ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG vệ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM tại các cơ sở sản XUẤT GIÒ CHẢ TRÊN địa bàn TỈNH NINH BÌNH và đề XUẤT GIẢI PHÁP đảm bảo AN TOÀN THỰC PHẨM - Pdf 42

V
Ũ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

VŨ THỊ NGA

CÔNG
NGHỆ
THỰC

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
TẠI CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT GIÒ CHẢ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH NINH BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN
TOÀN THỰC PHẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

KHOÁ 2011-2013
Hà Nội – Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

VŨ THỊ NGA

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI CÁC CƠ SỞ

sản xuất giò chả.........................................................................................2
Chương 1..........................................................................................................3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................................3
1.1. Tầm quan trọng của chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm............3
1.1.1. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe
....................................................................................................................3
1.1.2. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng tới phát
triển kinh tế, văn hóa xã hội....................................................................4
Có thể thấy rằng, thực phẩm nếu không đảm bảo an toàn sẽ ảnh
hưởng lớn tới phát triển kinh tế, ảnh hưởng trước hết là do những thiệt
hại của ngành chế biến thực phẩm mang lại, ngoài ra là những chi phí
cho công tác khắc phậu hậu quả của ngộ độc thực phẩm và bệnh
truyền qua thực phẩm và những thiệt hại đối với ngành du lịch nếu các
cơ sở kinh doanh ăn uống và thực phẩm phục vụ khách du lịch không
đảm bảo vệ sinh, an toàn.............................................................................5
1.2. Một số khái niệm...................................................................................5
1.3.2. Tại Ninh Bình .................................................................................9


1.6. Qui định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản
xuất chế biến thực phẩm...........................................................................16
Điều kiện VSATTP là những điều cần phải có của một cơ sở sản xuất chế
biến thực phẩm để sản xuất ra những sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn
cho người tiêu dùng. Có 3 nhóm điều kiện cần phải đảm bảo là: điều kiện
về cơ sở vật chất, điều kiện về trang thiết bị dụng cụ và điều kiện về con
người [1].........................................................................................................16
Chương 2........................................................................................................19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................19
2.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................19
2.2. Thời gian và địa điểm thực hiện........................................................19

gửi lời cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp gần xa, đặc biệt là các anh chị em cùng
khóa, những người đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành
tốt nhiệm vụ của mình.
Vũ Thị Nga


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là kết quả nghiên cứu và làm việc của tôi,
các kết quả, số liệu của luận văn là trung thực, thực tế tại nơi nghiên cứu.
Ninh Bình, tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Vũ Thị Nga
Học viên cao học khoá học 2011-2013


DANH MỤC BẢNG

Bảng 1. So màu bán định lượng acid boric hoặc natri borat....................23
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu..................................26
Bảng 3.2. Điều kiện về vị trí, thiết kế, cấu trúc...........................................28
Bảng 3.6. Kiến thức về ATTP.......................................................................34
Bảng 3.7. Hiểu biết về phụ gia thực phẩm.................................................36
Bảng 3.8. Thực hành VSATTP của người sản xuất chế biến....................37
Bảng 3.9. Thông tin về kiểm tra, xử phạt và tiếp cận thông tin về
VSATTP.........................................................................................................38
Bảng 3.10 Tỉ lệ các mẫu ô nhiễm hàn the...................................................39
Bảng 3.11. Mức độ ô nhiễm Hàn the (mg/100g)..........................................41
Bảng 3.12. Tỷ lệ sử dụng Hàn the trong giò chả tại Ninh Bình.................41
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa ô nhiễm hàn the với...................................42
tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm.....................................42

:

An toàn thực phẩm
An toàn vệ sinh thực phẩm
Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn

NĐTP
GDP
VSATTP
ĐKKD
ĐK
ĐKVSATTP
WHO

:
:
:
:
:
:
:

