mẹ học sinh vào đầu năm học để trao đổi với phụ huynh học
sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập
như: Mua sách vở, đồ dùng học tập, cách hướng dẫn các em tự học ở nhà. Yêu cầu
phụ huynh dành thời gian quan tâm nhắc nhở các em có cách học tập ở nhà vào
những ngày nghỉ.

2/ Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp chung về các bước giải
các bài toán có lời văn:
Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy

1 1
, ”, “ tất cả’, “ cả hai”, “ nhiều hơn”,” ít hơn” ... Nếu
3 4

trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn cho
học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó. Phải tập cho học sinh có thói
quen tự tìm hiểu đề toán qua việc phân tích những điều đã cho và xác định được
những điều phải tìm.
Để làm được điều đó, cần hướng sự tập trung suy nghĩ của học sinh vào những
từ quan trọng của đề toán, từ nào chưa hiểu hết ý nghĩa thì phải tìm hiểu hết ý
nghĩa của từ đó.
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh đọc tóm tắt đề toán
- Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ, làm cho bài
toán gọn lại. Nhờ đó mà mối quan hệ giữa cái đã cho và một số phải tìm hiện rõ
Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy

Trang 9


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

hơn, các em có thể tóm tắt được một đề toán và biết cách nhìn vào tóm tắt đó để
nhắc lại đề toán.
- Khi đã thâm nhập vào đề toán, việc tóm tắt đề toán sẽ giúp học sinh tự thiết
lập đựơc mối liên hệ giữa những cái đã cho và những cái phải tìm. Học sinh tự tóm
tắt được đề toán nghĩa là nắm được yêu cầu cơ bản của bài toán.
Khi tóm tắt đề cần gạt bỏ tất cả những gì là thứ yếu, lặt vặt trong đề toán và
hướng sự tập trung của học sinh vào những điểm chính yếu của bài toán, tìm cách


Tóm tắt:
9 túi: 45kg gạo
1 túi: ….. gạo?
Bài 4: Có 45kg gạo chia đều vào các túi, mỗi túi có 9kg gạo. Hỏi có bao nhiêu túi
gạo?

Tóm tắt:
9kg gạo: 1 túi
45kg gạo: … túi?

Ví dụ : ( Bài tập 2- trang 51 toán 3)
Một thùng đựng 24 lít mật ong, lấy ra số lít mật ong đó. Hỏi trong thùng còn lại
bao nhiêu lít mật ong?

Tóm tắt
Có: 24lít
Lấy ra:

1
số lít mật ong.
3

Còn lại: ... lít mật ong ?.
b) Cách 2 : Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng :
Muốn rèn luyện tốt cho học sinh kĩ năng tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng cần
làm quen với cách biểu thị một số quan hệ sau:
+ Quan hệ “số a lớn hơn hay kém hơn số b một số đơn vị”
a ___________________
a __________________


5kg

?kg

c) Cách 3: Tóm tắt bài toán bằng lưu đồ:
Đây là cách tóm tắt ít được sử dụng hơn, tuy nhiên nó khá tiện lợi và hiệu quả
với một số bài toán suy ngược từ cuối như: Nếu gấp một số lên 8 lần rồi bớt đi 5
thì được 43. Tìm số đó?

X

x8

-5

43

Hoặc một ví dụ khác:
“Ba bạn Huệ, Cúc, Đào có trồng 3 cây: huệ, cúc và đào. Trong 3 người
không có ai trồng cây trùng tên của mình cả”. Hỏi bạn nào đã trồng cây nào?
Bài toán có hai nhóm đối tượng: một nhóm là tên các bạn, kí hiệu là H, C, Đ
Một nhóm là tên các cây, kí hiệu là: h, c, đ. Ta dùng nét liền để nối hai đối tượng
có sự tương ứng với nhau và nét đứt để nối hai đối tượng không có sự tương ứng.
H
C
Đ
Người

h

kết quả. Như vậy ta dễ dàng nhận thấy được những quan hệ chính trong bài toán,
nhờ đó mà giải toán đựơc dễ dàng hơn.
Ví dụ: Bài toán: “Lớp em có 35 học sinh, trong đó có 20 bạn trai. Chủ nhật
vừa rồi có 8 bạn gái đi xem phim và có 11 bạn trai không đi xem phim. Hỏi đã có
bao nhiêu bạn không đi xem phim?”
Trai
Có đi xem phim
Không đi xem phim
Tất cả

