GIÁO dục kỹ NĂNG xã hội THÔNG QUA tổ CHỨC TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI có CHỦ đề CHO TRẺ 5 6 TUỔI ở các TRƯỜNG mầm NON THỰC HÀNH THUỘC TRƯỜNG CAO ĐẲNG sư PHẠM TRUNG ƯƠNG - Pdf 42

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----------

TRN TH NGOAN

GIáO DụC Kỹ NĂNG Xã HộI THÔNG QUA Tổ CHứC TRò CHƠI
ĐóNG VAI Có CHủ Đề CHO TRẻ 5 - 6 TUổI ở CáC TRƯờNG MầM NON
THựC HàNH THUộC TRƯờNG CAO ĐẳNG SƯ PHạM TRUNG ƯƠNG
Chuyờn ngnh: Giỏo dc hc (Lớ lun v lch s Giỏo dc)
Mó s: 60.14.01.01

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS Trn Th Tuyt Oanh


HÀ NỘI - 2013

2


Lời cảm ơn!
===**===
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS. TS. Trần Thị Tuyết Oanh - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em
hoàn thành luận văn này.
Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý
- Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và
cho em những lời chỉ dẫn bổ ích trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình.
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, thư viện trường

GDKNXH

giáo dục kỹ năng xã hội

MGL

mẫu giáo lớn

MN

mầm non

TCĐVCCĐ

trò chơi đóng vai có chủ đề

MNTH

mầm non thực hành

CĐSPTW

Cao đẳng Sư phạm Trung ương

TN

thực nghiệm

ĐC


phải có những năng lực xã hội: Sự đồng cảm, thấu hiểu, năng lực hợp tác, chia sẻ,
trách nhiệm xã hội… thì mới có thể thành công và hạnh phúc được. Trên thực tế
không một hành động nào của con người là thuần lí trí, luôn có vai trò cảm xúc
trong đó. Cảm xúc chi phối mạnh mẽ hành động của con người, cảm xúc ảnh hưởng
không nhỏ đến mọi hoạt động của đời sống con người. Đặc biệt là nếu không kiểm
soát tốt được những cảm xúc tiêu cực mọi nỗ lực và thành quả lao động của con
người thì chỉ trong giây lát sẽ tan thành mây khói! Bên cạnh đó kỹ năng Hợp tác, kỹ
năng thể hiện sự Tự tin là một trong những kỹ năng nền tảng cơ bản của con người
nếu được giáo dục sẽ tác động trực tiếp vào hệ ý thức cảm xúc. Trẻ sẽ được tạo các
thói quen hành vi cũng như tư duy tích cực, những tính cách tốt để tạo được thành
công, hạnh phúc và các mối quan hệ tốt đẹp trong mọi lĩnh vực và khuyến khích trẻ
biết suy nghĩ, làm việc và học tập một cách tự lập ngay từ nhỏ để có thể làm chủ
được cuộc sống của mình sau này.
1


Nhận thức được điều đó cùng với mong muốn là góp phần nhỏ bé vào việc
cải thiện được tình trạng mất cân bằng của nền giáo dục còn mang nặng tính “Hàn
lâm kinh viện” chưa chú trọng đến việc giáo dục phát triển các kỹ năng xã hội cho
trẻ dẫn đến có những đứa trẻ rất giỏi về kiến thức có trong sách vở mà thiếu đi
những kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết của cuộc sống hàng ngày: rụt rè khi tham
gia vào các hoạt động tập thể, không dám nói ra những điều mình suy nghĩ, khó
khăn trong việc hợp tác với bạn chơi, ít quan tâm chia sẻ với người khác, thiếu đi sự
đồng cảm với bạn bè, khả năng tự lập hạn chế luôn cần sự bao bọc và che chở của
người lớn… Tất cả các yếu tố đó khiến cho đứa trẻ cảm thấy không an toàn, luôn sợ
hãi trước môi trường mới lạ, ít các mối quan hệ, sống thu mình, hay buồn phiền nếu
bị thất bại trong cuộc sống, dễ làm những chuyện tồi tệ vì không quản lí được cảm
xúc của bản thân… điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của đứa trẻ.
Bên cạnh đó việc GDKNXH của trẻ ở các trường Mầm non Thực hành thuộc
trường cao đẳng Sư phạm Trung ương chưa được tiến hành triển khai thực hiện,