(Hazard Analysis and Critical Control Point)
Ngộ độc thực phẩm
Tổng sản phẩm quốc nội
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Đăng ký kinh doanh
Điều kiện
Điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm
Tổ chức Y tế Thế giới

phẩm còn rất nhiều hạn chế.
Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng bắc bộ, gồm 8 huyện trong đó
bao gồm 01 thành phố và 01 thị xã, diện tích là 1.400 km 2, dân số 898.459 người,
mật độ dân số khoảng 642 người/km 2. Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và
lịch sử văn hóa, Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng. Vì
vậy vấn đề đảm bảo an toàn thực phẩm đang là nhiệm vụ cấp thiết không chỉ đáp
ứng nhu cầu cho người dân trên địa bàn tỉnh mà còn đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn ở
cho số đông khách du lịch tham quan tại tỉnh. Mặt khác, hiện nay theo số liệu thống

1


kê của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh thực
phẩm trên địa bàn tỉnh là gần 6000 cơ sở, trong đó chủ yếu là hình thức kinh doanh
nhỏ lẻ, dưới dạng các hộ cá thể. Vấn đề kiểm soát an toàn thực phẩm đối với các cơ
sở thực phẩm trên địa bàn tỉnh cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là đối
với các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, đa số các cơ sở này đều không đáp ứng đủ về điều
kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, nguy cơ mất an toàn thực phẩm và gây ra các vụ
ngộ độc cấp cũng như bệnh truyền qua thực phẩm là rất cao. Trong số các sản phẩm
thực phẩm được sản xuất tại tỉnh thì giò chả là một trong những loại thực phẩm
truyền thống rất được ưa chuộng, tuy nhiên cũng giống với đa số các cơ sở sản xuất
thực phẩm khác; cơ sở sản xuất giò chả đều trong tình trạng sản xuất nhỏ lẻ phục vụ
cho nhu cầu ăn uống hàng ngày. Hơn nữa mặt hàng này được sản xuất tự do không
đăng ký chất lượng, không đăng ký kinh doanh và đa số đều không có giấy chứng
nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, nguy cơ mất an toàn thực phẩm tại
các cơ sở này là rất lớn. Để tìm hiểu sâu hơn về điều kiện đảm bảo an toàn thực
phẩm tại các cơ sở sản xuất giò chả trên địa bàn tỉnh, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Đánh giá thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất
giò chả trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn thực
phẩm” với mục tiêu nghiên cứu sau:

thế hệ mai sau. Những ảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ thuộc vào các tác nhân gây
bệnh. Những trẻ suy dinh dưỡng, người già, người ốm càng nhạy cảm với các bệnh
do thực phẩm không an toàn nên càng có nguy cơ suy dinh dưỡng và bệnh tật nhiều
hơn.
Ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh rất quan trọng của dinh dưỡng hợp lý. Một bữa
ăn đa dạng các loại thực phẩm sẽ giúp con người phát triển tốt về thể lực, trí tuệ,
tăng cường sức lao động sáng tạo [15].

3


1.1.2. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng tới phát triển kinh tế,
văn hóa xã hội
Đối với nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển, lương thực thực phẩm
là một loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa chính trị, xã
hội rất quan trọng.
Thực phẩm có vai trò rất quan trọng trong nhiều ngành kinh tế. Chất lượng
vệ sinh ATTP là chìa khóa tiếp thị của sản phẩm. Việc tăng cường chất lượng vệ
sinh ATTP đã mang lại uy tín cùng lợi nhuận lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp chế biến thực phẩm cũng như dịch vụ du lịch và thương mại. Thực
phẩm là một loại hàng hóa chiến lược, thực phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an
toàn sẽ tăng nguồn thu xuất khẩu sản phẩm, có tính cạnh tranh lành mạnh và thu hút
thị trường thế giới [12].
Đảm bảo vệ sinh ATTP nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không những cần được sản xuất,
chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được
chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của
tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Do vậy, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng các bệnh gây ra
từ thực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội.

phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo thành nguyên
liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm.
- Điều kiện bảo đảm ATTP là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định
khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản
xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành
nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khoẻ, tính mạng con người.
- Kiểm nghiệm thực phẩm là việc thực hiện một hoặc các hoạt động thử
nghiệm, đánh giá sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn tương ứng đối

