QUẢN lý HOẠT ĐỘNG bồi DƯỠNG GIÁO VIÊN TRUNG học PHỔ THÔNG THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP ở VÙNG tây bắc - Pdf 42

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
--------

NGUYN TIN PHC

QUảN Lý HOạT ĐộNG BồI DƯỡNG GIáO VIÊN
TRUNG HọC PHổ THÔNG THEO CHUẩN NGHề NGHIệP
ở VùNG TÂY BắC
Chuyờn ngnh: Qun lý giỏo dc
Mó s: 62.14.01.14

LUN N TIN S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS.TS Nguyn Xuõn Thc
2. TS. Vn Chn

H Ni - 2015


LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự
hướng dẫn khoa học nghiêm túc, sự giúp đỡ tận tình, trách nhiệm cao của
PGS.TS. Nguyễn Xuân Thức và TS. Đỗ Văn Chấn.
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào
tạo tỉnh Điện Biên; lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội; lãnh đạo, cán bộ,
giảng viên Khoa Quản lý Giáo dục, Phòng Đào tạo sau Đại học trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã dành cho tác giả những điều kiện hết sức thuận lợi; nhiều
nhà khoa học đã nhiệt tình đóng góp những ý kiến quý báu giúp tác giả nâng cao
trình độ và hoàn thiện luận án.

Bộ GD&ĐT
BCĐ
BDTX
CMNV
CBQL
CNH – HĐH
CSVC

CĐSP
CNTT
ĐH
ĐHSP
GV
GDH
HS
KT – XH
QLGD
QLNN
GD&ĐT
SGK
SL
TCCN
THPT
THCS

:
:
:
:
:

Bộ Giáo dục và Đào tạo
Ban chỉ đạo
Bồi dưỡng thường xuyên
Chuyên môn nghiệp vụ
Cán bộ quản lý
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Cơ sở vật chất
Cao đẳng
Cao đẳng sư phạm
Công nghệ thông tin
Đại học
Đại học sư phạm
Giáo viên
Giáo dục học
Học sinh
Kinh tế - Xã hội
Quản lý giáo dục
Quản lý nhà nước
Giáo dục và Đào tạo
Sách giáo khoa
Số lượng
Trung cấp chuyên nghiệp
Trung học phổ thông
Trung học cơ sở
Trung tâm giáo dục thường
xuyên
Xã hội hóa giáo dục
Ủy ban nhân dân



tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo
đức và năng lực nghề nghiệp” [13].
Trước yêu cầu của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Việt Nam, cần đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng
của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.
Dạy học cần tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở
để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ việc học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú
ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học [13].
Như vậy, vị trí và vai trò của người thầy giáo được khẳng định trên cơ
sở nhân tố quyết định chất lượng giáo dục. Muốn nâng cao chất lượng giáo
dục, yếu tố quan trọng là phải nâng cao chất lượng đội ngũ GV, muốn nâng


2

cao chất lượng cho đội ngũ GV, thì việc tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho đội
ngũ GV là không thể thiếu được. Muốn hoạt động bồi dưỡng GV có hiệu quả
thì công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì
thế, đội ngũ GV và công tác bồi dưỡng GV, quản lý bồi dưỡng đội ngũ GV
chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực của đất nước.
1.2. Hiện nay, trên thế giới một trong những xu thế quản lí là quản lí dựa
vào chuẩn. Vì thế, vấn đề xây dựng chuẩn và áp dụng chuẩn trong giáo dục đã
được nhiều quốc gia phát triển áp dụng thành công, đạt hiệu quả cao. Ở nước ta
việc xây dựng chuẩn và áp dụng chuẩn trong giáo dục nói chung và cho đội ngũ
nhà giáo và CBQL nói riêng đã được chú trọng, được thể hiện qua việc triển
khai xây dựng một loạt các chuẩn, trong đó có chuẩn giáo viên trung học phổ