ở lứa tuổi, phù hợp với thực tiễn như: Tạo môi trường cho trẻ chơi; tổ chức các trò
chơi; lựa chọn các trò chơi; động viên khuyến khích trẻ kịp thời… thì sẽ giáo dục
một số kỹ năng xã hội cho trẻ có hiệu quả.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu hệ thống lý luận về giáo dục kỹ năng xã hội thông qua tổ
chức trò chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non.
5.2. Khảo sát thực trạng việc giáo dục kỹ năng xã hội thông qua tổ chức trò
chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non thực hành thuộc
trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương.
5.3. Xây dựng các biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội thông qua tổ chức trò
chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non thực hành thuộc
trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương và thực nghiệm sư phạm.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu một số kỹ năng xã hội: Kỹ năng Hợp tác; Kỹ năng Kiểm
soát cảm xúc; Kỹ năng thể hiện sự Tự tin ở trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi.
6.2. Triển khai nghiên cứu trên địa bàn 03 trường mầm non thực hành Hoa
Hồng, Hoa Sen, Hoa Thủy Tiên.
3


7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích tư liệu đã có về lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
Trực tiếp quan sát trẻ trong quá trình tổ chức các hoạt động vui chơi để nắm
được thực trạng về các Kỹ năng hợp tác; Kỹ năng kiểm soát cảm xúc; Kỹ năng thể
hiện sự tự tin.
Quan sát hoạt động của giáo viên đối với trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) nhằm
tìm những biện pháp GD kỹ năng xã hội: Kỹ năng Hợp tác; Kỹ năng Kiểm soát cảm

7.3. Nhóm các phương pháp xử lí số liệu
Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Dùng phương pháp toán học thống kê để xử lý số liệu điều tra có định
lượng chính xác cho nội dung, biện pháp nhằm nâng cao tính thuyết phục của
vấn đề nghiên cứu.
Trên cơ sở so sánh các giá trị thu được giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng,
đánh giá hiệu quả của các biện pháp được đề xuất.

5


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI THÔNG QUA
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI CÓ CHỦ ĐỀ CHO TRẺ 5-6 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Vấn đề GDKNXH bắt đầu được đặt nền móng, được quan tâm tìm hiểu từ thập
niên 80 của thế kỷ XX. Từ năm 1979, nhà khoa học hành vi Gilbert Botvin đã thành
lập nên một chương trình GDKNXH cho giới trẻ từ 17-19 tuổi [7]. Chương trình đào
tạo này nhằm giúp xây dựng ở người học có khả năng từ chối những lời mời, rủ rê sử
dụng chất gây nghiện bằng cách nâng cao sự tự khẳng định bản thân, kỹ năng ra quyết
định và tư duy phê phán. Thực ra, việc học tập và thực hành các kỹ năng ấy chỉ là một
trong những khía cạnh của chương trình, nhưng có thể coi như là bước đầu để chương
trình giáo dục KNXH được triển khai rộng rãi trong thời gian kế tiếp.
Một trong những tên tuổi góp phần xây dựng hệ thống lý luận về KNXH
là Michael Bernard, Ông là nhà tâm lý học, là nhà quản lý và nhà cố vấn của các
trường Đại học Wisconsin, Madison và trường Đại học Melbourne, Australia.
Trong suốt thập kỷ 80, giáo sư Bernard đã là nhà tư vấn quốc tế cho các tổ chức
giáo dục tư nhân và chính phủ. Michael E. Bernard là nhà sáng lập ra chương

