LUẬN VĂN THẠC SĨ
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
BẮC GIANG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các phân tích, số liệu, kết quả được nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Văn Đức đã tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện tốt luận văn này cũng như hoàn thiện kiến thức chuyên môn
của mình.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Sau đại học Trường
Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã truyền đạt cho tôi kiến thức quý báu trong
thời gian tôi học tập tại Học viện.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
Tổ chức tín dụng
Ngân hàng thương mại cổ phần
Tài sản đảm bảo
Nợ quá hạn
Khách hàng cá nhân
Phòng Giao Dịch
Quỹ tín dụng nhân dân
Phòng giao dịch
Cán bộ khách hàng
Cán bộ quản lý nợ
MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Kết cấu của luận văn: 3
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung được kết cấu theo 03 chương, gồm: 3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn......................................................................................2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.........................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................................2
5. Kết cấu của luận văn:.........................................................................................................3
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung được kết cấu theo 03 chương, gồm:....................3
Giang” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Một là, hệ thống hoá lý luận cơ bản về mở rộng cho vay KHCN và phát triển
cho vay KHCN của ngân hàng thương mại.
Hai là, phân tích thực trạng mở rộng cho vay KHCN của Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Giang trong thời gian qua và đánh giá
kết quả đạt được cũng như những tồn tại.
Ba là, đưa ra các giải pháp nhằm mở rộng cho vay KHCN tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Giang đến năm 2020.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng: Là hoạt động cho vay KHCN và mở rộng cho vay KHCN của Ngân
hàng thương mại.
Phạm vi nghiên cứu: Là hoạt động cho vay KHCN và mở rộng cho vay KHCN
tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Giang thời kỳ
2012-2014 và đề xuất giải pháp mở rộng cho vay KHCN tại Chi nhánh đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu:
- Thông tin số liệu thứ cấp: Các báo cáo kết quả tài chính của Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Giang từ năm 2012-2014.
- Thông tin số liệu sơ cấp: Ý kiến đánh giá của khách hàng về hoạt động mở
rộng cho vay KHCN của BIDV Bắc Giang.
Phương pháp phân tích số liệu:
Qua số liệu đã được tổng hợp, dựa vào phần mềm trên máy tính MS Excel hệ
thống thành biểu bảng, vẽ biểu đồ, ...
Dựa vào biểu bảng đã có, dựa vào các phương pháp phân tích để tìm ra kết quả,
cụ thể:
Cho vay là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin - người cho vay
tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó
có khả năng trả được nợ. Với ngân hàng, để có thể tin được vào khách hàng, ngân hàng
luôn thẩm định định giá khách hàng trước khi cho vay. Nếu khâu này thực hiện một
cách khách quan, chính xác thì việc cho vay của ngân hàng gặp ít rủi ro và ngược lại.
(1) Cho vay vốn
Chủ thể cho vay
Chủ thể đi vay
(Lender)
(Borrower)
Hoàn trả cả gốc lẫn lãi (2)
Cho vay là quan hệ bằng tiền giữa một bên là ngân hàng (bên cho vay) với một
bên là tất cả các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội ( bên đi vay) mà theo
đó, ngân hàng phải chuyển giao một lượng tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời
gian nhất định như thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và
lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Cho vay là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, là hoạt động
mang tính truyền thống đem lại nguồn thu lớn nhất nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro
nhất của ngân hàng. Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người
ngày càng được nâng cao thì sự tiêu dùng của mỗi cá nhân nói riêng và tiêu dùng của
toàn xã hội nói chung sẽ ngày càng được mở rộng cả về quy mô lẫn chất lượng. Các cá
nhân có nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của mình thông qua hoạt động chi
tiêu, sản xuất kinh doanh và nhiều hoạt động khác cần vốn. Và tất nhiên không phải
lúc nào các cá nhân cũng có đủ khả năng tài chính để chi trả cho các nhu cầu đó ngay
khỏe, công việc trong tương lai... Ngân hàng khi đó dễ gặp phải rủi ro đạo đức.
- Lãi suất cho vay khách hàng cá nhân: Thường cao hơn lãi suất các khoản cho
6
vay khác của NHTM do quy mô các khoản vay thường nhỏ dẫn đến chi phí để cho vay
(thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao.
- Nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân: Được trích từ thu nhập, thu nhập này có
thể thay đổi tùy theo tình trạng công việc, sức khỏe của người vay cũng như tình hình sản
xuất kinh doanh của họ. Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định, có trình
độ học vấn, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả là những tiêu chí quan trọng để
NHTM quyết định cho vay.
- Hạn mức cho vay khách hàng cá nhân: Là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách
hàng vay, hạn mức cho vay KHCN được xác định dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vốn
của khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị TSBĐ.
Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy định các hạn mức khác
nhau dựa trên giá trị TSBĐ hoặc nhu cầu vay hợp lý. Vay cầm cố sổ thẻ tiết kiệm,
chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá là một hình thức cấp hạn mức cho vay dựa trên giá
trị TSBĐ, khách hàng có thể được cấp một hạn mức tối đa bằng 100% giá trị tài sản
cầm cố. Để có thể xác định được hạn mức tín dụng dựa trên TSBĐ của khách hàng,
các ngân hàng cần phải định giá chính xác tài sản đó. Nếu định giá thấp sẽ làm giảm
số tiền vay của khách hàng, nếu định giá quá cao sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
Cuối cùng ngân hàng sẽ so sánh nhu cầu vay hợp lý (Nhu cầu vay hợp lý của khách
hàng = nhu cầu vốn hợp lý – vốn tự có của khách hàng – vốn huy động từ nguồn khác) và
hạn mức tín dụng, từ đó xác định số tiền cho vay. Nếu nhu cầu vay hợp lý > hạn mức tín
dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay theo hạn mức tín dụng, nếu nhu cầu vay hợp lý
KHCN như thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay KHCN, đạt mục tiêu
chung của ngân hàng luôn là vấn đề đáng được quan tâm.
1.1.3.2. Đối với nhà sản xuất
Cho vay KHCN cung cấp nguồn lực tài chính cho người tiêu dùng đủ khả năng
thanh toán ngay, cung cấp vốn cho nhà sản xuất khi họ cần vốn vào thời điểm căng
thẳng bằng cách mua lại những hoá đơn bán chịu từ nhà sản xuất, làm cho khối lượng
sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ được nhiều hơn. Những điều kiện này giúp cho nhà sản
xuất có thể đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như vậy,
cho vay KHCN trợ giúp nhà sản xuất kinh doanh có hiệu quả ở cả đầu ra và đầu vào vì
nó vừa cung cấp nguồn vốn thiếu hụt tạm thời cho nhà sản xuất vừa tạo điều kiện để
8
nâng cao doanh số tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3.3. Đối với Ngân hàng thương mại
Mặc dù có 2 nhược điểm chính là rủi ro và chi phí cao, thế nhưng cho vay KHCN
lại thể hiện những vai trò và lợi ích cực kỳ quan trọng:
- Cho vay KHCN tạo khả năng mang lại thu nhập cao cho ngân hàng vì các
khoản cho vay này thường được định giá khá cao để bù đắp đủ các loại chi phí, rủi ro
và đảm bảo một khoản lợi nhuận nhất định theo quy định.
- Hoạt động chính của ngân hàng là cung cấp vốn cho nền kinh tế, mở rộng các
loại hình cho vay vừa để sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động được, vừa giảm rủi ro
khi quá tập trung vào một lĩnh vực cho vay nhất định. Trong khi đó một đặc điểm của
cho vay KHCN đó là quy mô của các món vay nhỏ và số lượng các khoản vay lớn,
chính vì vậy phát triển loại hình cho vay này sẽ góp phần tích cực vào việc phân tán
rủi ro cho ngân hàng.
- Cho vay KHCN giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm
tăng khả năng huy động các loại tiền gửi từ dân cư cho ngân hàng. Đối tượng khách
hàng trong tín dụng KHCN là rất lớn và rất tiềm năng, từ các cá nhân cho tới hộ gia
đình nên khi cho vay KHCN được mở rộng, phát triển, ngân hàng càng có điều kiện
Kinh tế tăng trưởng cũng giúp giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động, từ đó
cũng hạn chế một phần các tệ nạn xã hội xảy ra khi người lao động không có việc làm.
Tóm lại, cho vay KHCN tác động trực tiếp cũng như gián tiếp tới đời sống kinh
tế, xã hội của một quốc gia, một khu vực và của cả thế giới.