GV đang còn yếu. Nhân sự bộ máy để quản lý hoạt động bồi dưỡng thiếu về số
lượng, yếu về chất lượng (chưa có bộ phận, cá nhân chuyên trách); Công tác
chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chưa quyết liệt, chưa sát sao; chưa thường xuyên
kiểm tra, giám sát các nhà trường trong việc quản lý hoạt động tự học, tự bồi
dưỡng của GV. Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng; kiểm tra các
bộ phận thực hiện nhiệm vụ được giao chưa được thường xuyên; việc tổng kết,
rút kinh nghiệm kịp thời nhằm hạn chế bất cập còn chưa được quan tâm, chú
trọng.. Dẫn đến hiệu quả của công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng GV THPT
của sở GD&ĐT chưa được cao [24].
1.3. Trong thực tiễn về nghiên cứu lí luận và thực tiễn trong quản lí giáo
dục ở nước ta, những năm qua, nhiều đề tài đã đề cập đến hoạt động bồi dưỡng
GV THPT và quản lý các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV THPT đã
thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, cán bộ QLGD và GV. Các đề
tài và các công trình nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng của đội ngũ GV THPT
trong giai đoạn hiện nay, những hạn chế trong công tác bồi dưỡng GV THPT;
đặc biệt phân tích những nguyên nhân và hạn chế trong công tác quản lý hoạt
động bồi dưỡng GV THPT tại các nhà trường, từ đó đã đề xuất nhiều biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý bồi dưỡng GV THPT của hiệu
trưởng các trường THPT. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi
dưỡng GV THPT của sở GD&ĐT còn chưa được đề cập đến, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay, chuẩn nghề nghiệp GV THPT đã được Bộ GD&ĐT ban hành.
Các tỉnh Vùng Tây Bắc hầu hết thuộc miền núi và vùng có điều kiện
KT-XH đặc biệt khó khăn. Số lượng GV trẻ, mới ra trường ở các vùng này
chiếm tỷ lệ cao và được tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau. Thậm chí, còn
một bộ phận không nhỏ được đào tạo không chính quy; ý thức tự học, tự bồi
dưỡng của GV còn chưa cao. Vì vậy, rất cần có công trình nghiên cứu có nội
dung vận dụng lí luận quản lí giáo dục vào trong công tác bồi dưỡng GV để
tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV có hiệu quả.



bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT
theo chuẩn nghề nghiệp.
5.2. Khảo sát chất lượng GV THPT (phẩm chất chính trị, đạo đức lối
sống và các năng lực chuyên môn, nghiệp vụ) so với chuẩn nghề nghiệp; thực


5

trạng hoạt động bồi dưỡng GV THPT và quản lý của sở GD&ĐT đối với hoạt
động bồi dưỡng GV THPT ở Vùng Tây Bắc.
5.3. Đề xuất biện pháp quản lí của sở GD&ĐT đối với hoạt động bồi
dưỡng GV THPT theo chuẩn nghề nghiệp ở Vùng Tây Bắc.
5.4. Khảo nghiệm và thực nghiệm biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng
GV THPT theo chuẩn nghề nghiệp ở Vùng Tây Bắc.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên trong năm
học cho GV THPT theo chuẩn nghề nghiệp của sở GD&ĐT.
6.2. Giới hạn về địa bàn khảo sát
- Địa bàn khảo sát thực trạng: các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La; ở
mỗi một tỉnh lựa chọn các trường THPT ở vùng khác nhau như: vùng đồng
bằng, vùng cao, vùng thuận lợi, vùng khó khăn.
- Địa bàn thực nghiệm: Tỉnh Điện Biên.
6.3. Giới hạn về khách thể khảo sát
- Khách thể khảo sát thăm dò và chuẩn hóa bộ công cụ đo;
- Khách thể khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT
theo chuẩn nghề nghiệp;
- Khách thể thực nghiệm bao gồm:

7.1.3. Tiếp cận theo chuẩn: chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí tuân thủ những
nguyên tắc nhất định, được dùng làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản
phẩm của một lĩnh vực nào đó. Luận án đề cập đến chuẩn nghề nghiệp GV THPT;
do đó, trong qua trình đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ của GV và đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động bồi
dưỡng GV phải dựa vào các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GV THPT.
71.4. Tiếp cận thực tiễn: phân tích và đánh giá thực trạng đội ngũ GV
THPT; thực trạng hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng GV
THPT của sở GD&ĐT dựa trên cơ sở điều tra thực tế.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tác giả tiến hành đọc, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái
quát hóa các tài liệu, hồ sơ, sách báo, tạp chí khoa học…về quản lí, quản lí giáo
dục, bồi dưỡng GV và quản lí hoạt động bồi dưỡng GV bao gồm:
- Các tài liệu, các văn kiện của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo;
- Các tài liệu, sách báo đề cập đến bồi dưỡng GV, quản lí hoạt động bồi
dưỡng GV của các nhà khoa học trong và ngoài nước;
- Các luận án, đề tài, tạp chí khoa học, báo cáo khoa học, các bài tham
luận tại các cuộc hội thảo đề cập đến hoạt động bồi dưỡng GV THPT, quản lí
hoạt động bồi dưỡng GV THPT;
- Các Thông tư của Bộ GD&ĐT quy định về chuẩn nghiệp GV THPT và


7

các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông đáp ứng đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục Việt Nam.
Các tài liệu đó được phân tích, nhận xét, tóm tắt hoặc trích dẫn phục vụ
cho việc xây dựng cơ sở lí luận của luận án.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn


8.1. Quản lí hoạt động bồi dưỡng GV THPT là quản lí một hoạt động bồi
dưỡng trong công tác bồi dưỡng GV. Công tác quản lí này có tính chất đặc thù,
phức tạp, có vị trí vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV,
đáp ứng yêu cầu của giáo dục phổ thông và đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp.
8.2. Bồi dưỡng GV THPT ở Vùng Tây Bắc hiện nay phải dựa vào chuẩn
nghề nghiệp, đây là yêu cầu khách quan vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến
lược lâu dài để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục trước yêu cầu
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.
8.3. Trong quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT theo chuẩn nghề
nghiệp; việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá; lựa chọn
phương thức tổ chức bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp là vấn
đề cấp thiết, có ý nghĩa khoa học.
8.4. Quản lý hoạt động bồi dưỡng GV THPT theo chuẩn nghề nghiệp góp
phần thay đổi cơ bản hoạt động bồi dưỡng GV, nâng cao chất lượng hoạt động
bồi dưỡng nói riêng, chất lượng GV nói chung; giúp GV có phẩm chất, năng lực
đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp, yêu cầu của xã hội đang đặt ra.
9. Những đóng góp mới của luận án
9.1. Về lí luận
- Hệ thống hóa lí luận, khái niệm về bồi dưỡng GV theo chuẩn nghề nghiệp,
quản lí hoạt động bồi dưỡng GV theo chuẩn nghề nghiệp; hình thành khung lí
thuyết về quản lí hoạt động bồi dưỡng GV THPT theo chuẩn nghề nghiệp.
- Đề xuất mục tiêu; nội dung; phương pháp; công cụ kiểm tra, đánh giá
bồi dưỡng và phương thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu chuẩn
nghề nghiệp GV THPT.
9.2. Về thực tiễn
- Qua kết quả khảo sát thực trạng đội ngũ GV THPT phát hiện các mâu
thuẫn, bất cập trong hoạt động bồi dưỡng GV THPT và quản lý hoạt động bồi
dưỡng GV THPT theo chuẩn nghề nghiệp; từ đó giúp các sở GD&ĐT có cơ sở,
định hướng đưa ra các biện pháp cải tiến, đổi mới quản lý hoạt động bồi dưỡng