Các công trình nghiên cứu của tiến sĩ Elizabeth Dunn và J.Gordo Abuckle của
trường đại học thuộc Colombia về sự thiếu hụt KNXH đã gây ra những hậu quả hết
sức nghiêm trọng: tình trạng bạo lực học đường ra tăng, tình trạng trẻ em có những
hành vi tiêu cực: trộm cắp, tự tử, nghiện hút, giết người... đã được công bố năm 2003.
Một nghiên cứu khác của hai tác giả người Canada là T.Scott Murray, Yvan
Clermont và tiến sĩ người Mỹ Manlyn Binkley (3/2005) có tên “Measuring Adult
Literacy and life skills” đã nhấn mạnh tới việc đo lường và đánh giá về KN đọc
viết và KNS, sự phân biệt giữa KNS và KN cần thiết của con người. Trong nghiên
cứu cũng đề xuất hướng phát triển KNS và KN thông thường trong cuộc sống
trước những tác động xã hội, trong việc thiết lập quan hệ, làm việc nhóm, tìm
kiếm thông tin.
Bên cạnh nghiên cứu về khái niệm, nội dung, bản chất các nhà khoa học

7


cũng tập trung nghiên cứu con đường để GDKNXH cho thế hệ trẻ. Có nhiều công
trình nghiên cứu về các con đường để GDKNXH trong đó cách nhà giáo dục
thường tập trung vào đối tượng giáo dục là thanh thiếu niên, rất ít công trình tập
trung vào nghiên cứu trên đối tượng là trẻ tiền tuổi học.
Trở lại với các nghiên cứu về giáo dục thông qua trò chơi chúng ta thấy từ
đầu những năm 30 của thế XX các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Xô Viết như:
L.X.Vưgốtxky; Đ.B.Encônhin; A.N.Lêonchiep; A.V.Dapôrôzet, A.I.Xôrôkila;
N.K.Crupxkaia; K.Đ.Usinxki; E.U.Chikhiepva; A.P.Uxôva...đã khẳng định hoạt
động chơi chính là một phương tiện vô cùng hữu hiệu trong giáo dục nhân cách
cho trẻ. Các nhà nghiên cứu Xô Viết đưa ra một cách nhìn mới về bản chất xã hội
trong trò chơi trẻ em. Đặc biệt các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu sâu về trò
chơi của trẻ. Họ đều khẳng định: Trò chơi, đặc biệt là trò chơi ĐVCCĐ có vai trò
quan trọng hình thành hành vi cho trẻ MG. Theo họ, trò chơi là một hình thức
hoạt động chủ yếu hình thành hành vi xã hội của bản thân trẻ em, hình thành thái

bật vai trò quan trọng của việc giáo dục KNXH cho học sinh [67].
Năm 1996, chương trình “Giáo dục kỹ năng XH để bảo vệ sức khỏe, phòng
chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF tài
trợ đã được tiến hành và đạt được nhiều thành quả.
Từ năm 2001, Bộ GD&ĐT thực hiện GDKNXH cho học sinh phổ thông
thông qua dự án “GD sống khỏe mạnh, kỹ năng sống cho trẻ và vị thành niên” với
sáng kiến và hỗ trợ của Unicef tại Việt Nam. Dự án khá thành công, hình thành thái
độ tích cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc sống khoẻ về thể chất, mạnh về
tinh thần, hiểu biết về xã hội, đồng thời nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh để
họ chủ động trong việc truyền thụ kiến thức kỹ năng cho con em mình [9]
Cũng giống như thế giới ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu
riêng biệt về KNXH. Các nghiên cứu thường tập trung vào KNS, trong đó có một
bộ phận là kỹ năng xã hội. Đại diện cho các nghiên cứu theo hướng này như:
Nguyễn Thanh Bình có những nghiên cứu mang tính hệ thống với một loạt
các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo.
Đóng góp này tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và GDKNS ở Việt Nam. Tác
giả đã xuất bản giáo trình về Giáo dục kỹ năng sống. Trong giáo trình này, tác giả
cũng có nói đến KNXH như là một phần của KNS [7].