5


với thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bổ sung
vào thực phẩm, bao gói, dụng cụ, vật liệu chứa đựng thực phẩm.
- NĐTP là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứa
chất độc.
- Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã
qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và
các chất sử dụng như dược phẩm.
1.3. Thực trạng về sản xuất chế biến giò chả
1.3.1. Tại Việt Nam
Chất lượng VSATTP của một loại sản phẩm được quyết định tại tất cả các
công đoạn của chuỗi cung cấp thực phẩm từ khâu nuôi trồng, sản xuất, chế biến đến
lưu thông và phân phối sản phẩm. Trong đó khâu sản xuất, chế biến thực phẩm ở cơ
sở là một khâu vô cùng quan trọng, yếu tố quyết định đến chất lượng sản phẩm.
Việc sản xuất thực phẩm ở nước ta đã có những bước chuyển biến rất lớn,
đặc biệt là sản xuất lương thực, sản xuất rau quả, thịt, cá và các loại thực phẩm
khác. Ước tính, lượng tiêu thụ thực phẩm hàng năm luôn chiếm khoảng 15% GDP
cho thấy đây là một ngành công nghiệp tiềm năng. Đặc biệt tổng sản lượng của
ngành chế biến lương thực thực phẩm chiếm 20% so với tổng sản lượng nội địa

VSATTP cũng như giấy đăng ký chất lượng sản phẩm của các cơ quan chức năng.
Các nghiên cứu về sản xuất và kinh doanh giò chả, đa số các cơ sở sản xuất
giò chả đều có thâm niên trong lĩnh vực thực phẩm, tuổi nghề ≥ 5 năm chiếm tỉ lệ
45% [19]. Điều tra về những người tham gia trực tiếp sản xuất tại các cơ sở, tỉ lệ là
nữ giới chiếm đa số, 96% người làm giò chả ở Tây Ninh [28], 67% tại Bắc Kạn
[19]. Do giò chả là sản phẩm truyền thống của người Việt Nam có từ rất lâu đời và
nhu cầu dùng hàng ngày là rất thấp, chỉ tăng lên vào mùa lễ hội, dịp đình đám
(thường là vào mùa đông), vì thế ngoài một số cơ sở sản xuất theo qui mô công
nghiệp tập trung ở các thành phố lớn đông dân cư, còn lại các cơ sở sản xuất giò chả
đều sản xuất lượng trung bình dao động khoảng 10 – 30kg/ngày, theo nghiên cứu
trong tổng số các cơ sở sản xuất giò chả tại Bắc Kạn cho thấy, tỉ lệ các cơ sở sản

7


xuất ,với sản lượng 5-20kg/ngày là 70%, còn lại 30% chỉ sản xuất ở mức
sở sản xuất giò chả đều có thâm niên trong sản xuất, đa số có kinh nghiệm trên 5
năm. Theo thống kê của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, trên địa bàn toàn tỉnh
có khoảng 90 cơ sở sản xuất giò chả, tuy nhiên chiếm một phần trong số đó là các
cơ sở sản xuất với sản lượng thấp, chỉ khoảng 2 – 5kg/ngày. Đây là mặt hàng tiêu
thụ mạnh thường vào mùa đông, xuất hiện nhiều trong các dịp đình đám và lễ hội,
còn nhu cầu dùng hàng ngày rất thấp. Chính vì vậy, các cơ sở sản xuất giò chả luôn
tìm cách để kéo dài thời gian bảo quản của sản phẩm. Để tăng thêm độ dai giòn
đồng thời có thể bảo quản được giò chả trong thời giàn dài, các cơ sở sản xuất
thường cho thêm phụ gia trong khi làm giò chả. Việc sử dụng hàn the trong sản xuất
giò chả tại Ninh Bình qua kết quả giám sát mối nguy đối với các mẫu giò chả được
sản xuất tại Ninh Bình (năm 2010 – 2012) cho thấy tỉ lệ sử dụng rất cao, tỉ lệ ô
nhiễm hàn the qua các năm 2010, 2011, 2012 lần lượt là 42,5%, 18,8%, 43,3%.
Trong những năm qua trước thực trạng về sử dụng hàn the tại tỉnh Ninh Bình
công tác thanh kiểm tra đối với cơ sở sản xuất giò chả đã được chú trọng tuy nhiên
trên thực tế vẫn chưa có hiệu quả vì vậy cần phải tìm ra nguyên nhân và các yếu tố
ảnh hưởng đến việc sử dụng hàn the trong sản xuất giò chả để có thể đưa ra những
biện pháp can thiệp kịp thời.