GV có hiệu quả, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã đề cập công tác quản lý
hoạt động bồi dưỡng GV. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc
đánh giá vai trò và tầm quan trọng của các cấp quản lí; nhiều nhà khoa học đánh
giá cao vai trò của hiệu trưởng trong việc quản lí hoạt động bồi dưỡng GV, cho
rằng chất lượng và sự thành công của mỗi nhà trường phụ thuộc vào hiệu
trưởng; trong khi đó nhiều nhà khoa học lại đánh giá cao vai trò của Bộ
GD&ĐT, các phòng phương pháp khu vực quận, huyện...
Nhà sư phạm Nhật Bản T.Mmakiguchi đã nghiên cứu sâu về công tác
quản lí hoạt động bồi dưỡng GV, đánh giá cao vai trò của công tác quản lí việc
tự học, tự bồi dưỡng của GV tại các nhà trường; coi việc tự học, tự bồi dưỡng là
một phẩm chất quan trọng của GV [137].
Amy Mednick chỉ ra vai trò quan trọng của người hiệu trưởng trong việc
chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng GV. Các vai trò mới của hiệu trưởng tập trung
vào một số lĩnh vực có liên quan đến nhau: chia sẻ quyền quyết định đối với
GV; cung cấp các hỗ trợ cho các hoạt động bồi dưỡng; đôn đốc GV tự học, tự
bồi dưỡng; hợp tác phát triển; quản lý và giám sát quá trình tự học, tự bồi
dưỡng của GV [48].
Sergiovanni T.J đánh giá cao vai trò lập kế hoạch trong quản lí hoạt
động bồi dưỡng GV. Xem xét vai trò của hiệu trưởng là người giải quyết các
vấn đề chiến lược, lãnh đạo văn hóa, lãnh đạo giảng dạy thông qua việc giúp
GV lập kế hoạch tự bồi dưỡng, cung cấp và giám sát việc dạy và học, ngoài ra
còn được coi là nhân vật trung tâm trong việc xây dựng các kế hoạch bồi
dưỡng cho đội ngũ GV [48].
Fullan M nghiên cứu vai trò tổ chức, chỉ đạo của hiệu trưởng trong công
tác bồi dưỡng GV; tổ chức cho GV được bồi dưỡng để phát triển năng lực nghề


11

nghiệp; khuyến khích tạo điều kiện cho GV tự học, tự bồi dưỡng. Ngoài ra, hiệu

dưỡng tại trường; đánh giá hiệu quả bồi dưỡng GV trong phạm vi quản lí; đề xuất
các chính sách hỗ trợ đối với GV có năng lực sư phạm tốt [106].


12

Ở thập kỉ trước, một số nước như Đức, Bungary, Hunggary, trong
quản lí hoạt động bồi dưỡng GV, đề cao vai trò quản lý của Bộ GD&ĐT, các
Viện bồi dưỡng GV. Vì vậy, hầu hết các nước này đều hình thành một hệ
thống bồi dưỡng GV từ trung ương đến địa phương. Hệ thống gồm có Viện
bồi dưỡng GV trung ương và Viện bồi dưỡng GV của tỉnh, cụm tỉnh, phòng
phương pháp khu vực huyện...Việc quản lý hoạt động bồi dưỡng GV đều do
Viện bồi dưỡng GV từ trung ương đến địa phương đảm nhiệm. Viện bồi
dưỡng GV trung ương là cơ quan nghiên cứu chỉ đạo về phương pháp giáo
dục, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho GV và các CBQL, chịu sự
chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và phục tùng những quy định
về luật pháp nhà nước; có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, triển khai
kế hoạch bồi dưỡng, chỉ đạo giúp đỡ Viện bồi dưỡng GV cấp tỉnh trong việc
nâng cao hiệu quả bồi dưỡng GV. Viện bồi dưỡng GV cấp tỉnh có nhiệm vụ
cụ thể hóa các hướng dẫn của Viện bồi dưỡng GV trung ương, có nhiệm vụ
bồi dưỡng trực tiếp cho các GV, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, thực hiện
các kế hoạch do Viện bồi dưỡng GV cấp trên hướng dẫn. Công tác bồi
dưỡng GV thường được triển khai theo 3 hoạt động: (i)-Tập huấn bồi dưỡng
cho các giảng viên cấp tỉnh và các trung tâm chất lượng cao; (ii)- Hội nghị
triển khai công tác bồi dưỡng với CBQL các cấp; (iii)- Tập huấn cho các
giảng viên cấp dưới để triển khai chương trình cho các GV ở cơ sở. Về hình
thức bồi dưỡng được tổ chức theo 3 hình thức: (i)- bồi dưỡng tập trung; (ii)bồi dưỡng tại chỗ; (iii)- bồi dưỡng từ xa [48].
Hiện nay, để quản lí hoạt động bồi dưỡng GV, nhiều nước trên thế giới đã
dựa vào chuẩn để quản lí. Vì thế, vấn đề xây dựng chuẩn và áp dụng chuẩn
trong giáo dục, đặc biệt trong hoạt động bồi dưỡng GV đã được nhiều quốc gia