9


Bên cạnh đó, có một số tác giả như Nguyễn Quang Uẩn với bài viết “Khái
niệm kỹ năng sống nhìn từ góc độ tâm lý học” đăng trên Tạp chí Tâm lý học số 6 (62008) tác giả đưa ra định nghĩa riêng về KNS và phân loại KNS dưới góc độ tâm lý.
Tác giả Đào Thị Oanh với bài viết cho đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Một số
cơ sở tâm lý học của việc GDKNS cho học sinh” trình bày về sự hình thành và phát
triển của KNS như một mặt quan trọng của nhân cách con người hiện đại [44].
Nguyễn Thị Oanh với bộ sách về giáo dục KNS cho tuổi vị thành niên gồm 2
tập: tập 1 - “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên” và tập 2 – “10 cách thức rèn kỹ
năng sống cho tuổi vị thành niên”. Nhìn chung, đây là bộ sách về giáo dục KNS với

hình thành trước đó [43].
V.A.Kruchetxki coi kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động- những cái
mà con người nắm vững, với ông chỉ cần nắm vững phương thức của hành động là
con người đã có kỹ năng, không cần đến kết quả của hành động. Quan điểm của tác
giả đã bộc lộ một hạn chế là để đạt được kết quả cho mỗi hành động còn phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố, nếu chỉ nắm phương thức của hành động trong hoạt động cụ
thể liệu có chắc chắn mang lại kết quả hay không.
Rất gần gũi với quan điểm trên, A.G Côvaliov [13] cho rằng “Kỹ năng là
phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành
động” theo ông kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trong đó
quan trọng hơn cả là năng lực thực hiện hành động nào đó của con người chứ
không chỉ là con người có cách thức thực hiện hành động tốt thì sẽ thu được tương
ứng, ông cũng đặc biệt nhấn mạnh là khi cá nhân tìm được phương thức hành
động thích hợp với mục đích nhất định nào đó trong những điều kiện xác định của
hoạt động chính là kỹ năng.
- P.A Rudich cho rằng: Kỹ năng là động tác mà cơ sở của nó là sự vận động
thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt hiệu quả trong một hình thức hoạt
động cụ thể. Như vậy tác giả đề cao khía cạnh kỹ thuật của kỹ năng và xem đó như
là kết quả của những kiến thức đã tiếp thu được từ vận động thực tế.
- Đề cập đến kỹ năng, tác giả Trần Trọng Thủy cũng nhấn mạnh kỹ năng là
mặt kỹ thuật của hành động con người nắm được cách thức hành động tức là có kỹ
thuật hành động, có kỹ năng [53].
- Tác giả Bùi Thị Xuân Mai đưa ra quan niệm “Kỹ năng là sự vận dụng đúng
đắn những tri thức, giá trị, thái độ liên quan vào hoạt động hay hành động thực tiễn
trong những điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động có kết quả. Theo
11


tác giả chỉ khi nào cá nhân nắm rõ tri thức hành động và có thái độ vận dụng nó vào
hoạt động thực tiễn thì cá nhân mới được coi là kỹ năng trong hoạt động đó [36].


kiến thức đã tiếp thu để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở
một cấp độ, tiêu chuẩn xác định”. Tác giả đã đề cập đến trình độ và khả năng vận
dụng kiến thức của cá nhân như là một biểu hiện của kỹ năng khi thực hiện một
công việc nào đó.
Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thành cũng có quan niệm kỹ
năng theo xu hướng này, tác giả coi kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ
thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống hành động.
Điều này cũng đồng nghĩa là nếu cá nhân nào không có khả năng thực hiện có hiệu
quả hệ thống hành động thì cá nhân đó được xem là không có kỹ năng. Quan niệm
này phần nào phản ánh chưa được đầy đủ và trọn vẹn kỹ năng bởi để có được kỹ
năng còn đòi hỏi cá nhân phải nắm được các thao tác kỹ thuật, xác định được mục
đích trên cơ sở đó luyện tập để củng cố nhằm thuần thục kỹ năng. Mặt khác yếu tố
“năng lực” rất có ý nghĩa trong việc đẩy nhanh và làm tăng tính hiệu quả của việc
hình thành kỹ năng ở cá nhân song không phải là yếu tố duy nhất [26].
Tổng hợp các phân tích về kỹ năng nói trên, chúng tôi xin đề xuất khái niệm
kỹ năng như sau:
Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ của cá nhân
một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để
thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết quả.
Trong khái niệm này, kỹ năng có một số đặc điểm như sau:
- Kỹ năng là một biểu hiện của năng lực trí tuệ và đồng thời là mặt kỹ thuật
của hành động, là kết quả của quá trình luyện tập củng cố, kỹ năng bao giờ cũng
gắn với một hành động cụ thể. Một cá nhân có kỹ năng đòi hỏi phải có tri thức, kinh
nghiệm về yêu cầu thao tác, kỹ thuật hành động, phương thức hành động… đồng
thời biết vận dụng một cách thuần thục, sáng tạo và có hiệu quả vào trong những
tình huống cụ thể nhằm đạt mục đích đã đề ra.
- Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết. Cơ sở lí thuyết đó
chính là kiến thức, xuất phát từ cấu trúc kỹ năng (mục đích, cách thức thực hiện và
hiểu được những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó). Kỹ năng chỉ có