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, doanh nghiệp đang phải chịu áp lực
từ nhiều mặt như lãi suất, người lao động, Chính phủ, xã hội, đồng thời cũng gặp rất
nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn. Trong khi đó, ngân hàng là
kênh dễ bơm vốn vào nền kinh tế nhất. Và một trong những phương thức hữu hiệu đó
là đẩy mạnh cho vay khách hàng cá nhân và hộ gia đình nhằm tăng nhu cầu tiêu dùng
của người dân cũng là giải phóng đầu ra cho doanh nghiệp.
Cho vay KHCN trong thời điểm này là hình thức vay vốn cũng như cho vay hữu
hiệu đối với cả người dân lẫn ngân hàng bởi những ưu điểm của nó.
Thứ nhất, cơ chế lãi suất cho vay KHCN là lãi suất thỏa thuận, do đó tạo ra được
tính linh hoạt trong việc cho vay, việc mở rộng cho vay cũng dễ dàng hơn.
Thứ hai, một giải pháp trong gói giải pháp kiềm chế lạm phát của nhà nước ta là
kích cầu, kích thích tiêu dùng, từ đó cũng khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản
xuất. Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra nghị định 113/TT-TTg ngày 23/01/2009 về việc:
“Hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh”
10
nhằm thực hiện hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp, cung cấp một phần vốn cho
doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc hỗ trợ lãi suất cũng chỉ có thể trong
một thời hạn nhất định, do đó phải tìm cách mở rộng đầu ra cho doanh nghiệp mới là
giải pháp lâu dài. Phát triển cho vay KHCN để kích thích tiêu dùng chính là giải pháp
hữu hiệu nhất.
Thứ ba, nhu cầu tiêu dùng của người dân rất đa dạng, mà theo đánh giá hiện nay
nhu cầu tiêu dùng nông thôn là rất lớn nên các ngân hàng cũng đang hướng vào việc
cho vay KHCN nông thôn. Ngoài ra, cũng phải đánh giá cao tính hiệu quả của các
khoản cho vay KHCN đó là việc giải quyết được mâu thuẫn giữa huy động vốn lớn và
hình thức tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu
vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số khách
hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu
vay thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân
hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Cho vay theo hạn mức: Đây là phương thức cho vay theo đó ngân hàng thỏa
thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ
hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Đây là hình thức cho vay thuận tiện
cho những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào
quá trình sản xuất kinh doanh.
- Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua
hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Cho vay luân chuyển thường áp dụng
với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ
ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
- Cho vay trả góp: Là phương thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Ngân hàng thường
cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định. Đây là loại hình
cho vay có rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp, vì
vậy nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho
vay của ngân hàng.
- Cho vay theo thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng ngân hàng cũng như các loại thẻ thanh
toán khác đã nhanh chóng được chấp nhận sử dụng, thẻ tín dụng cung cấp một dòng
tín dụng thường xuyên và quay vòng mà khách hàng có thể sử dụng bất cứ khi nào họ
có nhu cầu. Những người sử dụng thẻ tín dụng có thể vay trả dần hoặc trả một lần vì
họ có thể tính tiền mua hàng vào tài khoản thẻ tín dụng của mình. Trong tương lai thẻ
12
tín dụng sẽ rất phát triển bởi công nghệ tiên tiến sẽ giúp cho những người sở hữu thẻ
13
vẫn cần sử dụng như ô tô, xe máy... Việc thế chấp bằng tài sản cho phép người nhận
tài trợ tiếp tục được sử dụng tài sản trong thời gian này. Tuy nhiên, quá trình sử dụng
có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát TSBĐ của ngân hàng bị hạn
chế. Việc định giá TSBĐ cũng là một khó khăn đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ lưỡng
tránh định giá quá cao gây rủi ro cho ngân hàng hoặc định giá quá thấp ảnh hưởng đến
khả năng vay của khách hàng.
+ Loại 2: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có TSBĐ hoặc tài sản đó
không đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách
hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm vật
đảm bảo. Nếu khách hàng không có khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ xử lý tài sản đó để
thu hồi nợ. Để đảm bảo khách hàng không bán tài sản hoặc sử dụng tài sản không cẩn
thận làm giảm giá trị của tài sản, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải cam kết
bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng là ngân hàng, đồng thời chuyển
toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng.