9


1.4. Công nghệ sản xuất giò chả
1.4.1. Giới thiệu qui trình
Nguyên liệu

Xử lý

Xay

Phối trộn

cho sản phẩm được dai, giòn.
- Vào khuôn: Thịt sau khi xay sẽ nhồi vào khuôn (nhôm, inox,…) bên trong
khuôn có để sẵn lớp bao bì PE và lót lá chuối vào lớp trong cùng sau khi cho khối
thịt xay vào khuôn sẽ đậy khuôn cho kín. Đối với chả không qua giai đoạn tạo
khuôn mà chỉ cần tạo thành hình khối của miếng chả.
- Làm chín: Thịt sau khi vào khuôn hoặc tạo hình sẽ được làm chín bằng
cách hấp hoặc luộc.
- Rán: Sau công đoạn làm chín, sản phẩm chả có thể được đem đi hấp tùy
vào cách chế biến của cơ sở và nhu cầu thị hiếu của người sử dụng.
Như vậy qui trình sản xuất giò chả gồm 7 bước rất đơn giản và dễ làm cho tất
cả mọi người. Vấn đề nằm ở chỗ, để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng
rất thích ăn sản phẩm có độ dai, giòn đặc biệt là giò chả. Xuất phát từ thị hiếu đó,

11


trong quá trình sản xuất người ta thường cho thêm hàn the vào giò chả, vừa tạo cho
sản phẩm có độ dai giòn đồng thời cũng kéo dài thời gian bảo quản của sản phẩm.
Mặc dù tại Việt Nam hàn the đã được cấm sử dụng do những ảnh hưởng của nó tới
sức khỏe người sử dụng.
1.4.3. Tìm hiểu về hàn the
Hàn the còn được gọi là borate sodium, có tên khoa học là sodium tetraborate,
tên thương mại là borax, với công thức hóa học là Na 2B4O7.10H2O, có trọng lượng
phân tử 201,22; bột kết tinh màu trắng đục, vị hơi nồng, có mùi bốc mạnh.
Trong cuộc sống, hàn the được sử dụng khá rộng rãi trong y học, công
nghiệp và trong thực phẩm. Trong y học được sử dụng làm chất bôi ngoài da, nhỏ
mắt, nước xúc miệng. Trong công nghiệp, hàn the dùng làm chất kháng khuẩn, là
nguyên liệu để sản xuất các loại bột giặt, chất tẩy rửa, làm bóng bề mặt kim loại, bề
mặt da và kem trắng da; dùng để chế tạo một số hợp kim thép chống bào mòn, sử
dụng trong công nghiệp men sứ, thủy tinh chịu nhiệt [19].

thận với biểu hiện ăn mất ngon, giảm cân, tiêu chảy, động kinh, suy thận [37].
1.4.4. Phụ gia thay thế hàn the
Do những ảnh hưởng nghiêm trọng của hàn the tới sức khỏe người tiêu dùng,
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 27/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012, không cho phép
sử dụng hàn the làm phụ gia trong chế biến thực phẩm tại Việt Nam [2]; đồng thời
đã ban hành Quyết định 3390/2000/QĐ-BYT ban hành "Thường quy kỹ thuật định
tính và bán định lượng Natri Borat và Acid Boric trong thực phẩm" và Quyết định
343/2006/QĐ-BYT về việc cho phép lưu hành 12 bộ kit kiểm tra nhanh về
ATVSTP [4] làm cơ sở cho các cơ quan chức năng và các ban, ngành hữu quan
thực hiện giám sát, kiểm tra, thanh tra về ATVSTP. Để hạn chế việc sử dụng hàn
the, người ta có thể sử dụng những chất hóa học có tính chất giống hàn the để thay
thế với mục đích làm phụ gia thực phẩm. Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu
về phụ gia thay thế hàn the, đáng chú ý phải kể đến là nghiên cứu về phụ gia PDP
(chitofood) của Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Tú (Viện hóa học thuộc Viện khoa học và