skill) là những mẫu ứng xử tập nhiễm hay học được, được chấp nhận về mặt xã hội,
giúp một cá nhận có thể quyết định hành động và ứng xử một cách có hiệu quả với
người khác, giúp người đó nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh, tránh được những

14


hậu quả tiêu cực về mặt XH.
Những nghiên cứu của các nhà tâm lý học (Coie & Dodge, 1983; Pasker &
Asher, 1987) khẳng định rằng một đứa trẻ nếu không phát triển đầy đủ các kỹ năng
xã hội: KN thể hiện sự tự tin, KN kết bạn, hợp tác nhóm, KN đồng cảm, chia sẻ,
KN quyết đoán, tự khẳng định, KN kiềm chế, kiểm soát stress, KN giải quyết vấn
đề, KN thích ứng hòa nhập với môi trường mới, KN thuyết phục... sẽ báo trước rằng
đứa trẻ này có nguy cơ gặp nhứng khó khăn học đường: kém thích ứng, khó kết
bạn, khó hòa nhập với các bạn trong lớp, thụ động, kém tự tin, sợ giáo viên, không
hứng thú học, chán học... hoặc mắc các lỗi rối nhiễu hành vi, rối nhiễu đạo đức dẫn
đến thất bại học đường. Những người có kỹ năng xã hội thường tạo ra được một
phạm vi rộng các mối quan hệ quen biết, và họ có tài tìm ra được tiếng nói chung
với hầu hết các kiểu người khác nhau trong xã hội - nói cách khác, họ có sở trường
trong việc tạo ra tình trạng đồng thuận. Họ hoàn toàn có khả năng hội nhập và thích
nghi tốt với những môi trường sống khác nhau.
- Theo Bách khoa toàn thư trực tuyến (Wikipedia) KNXH là thuật ngữ dùng để
chỉ bất cứ KN quan trọng nào trong cuộc sống con người: KN sống, KN giao tiếp, lãnh
đạo, làm việc theo nhóm, KN quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng
tạo và đổi mới... tạo điều kiện thuận lợi cho sự tương tác và giao tiếp với người khác.
- Theo tài liệu giáo dục phát triển tình cảm và KNXH cho trẻ mầm non của
Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non 2009. KNXH là KN thích ứng và duy trì
các mối quan hệ xã hội. Đối với trẻ nhỏ KNXH được hiểu là KN hình thành và duy
trì mối quan hệ XH với người lớn và các bạn. Đây là nền tảng của sự phát triển
quan hệ xã hội của trẻ.

hoạt động chung, biết đoàn kết với mọi người, biết hợp tác với nhiều người,…
Muốn vậy phải có năng lực đồng cảm trong giao tiếp, thấu cảm trong giao tiếp,…
nhờ đó mà cảm hóa được những người xung quanh. Những dấu hiệu biểu hiện bên
ngoài: Là đứa trẻ đáng tin cậy, là bạn bè tốt của nhau, trẻ được nhiều bạn yêu mến,
là đứa trẻ cởi mở, vui vẻ, chan hòa, không để bụng, trẻ không thù dai, không đố kỵ,
trẻ rất hứng thú khi được tiếp xúc với mọi người, trẻ rất quan tâm đến mọi người
đặc biệt rất nhạy cảm với những thay đổi xúc cảm của người thân, người gần gũi
với mình: hay đặt câu hỏi (vì sao bạn khóc? Vì sao mẹ lại buồn? Tại sao hôm nay
cô giáo lại không vui?)