tùy thuộc vào đặc thù của từng địa phương và đội ngũ giáo viên [48].
- Xác định thời lượng bồi dưỡng: Các nước khác nhau dành thời gian cho
hoạt động bồi dưỡng không giống nhau. Ở Hoa Kỳ, Anh, Pháp, thời gian bồi
dưỡng cho GV trong thời gian nghỉ hè khoảng 2 tuần, thời gian còn lại chủ yếu
hướng dẫn GV bồi dưỡng ngay tại các nhà trường [48].
Ở Hàn Quốc, đầu năm học, Trung tâm bồi dưỡng GV theo từng cụm
thường dành khoảng 10 ngày để bồi dưỡng cho GV, trong đó dành 02 ngày bồi
dưỡng chính trị, thời gian còn lại GV được cung cấp kiến thức về chuyên môn
và các kỹ năng nghề nghiệp [56].
Qua nghiên cứu, xu hướng chung của các nước là tăng cường thời gian
bồi dưỡng cho GV.
- Các biện pháp tổ chức thực hiện nội dung bồi dưỡng: Các nước đều tổ
chức thực hiện nội dung bồi dưỡng thông qua các giảng viên cốt cán, mỗi nước
sử dụng đội ngũ giảng viên khác nhau, như ở Viện nghiên cứu bồi dưỡng,
trường ĐH sư phạm, Bộ GD&ĐT, sở GD&ĐT và ở các trường THPT.


14

Ở Nhật Bản, giảng viên ở Viện nghiên cứu bồi dưỡng đảm nhiệm việc bồi
dưỡng cho GV; GV ở các nhà trường được phân thành từng cụm và đội ngũ giảng
viên cốt cán của Viện sẽ đến trực tiếp từng cụm để bồi dưỡng cho GV [106].
Ở Pháp, nội dung bồi dưỡng được các nhà trường xây dựng sau đó đặt
hàng với Viện nghiên cứu bồi dưỡng, Viện có trách nhiệm cử các giảng viên cốt
cán theo từng nội dung yêu cầu của nhà trường, có trách nhiệm bồi dưỡng cho
các GV tại các nhà trường [137].
- Các phương thức tổ chức bồi dưỡng: Phần lớn các quốc gia đều coi
trọng việc tự bồi dưỡng tại các nhà trường; một số nước kết hợp phương thức tổ
chức bồi dưỡng tập trung theo cụm trường với phương thức tổ chức bồi dưỡng
thường xuyên tại các nhà trường.