Gái
8

11
20

Tất cả
?
50

Dựa vào bảng này có thể giải bài toán như sau:
Số bạn nam có đi xem phim là: 20 - 11= 9 (bạn)
Số học sinh có đi xem phim : 9 + 8 = 17 (bạn )
Số học sinh không đi xem phim: 35 - 17 = 18 (Bạn)
Bước 3 * Phân tích bài toán
Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy
13

Trang


+ Chọn “ phép nhân” nếu bài toán cho có từ “ gấp đôi, gấp 3...”.
+ Chọn “phép cộng” nếu bài toán cho có từ “nhiều hơn, cả hai”...
* Nhưng tôi cũng lưu ý cho học sinh có một số bài toán nhiều hơn nhưng
không thể làm phép cộng mà phải làm phép trừ như bài toán sau:
* Ví dụ: Bài toán 3b SGK trang 12:
Lớp 3A có 19 bạn nữ và 16 bạn nam. Hỏi số bạn nữ nhiều hơn số bạn nam là
bao nhiêu?
* Ví dụ: Bài toán 4 SGK trang 18:
Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy
14

Trang


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

Thùng thứ nhất có 125l dầu, thùng thứ hai có 160l dầu. Hỏi thùng thứ hai nhiều
hơn thùng thứ nhất bao nhiều lít dầu?
* Tìm cách giải bài toán
- Chọn phép tính giải thích hợp:
Ví dụ 1: Bài tập 2 SGK toán 3 trang 33.
* Đây là dạng toán gấp một số lên nhiều lần
Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số cam của con. Hỏi mẹ hái
được bao nhiêu quả cam?
Tóm tắt:
Con hái: 7 quả cam
Mẹ hái: gấp 5 lần số cam của con
Mẹ hái: ….. quả cam?

sau : Trước tiên các em em cho cô biết :
Bài toán cho biết g ì?
Bài toán hỏi gì? mỗi túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam gạo?
- Muốn biết mỗi túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam gạo ta làm
thế nào ? ( lấy số gạo trong 9 t úi chia cho 9 thì sẽ tìm được số

gạo trong mỗi t úi) 45 : 9 = 5 (kg)
- Ở bài toán nằy tôi chú ý cho học sinh tìm những từ quan trọng trong bài toán để
tìm ra phép tính, đó là từ (chia đều). Khắc sâu kiến thức cho học sinh khi bài toán
cho có từ “chia” thì chắc chắn có phép tính chia khi giải bài toán đó.
Ví dụ 3: Bài tập 4 SGK toán 3 trang 68
Bài 4: Có 45kg gạo chia đều vào các túi, mỗi túi có 9kg gạo. Hỏi có bao nhiêu
túi gạo?
Tóm tắt:

Sau khi tóm tắt bài toán xong tôi hướng dẫn học sinh như

9kg gạo: 1 túi

sau: Trước tiên các em cho cô biết : Bài toán cho biết gì?

45kg gạo: … túi?

Bài toán hỏi gì? mỗi túi đựng bao nhiêu : ki-lô-gam gạo?
- Muốn biết 45kg gạo đựng bao nhiêu túi ta làm thế nào ?
( lấy số gạo có tất cả chia cho số gạo trong mỗi túi)

45 : 9 = 5 (túi)
- Ở bài toán này tôi chú ý cho học sinh tìm những từ quan trọng trong bài toán để
tìm ra phép tính, đó là từ (chia đều). Khắc sâu kiến thức cho học sinh khi bài toán


Lấy ra:

sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược
lên, từ đó các em nắm bài kĩ hơn, sau đó

1
số lít mật ong.
3

tự các em giải được bài toán bằng hai

Còn lại: ? lít mật ong.