- Cho vay không có tài sản bảo đảm: Là cho vay dựa trên uy tín (tín chấp) hoặc
bảo lãnh của bên thứ ba, không có TSBĐ. Ngân hàng lựa chọn khách hàng uy tín và
khả năng trả nợ tốt để cho vay. Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để đáp ứng nhu
cầu của khách hàng trên cơ sở tín chấp lương, chủ yếu được áp dụng với khách hàng
có thu nhập ổn định, thu nhập ngoài việc trang trải các chi phí thường xuyên còn có
một phần tích lũy để trả nợ vay (công chức, viên chức trong biên chế nhà nước, nhân
viên có hợp đồng lao động dài hạn,...), ngoài ra thu nhập hình thành từ sản xuất kinh
doanh cũng có thể được xem xét dùng làm nguồn tài trợ. Hình thức này phù hợp với
những khoản vay giá trị không lớn, thời hạn vay ngắn.
Căn cứ thời hạn khoản vay
- Vay ngắn hạn: Các khoản cho vay ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn từ
12 tháng trở xuống, chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động hoặc các nhu
1.2.1. Khái niệm về mở rộng cho vay khách hàng cá nhân:
Mở rộng cho vay KHCN là tổng hợp các chính sách và biện pháp của NHTM
nhằm gia tăng quy mô, nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng cá nhân đảm
bảo cho NHTM phát triển hiệu quả và an toàn.
Tăng quy mô cho vay KHCN được hiểu là tăng dư nợ cho vay đối với KHCN.
Với mục tiêu gia tăng thu nhập cho ngân hàng, việc tăng dư nợ cho vay KHCN phải
đảm bảo thu nhập từ hoạt động cho vay cũng gia tăng. Chính vì vậy, các NHTM luôn
cố gắng áp dụng các biện pháp thúc đẩy tăng trưởng dư nợ cho vay KHCN thông qua
15
việc nghiên cứu, triển khai các sản phẩm cho vay mới, nâng cao chất lượng dịch vụ,
đẩy nhanh tốc độ xử lý các hồ sơ vay vốn, tăng cường công tác marketing... nhằm đáp
ứng đa dạng các nhu cầu vay vốn của khách hàng, thu hút thêm khách hàng.
Nâng cao chất lượng cho vay có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ riêng với hoạt
động cho vay KHCN mà còn đối với hoạt động chung của NHTM. Các khoản vay có
chất lượng tốt khi vốn vay được khách hàng sử dụng hiệu quả, đúng mục đích tạo ra số
tiền lớn, thông qua đó ngân hàng thu hồi được vốn và lãi. Nếu các khoản vay có chất
lượng không tốt sẽ đe dọa khả năng thu hồi gốc và lãi, NHTM không thu được lãi thì
sẽ ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động cho vay đồng thời NHTM cũng phải mất
thêm nhiều chi phí như chi phí trích lập dự phòng rủi ro, chi phí thu hồi nợ khác...
Chính vì vậy, khi mở rộng cho vay KHCN, các NHTM thường quan tâm đến việc
kiểm soát hoạt động cho vay, củng cố bộ máy, trình độ quản lý và công nghệ để đảm
bảo nâng cao chất lượng cho vay.
Khách hàng là những người được hưởng trực tiếp và nhiều nhất những lợi ích từ sản
phẩm cho vay KHCN. Nhờ có những khoản vay này mà họ được hưởng những tiện ích cả
về vật chất và tinh thần trước khi tích lũy đủ tiền hoặc tiến hành sản xuất thuận lợi. Cho
vay KHCN đặc biệt quan trọng và cần thiết trong trường hợp cá nhân, hộ gia đình có các
khoản chi tiêu đột xuất, cấp bách hoặc có nhu cầu đảm bảo cho việc phát triển sản xuất hộ
gia đình. Mở rộng cho vay KHCN đồng nghĩa với việc đem đến cho người dân những lợi
dự kiến đẩy mạnh phát triển mở rộng cho vay KHCN.
- Môi trường pháp lý
Các hoạt động của các cá nhân, tổ chức đều chịu sự chi phối của Pháp luật ở
quốc gia nơi diễn ra hoạt động đó. Đây là nhân tố có tác động sâu sắc đến cho vay
KHCN của các ngân hàng. Lĩnh vực tài chính ngân hàng là lĩnh vực được các quốc gia
đặc biệt quan tâm và thực hiện quản lý chặt chẽ vì tính chất quan trọng cũng như tác
động rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế xã hội khi xem
xét cấp tín dụng.