[112],[113]..... đánh giá cao vai trò của công tác đào tạo bồi dưỡng GV, trong đó
quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá bồi dưỡng
GV; đề cập nhiều vấn đề làm thế nào để công tác bồi dưỡng GV có hiệu quả. Trên
cơ sở đó, các nhà giáo dục đã đưa ra một số giải pháp như phải đa dạng hóa các
phương thức bồi dưỡng GV, trong đó coi trọng việc tự bồi dưỡng tại tổ chuyên môn;
ứng dụng công nghệ thông tin trong bồi dưỡng GV; khảo sát nhu cầu bồi dưỡng GV
trước khi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng; xây dựng kế hoạch cần chú ý tính địa
phương, vùng, miền; kết hợp bồi dưỡng “từ dưới lên” với “từ trên xuống”; biên soạn
tài liệu bồi dưỡng GV theo hướng tự học, tự nghiên cứu; đổi mới phương pháp bồi
dưỡng trong các lớp tập huấn; phải đảm bảo tốt các điều kiện cần thiết cho công tác
bồi dưỡng GV; đổi mới kiểm tra, đánh giá nhằm tác động tích cực tới việc nâng cao
chất lượng và hiệu quả của công tác bồi dưỡng.
Năm 1993, Bộ GD&ĐT đã xây dựng và tổ chức chương trình BDTX theo
chu kỳ 3 năm cho GV THPT. Bộ GD&ĐT đã tổ chức được 3 chu kỳ BDTX cho
GV, cụ thể: chu kỳ 1 (1993-1996); chu kỳ 2 (1997- 2000); chu kỳ 3 (2001-2004)
[15]. Kết thúc 3 chu kỳ, Bộ GD&ĐT đã tổng kết, rút kinh nghiệm và khẳng định
rằng: “muốn hoạt động bồi dưỡng GV có hiệu quả thì một trong những giải
pháp quan trọng và có tính đột phá đó là phải đổi mới công tác quản lí hoạt
động bồi dưỡng. Ngoài ra cần quan tâm đến một số biện pháp khác như: phải
có chính sách hợp lí nhằm khuyến khích GV tự học, tự bồi dưỡng; phải gắn chặt
kết quả tự học, nâng cao trình độ tự học với việc nâng lương, đãi ngộ về vật
chất và tinh thần; trên cơ sở đánh giá thực trạng đội ngũ GV, phải tiến hành sơ
kết và tổng kết bồi dưỡng thường xuyên” [43].
Tác giả Phạm Quang Huân trong bài viết “Nâng cao chất lượng và hiệu quả
công tác bồi dưỡng giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục”
đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học 60 năm Ngành Sư phạm Việt Nam (2006) đã
đề cập đến những hạn chế trong việc quản lí hoạt động BDTX theo chu kỳ (19921996, 1997-2000) của Bộ GD&ĐT, đó là: công tác chỉ đạo bồi dưỡng chưa cụ thể,
do việc phân cấp quản lý chưa thống nhất nên ở một số địa phương còn thiếu sự



Một số bài viết của các tác giả được đăng trên Tạp chí giáo dục từ năm
2007 đến năm 2011 có đề cập đến hoạt động bồi dưỡng GV như: "Về công tác
bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông hiện nay" của tác giả Bùi Thị Loan, số
176, trang 15, năm 2007 [93]; "Bàn về nhu cầu và định hướng hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông Vùng Đồng bằng sông Cửu Long"


17

của tác giả Nguyễn Văn Đệ, số 247, trang 7, năm 2010 [46]; "Về công tác bồi
dưỡng giáo viên trung học phổ thông hiện nay" của tác giả Trần Thị Tuyết Mai
[98]. Các bài viết trên đều có có những nội dung bàn về công tác quản lí hoạt
động bồi dưỡng GV ở các cấp như Bộ GD&ĐT, sở GD&ĐT. Trong đó rất coi
trọng công tác chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, của Sở GD&ĐT đối với hoạt động bồi
dưỡng GV THPT. Các bài viết đều có chung quan điểm đó là Bộ GD&ĐT, sở
GD&ĐT thực hiện tốt công tác chỉ đạo về công tác bồi dưỡng thì hoạt động bồi
dưỡng GV sẽ có hiệu quả (hình thức bồi dưỡng đa dạng; nội dung bồi dưỡng
phong phú; phương pháp bồi dưỡng được đổi mới, phù hợp với thực trạng đội
ngũ GV; kiến thức, năng lực nghề nghiệp của GV được nâng lên).
Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học nghiên cứu quản lí hoạt động
bồi dưỡng GV theo hướng tiếp cận Chuẩn; đề cao vai trò của việc xây dựng nội
dung bồi dưỡng; các biện pháp tổ chức thực hiện nội dung bồi dưỡng; các
phương thức tổ chức bồi dưỡng.
- Xây dựng nội dung bồi dưỡng: Bùi Văn Quân, với bài viết “Quan điểm và
định hướng phát triển chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên giai
đoạn 2010-2015” đã đề cập đến các quan điểm quản lí hoạt động bồi dưỡng GV,
trong đó có nội dung BDTX GV được xác định là nhiệm vụ của cơ quan quản lý
nhà nước về giáo dục, của cơ sở giáo dục và của mỗi GV; từ đó đưa ra một số định
hướng trong công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng: (i)- Bồi dưỡng theo nhu cầu của
GV, cơ sở giáo dục và lấy nhà trường làm đơn vị bồi dưỡng; (ii)- Thiết lập chương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status