16


Bốn là: Năng lực phân tích xã hội – đó là biết nhận ra những tình cảm,
những động cơ, những lo lắng của người khác. Sự hiểu biết này thể hiện sự quan
tâm, gần gũi,… từ đó đem lại sự thân mật lớn lao, đem lại sự thiện cảm ở người
khác. Người có năng lực phân tích xã hội cao nhất thường là những người làm
công tác tư vấn tâm lý, chữa trị tâm lý (thầy tu, linh mục, hòa thượng, nhà văn,
biên kịch, đạo diễn,…)
Bốn năng lực xã hội phân tích trên phối hợp với nhau để hình thành các kỹ
năng xã hội, nói cách khác là biết giao tiếp xã hội tạo cho bản thân sự hấp dẫn,
quyến rũ, … những người xung quanh để từ đó kích thích trí tuệ, các năng lực tiềm
tàng ở họ, tạo ra sức mạnh trí tuệ, cảm xúc, thể chất,… đảm bảo cho sự thành công
ở nhiều lĩnh vực hoạt động.
Điều dễ nhận thấy ở năng lực nào cũng có sự xâm nhập của tình cảm. nếu
không thiện chí, không cởi mở, không vì mọi người, không hoạt động tích cực trong
các quan hệ xã hội để trải nghiệm những vui buồn, tự hào, xấu hổ,… thì không thể
có các năng lực xã hội hay còn gọi kỹ năng xã hội, để giúp con người luôn có cảm
giác an toàn trong học tập, lao động sáng tạo.
* Như vậy ta có thể tổng kết rằng: Kỹ năng xã hội là một tập hợp các kỹ

Trò chơi ĐVCCĐ là loại trò chơi trong đó trẻ đóng một vai cụ thể để tái tạo
lại những ấn tượng, những xúc cảm mà trẻ thu nhận được từ một môi trường xã hội
của người lớn nhờ sự tham gia tích cực của trí tưởng tượng.
“Bản chất của trò chơi ĐVCCĐ có thể hiểu đó là sự tái tạo lại những hành
động của người lớn cũng như thái độ và các mối quan hệ giữa họ với nhau trong
hoạt động lao động và sinh hoạt hàng ngày của trẻ trong trò chơi của mình” [20].
Nói cách khác, trò chơi ĐVCCĐ là loại trò chơi mà khi chơi trẻ mô phỏng
một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vai (hay còn
gọi là đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ bằng
những hành động mang tính tượng trưng [58].
Từ đó, có thể hiểu: Trò chơi ĐVCCĐ là dạng trò chơi sáng tạo, đặc trưng
của lứa tuổi MG, phản ánh một mảng hiện thực của cuộc sống xã hội, lao động,
mối quan hệ giữa con người với con người thông qua việc đóng vai người lớn mà

18


trẻ thực hiện hành động theo chức năng xã hội mà họ đảm nhận.
1.3. Lý luận về GDKNXH cho trẻ MG 5-6 tuổi
1.3.1. Đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi
* Đặc điểm phát triển thể chất
- Về sức vóc: Trẻ 5 tuổi tăng trưởng nhanh về chiều cao và cân nặng. Chiều
cao trung bình cơ thể là 105cm, cân nặng trung bình là 17kg.
- Về giải pháp sinh lý: Hệ xương bắt đầu được cốt hóa, cơ bắp to ra, các cơ
quan hô hấp và tuần hoàn phát triển, trọng lượng của não tăng nhanh từ 1.100g đến
1.350g. Tăng cường vai trò điều chỉnh và kiểm tra của vỏ bán cầu đại não đối với
các vùng vỏ dưới. Tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện tăng nhanh, hệ thống tín
hiệu thứ nhất phát triển mạnh mẽ.
Sự phát triển thể chất đó tạo lên những điều kiện cần thiết để trẻ có thể hoạt
động độc lập nhiều hơn và giúp trẻ lĩnh hội những hình thức mới của kinh nghiệm xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status