13


công nghệ Việt Nam) năm 1998. Tác giả đã nghiên cứu chế tạo thành công phụ gia
PDP thay thế hàn the, PDP là một polyme sinh học có nguồn gốc từ thiên nhiên, đây
là chất phụ gia dạng bột, sử dụng từ vỏ tôm, cua, mai mực, có các tác dụng như hàn
the nhưng không độc, dùng an toàn cho người trong thực phẩm và dược phẩm. Do
PDP có đặc tính hoà tan trong nước, kháng nấm, nên có thể bảo quản thực phẩm khỏi
bị chua, thiu thối, tăng cường độ dai, giòn cho thực phẩm.
Qua khảo sát tại các cơ sở chế biến thực phẩm như Công ty Vissan, làng giò
chả Uy Nỗ (Đông Anh), làng bánh cuốn Thanh Trì, cơ sở chế biến nước ép quả
Đồng Nai… cho kết quả tốt, bảo đảm độ dai, giòn, bảo quản thực phẩm dài ngày
hơn cả hàn the. Cục An toàn Thực phẩm đã cho phép sản xuất và lưu hành PDP trên
toàn quốc theo hồ sơ công bố số 4377-2003/CBTCYT ngày 2/12/2003.
Năm 2009, Giáo sư Trần Đình Toại, Viện Hóa học thuộc Viện KH&CN Việt

theo đúng tiêu chuẩn vệ sinh của ngành Y tế.
Với tầm quan trọng của chất lượng VSATTP hiện nay, tuy nhiên trên thực tế
tình trạng thực phẩm bị ô nhiễm các hóa chất xuất hiện tràn lan, gây xôn xao dư
luận, trong thời gian gần đây, một số trang báo điện tử (nld.com.vn, tienphong.vn...)
phản ánh việc sản xuất giá đậu bằng hóa chất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; một số
nhà máy đang sử dụng hóa chất cấm với mục đích chống mốc, làm trắng, tạo hương
thơm cho gạo; ngoài ra vụ việc phát hiện trong các sản phẩm bún, bánh canh, bánh
phở có chứa chất huỳnh quang Tinopal, sản phẩm thức ăn công thức cho trẻ 1-3 tuổi
Similac GainPlus Eye-Q do công ty Fonterra - New Zealand sản xuất có thể bị
nhiễm vi khuẩn Clostridium botulinum, hiện nay trên thị trường tình trạng sử dụng
hàn the trong các sản phẩm giò, chả, nem, bún, bánh…cũng được phát hiện. Kết quả
nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thu Ngọc Diệp, tại TP. Hồ Chí Minh năm 2008
trong tổng số 437 mẫu thực phẩm có nguy cơ sử dụng hàn the được giám sát ta thấy:
nhóm thực phẩm sử dụng hàn the nhiều nhất là mì sợi tươi (98,27%), tỷ lệ sử dụng hàn
the trong thịt và sản phẩm của thịt, cá và sản phẩm của cá vẫn còn cao chiếm tỷ lệ gần
70% trong tổng số mẫu khảo sát [11].

15


Nghiên cứu của Bắc Ninh năm 2003 tại các mẫu giò, chả, nem chua thì 82,8%
các mẫu có sử dụng hàn the [17], tại Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2005 có 55,8% các mẫu
giò lụa sử dụng hàn the [16], tại Bắc Kạn theo nghiên cứu của Nguyễn Thái Hồng năm
2008, kết quả lấy mẫu giò, chả kiểm nghiệm hàn the lần 1 là 37% (thời gian vào tháng
5/2007), lần 2 là 20% (tháng 12/2007) [19].
Tại tỉnh Ninh Bình, năm 2002 tác giả Hoàng Lệ Thi đã tiến hành lấy mẫu tại
các cơ sở kinh doanh giò chả, kết quả điều tra thì tỉ lệ hàn the trong các sản phẩm giò,
chả, mọc cho thấy: 93,5% các sản phẩm giò nạc có hàn the; 90% sản phẩm mọc có hàn
the và 88,8% sản phẩm chả có hàn. Tất cả 3 sản phẩm thực phẩm giò, chả, mọc có hàn
the hàm lượng cao lớn hơn 1mg/100g sản phẩm [26]. Tuy nhiên nghiên cứu của tác giả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status