phép tính.
*Ở bài toán nằy tôi chú ý cho học sinh tìm những từ quan trọng trong bài toán
để tìm ra phép tính, đó là từ (Lấy ra:

1
và từ còn lại). Khắc sâu kiến thức cho học
3

sinh khi bài toán cho có t ừ “Lấy ra:

1
” và từ “còn lại ” thì chắc chắn có phép tính
3

chia khi “Lấy ra:


Trang


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

các em nắm chắc dạng bài tập này để khi gặp những bài tập sau các em sẽ biết
cách làm ngay khi giải bài toán đó.
* Bước 4: Viết và trình bày bài giải
* Đặt câu lời giải thích hợp và phép tính:
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước quan trọng
và khó khăn nhất đối với một số học sinh trung bình, yếu lớp 3. Chính vì vậy việc
hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn đối với
người dạy. Tùy từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các hướng dẫn sau:
Cách 1 : (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất). Dựa vào câu hỏi của bài
toán rồi bỏ bớt từ đầu “ Hỏi” thay từ “mấy”, “ bao nhiêu” bằng từ “số” rồi thêm
từ “là” để có câu lời giải:
VD: Bài toán hỏi: Hỏi nhà An còn lại bao nhiêu con gà?
Thì câu lời giải là: Nhà An còn lại số con gà là:
(Đây là đối với bài toán có một phép tính)
Cách 2: (Đối với bài toán có hai phép tính). Bài 2 SGK toán 3 trang 50
Thùng thứ nhất đựng 18l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ
nhất 6l dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?
Hướng dẫn học sinh tìm câu lời giải bằng cách nêu câu hỏi: “ muốn biết cả hai
thùng đựng bao nhiêu lít dầu? trước hết ta phải tìm gì?” để học sinh trả lời miệng:
“Tìm số lít dầu thùng thứ hai”. Rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải (câu lời
giải và phép tính).
Số lít dầu thùng thứ hai đựng là:
18 + 6 = 24 ( l )

cuối phép tính là đơn vị tính được viết trong dấu ngoặc đơn. Phần đáp số ghi sang
phần vở bên phải (có gạch chân) và dấu hai chấm rồi mới viết kết quả và đơn vị
tính (không phải viết dấu ngoặc đơn nữa).

* Lưu ý: Trong mọi trường hợp người giáo viên luôn luôn phải dùng thước
để gạch chân và liên tục nhắc học sinh tạo cho các em bỏ thói quen xấu: gạch
bằng tay.
Song song với việc hướng dẫn các bước thực hiện, tôi thường xuyên trình bày
bài mẫu trên bảng và yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét về cách trình bày để từ
đó học sinh quen nhiều với cách trình bày bài làm. Bên cạnh đó, tôi còn thường
xuyên chấm bài và sửa lỗi cho những học sinh trình bày chưa đẹp, tuyên dương
trước lớp những học sinh làm đúng, trình bày sạch đẹp cho các em đó lên bảng
trình bày lại bài làm của mình để các bạn cùng học tập.

*Bước 5: kiểm tra lại bài làm (lời giải và kiểm tra kết quả)
Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy
19

Trang


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh
thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm dược câu trả lời. Khi gi
áo viên hỏi để khảng định lại kết quả thì các em còn lúng túng. Vì vậy việc kiểm
tra, đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán và phải trở thành thói quan đối
với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các bước sau:


Trường Tiểu học Thanh Thùy

III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Sau khi đã áp dụng các với phương pháp dạy học như trên, tôi đã thật sự
nhận thấy sự tiến bộ ở học sinh của tôi trong việc giải toán. Với bất kì đối tượng
học sinh nào, khi đã được xác định đúng những bước đi như vậy, các em cũng sẽ
không còn lúng túng, ngỡ ngàng trước một bài toán giải mới. Kết quả trước và sau
khi áp dụng các bước dạy học này với đối tượng là học sinh lớp 3, trên thống kê
điểm khảo sát từng tháng như sau:
KẾT QUẢ KIỂM TRA QUA BA THÁNG MÔN TOÁN LỚP 3
NĂM HỌC: 2015 – 2016
Môn toán