- Khách hàng
Trong quá trình mở rộng cho vay KHCN cần đặc biệt quan tâm đến tư cách pháp
lý, mục đích vay, năng lực tài chính, tư cách đạo đức, tài sản bảo đảm của khách hàng.
Trước hết khách hàng cần phải đảm bảo có đủ tư cách pháp lý để tham gia một
giao dịch dân sự nào trong đó có giao dịch tín dụng. Việc xác định mục đích sử dụng
vốn của khách hàng rất quan trọng vì đó là cơ sở để làm rõ khoản tín dụng của khách
hàng có hợp pháp hay không. Nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích ngân
hàng có quyền yêu cầu khách hàng hoàn trả lại số tiền vay đã sử dụng hoặc áp dụng
17
những biện pháp cần thiết khác để thu hồi vốn vay trước hạn. Đồng thời khách hàng
không được sử dụng vốn vào những hoạt động mà pháp luật không cho phép.
Năng lực tài chính của khách hàng là chỉ tiêu cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng của khoản tín dụng. Phần lớn nguồn thu nhập để khách hàng hoàn thành
các nghĩa vụ tài chính với ngân hàng là từ tương lai, nếu nguồn thu nhập của khách
hàng là đủ lớn, ổn định và ít rủi ro sẽ đảm bảo cho khách hàng có thể thực hiện nghĩa
vụ đối với ngân hàng khi đến hạn. Vì vậy, thông qua đó có thể đánh giá khoản tín
dụng là an toàn hơn.
Khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, có nhu cầu rất đa dạng, phong phú, từ
các nhu cầu tiêu dùng và sản xuất. Trong nhóm nhân tố khách quan này, trước hết phải
kể đến tư cách đạo đức của khách hàng, nhân tố đạo đức được đánh giá dựa trên năng
Bên cạnh đó, những chính sách như hỗ trợ lãi suất, miễn thuế, gia hạn thời gian
nộp thuế, cho vay với lãi suất ưu đãi đối với hộ nghèo, cho vay hỗ trợ phát triển nông
nghiệp nông thôn, các chương trình an sinh xã hội góp phần giảm sự mất cân đối giữa
khu vực thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế. Những chính sách này cũng
góp phần tích cực thúc đẩy mở rộng cho vay KHCN phát triển.
1.2.2.2 Các nhân tố bên trong
Đây là nhóm nhân tố của chính ngân hàng. Đó là những nhân tố mà ngân hàng có
thể tác động chi phối, điều chỉnh được. Nếu ngân hàng xây dựng tầm nhìn hiệu quả,
xây dựng chiến lược phát triển tổng thể, lâu dài sẽ hỗ trợ tích cực cho việc mở rộng
cho vay KHCN. Khi cho vay KHCN phát triển sẽ tác động tích cực ngược trở lại đối
với sự phát triển bền vững của ngân hàng như tăng lợi nhuận, phân tán rủi ro, mở rộng
thị phần… góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân
Chất lượng cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân thể hiện qua trình độ nghiệp vụ
chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, cũng như khả năng giao tiếp của cán bộ. Nếu cán
bộ quan hệ khách hàng cá nhân có trình độ chuyên môn giỏi mà không có đạo đức
nghề nghiệp thì lợi ích của ngân hàng sẽ bị tổn hại nhiều hơn lợi ích mà họ mang lại.
Nhưng bên cạnh đó, cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân nhất thiết cần phải có trình độ
chuyên môn cao, hiểu biết sâu, rộng, có như vậy thì việc thẩm định khách hàng mới
chính xác, từ đó đưa ra quyết định mới đúng đắn, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Do
khách hàng là người tiếp xúc trực tiếp với cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân nên theo
họ thì cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân chính là hình ảnh của ngân hàng. Sự thân
thiện, cởi mở đúng mức sẽ tạo cho khách hàng sự hài lòng và tin tưởng hơn vào ngân
hàng, từ đó mà khách hàng sẽ sử dụng nhiều hơn dịch vụ của ngân hàng, trở thành
19
khách hàng thân thiết của ngân hàng.
- Nguồn vốn của ngân hàng
Vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá năng lực hoạt