Đầu năm

GIỎI
SL
TL %
8
22,8%

KHÁ
SL
TL %
11
31,4 %

TRUNG BÌNH
SL

TL
9
25,7%

SL
3

YẾU
TL
8,6%

* Qua tháng 9 trong 35 bài làm kết quả của các em đạt được:
- 11 em là bài tốt.
- 12 em bài làm khá trong đó có 7 em là giải sai bài toán có lời văn các em
nhầm lẫn ở phần viết lời giải và phần thực hiện phép tính.
- 9 em đạt điểm trung bình bởi các em tính toán chưa chính xác ở các dạng
toán. Trong đó có 5 em thực hiện sai ở bài 4 và bài 5 dạng toán có lời văn, các em
chưa nắm được yêu cầu của bài giải, chưa đọc kĩ đề bài, bỏ qua bước tóm tắt đề
Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy
Trang
21


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

dẫn đến các em cứ giải toán theo quán tính nghĩ sao viết vậy. 3 em còn lại thực
chất các em đã tiếp thu chậm, học lực yếu, tính toán chậm nên các em chỉ làm
được các bài ở dạng toán đố đơn giản, còn lại hai bài toán có lời văn các em không

nhầm lẫn ở phần viết lời giải và 1em sai phần thực hiện phép tính.
- 7 em đạt điêm trung bình bởi các em tính toán còn nhần lẫn ở các dạng
toán. Trong đó có 4 em thực hiện sai ở 2 bài giải có lời văn, thật sự các em chưa
đọc kĩ đề toán, chưa phân tich đề toán còn bỏ qua bước tóm tắt đề dẫn đến các em
giải toán sai cả 2 bài toán kể cả phần lời giải và thực hiện phép tính.
- 2 em còn lại thực chất các em học lực yếu nên tiếp thu chậm rồi, nhưng
trong đó có 1em đã làm được 1 bài toán có lời văn, tuy rằng kế quả của bài toán
các em đã tính sai nhưng em đã hiểu và thực thực hiện được bài toán giải.
Môn Toán
Tháng 11

GIỎI
SL
TL
18 51,4%

KHÁ
SL
TL
10
28,6%

TRUNG B ÌNH
SL
TL
6
17,1%

YẾU
SL TL

nhẹ nhàng khi cần thiết.
- Khâu chuẩn bị kĩ của giáo viên và học sinh trong mỗi bài học là rất quan
trọng.

Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy
23

Trang


Sáng kiến kinh nghiệm

Trường Tiểu học Thanh Thùy

- Hướng dẫn học sinh nắm đầy đủ các kĩ năng cần thiết khi giải toán bằng
phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng, không gò bó. Kích thích tư duy sáng tạo, khả
năng phân tích, tổng hợp trong khi tìm tòi.
- Thường xuyên thay đổi hình thức dạy học ở mỗi bài để tránh sự nhàm chán.
- Qua mỗi dạng bài tập tích luỹ cho học sinh các mẹo giải toán có lời văn.
- Tập cho học sinh có kĩ năng tự phân tích bài toán, tự kiểm tra đánh giá kết quả
của bài toán, tập đặt các câu hỏi gợi mở cho các bước giải trong bài toán.
- Phải coi việc giải toán là cả một quá trình, không nóng vội mà phải kiên trì và
phát hiện ra chỗ hổng sau mỗi lần hướng dẫn để khắc phục, rèn luyện.
- Nên động viên, khuyến khích các em đưa ra phương pháp giải gần hợp lí,
tránh đưa ra tình huống phủ định ngay.

V. KẾT LUẬN:
Tuy xác định cụ thể những bước đi cơ bản cho việc giải toán như vậy,
nhưng không hẳn trong giải toán, lúc nào học sinh cũng phải tuân theo đầy đủ các
bước như trên. Các em có thể lướt qua những bước mà các em đã nhuần nhuyễn

Thanh Thùy, ngày 5 tháng 4 năm 2016
Người viết

Kiều Thị Thanh Thủy

Người thực hiện: Kiều Thị Thanh Thủy
25

Trang



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status