LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp đề tài “ Nâng cao chất lượng tín dụng
tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phú Xuyên “ là do nghiên cứu của riêng em.
Các số liệu tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ rang, có nguồn gốc trung thực
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình thực tập, em đã hoàn thành được đề tài thực tập cuối khoá này.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS_Hà Thị Sáu, sự giúp
đỡ và động viên của quí thầy cô.
Nhân đây, em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Ban Giám
Đốc, toàn thể cán bộ - công nhân viên trong chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội
huyện Phú Xuyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cơ hội cho em được tiếp xúc với
thực tiễn hoạt động của Ngân hàng nhằm nâng cao sự hiểu biết và tích luỹ kinh
nghiệm cho bản thân.
Do thời gian nghiên cứu tương đối ngắn và kiến thức còn hạn chế, nên đề tài
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quí thầy
cô, các anh chị trong Ngân hàng và các bạn sinh viên để có thể rút kinh nghiệm cho
bản thân và hoàn thiện đề tài này.
Em xin chân thanh cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hồng Nhật
Lớp K15 _ NHN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHCSXH
NĐ-CP
QĐ-HĐQT
PGD
Uỷ ban nhân dân
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
1
Tên biểu đồ
Biểu 1: Dư nợ phân theo thời hạn cho vay giai đoạn 2013-2015
Trang
25
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
1
2
Tên biểu đồ
Bảng 1: Tình hình huy động vốn theo nguồn cấp trong 3 năm gần
đây.
Bảng 2.1: Tổng dư nợ cho vay giai đoạn 2013 - 2015
Trang
21
24
3
4
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu sản xuất không đủ tiêu dùng, sau 20 năm đổi
mới Việt Nam đã từng bước vươn lên bước đầu khẳng định uy tín, chinh phục được
khách hàng chiếm lĩnh thị trường lớn ổn định góp phần nâng cao vị thế của mình trên
chính trường quốc tế. Hiện nay cơ chế mở cửa, các thành phần kinh tế hoạt động một
cách bình đẳng theo hiến pháp và pháp luật. Nhiều loại hình doanh nghiệp ra đời và
pháp triển mạnh mẽ. Cùng với nó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong
nước cũng như nước ngoài đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới công nghệ,
trang thiết bị và mở rộng sản xuất do đó cần thiết phải có một lượng vốn lớn mà các
Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho các doanh nghiệp các thành phần kinh tế một cách
có hiệu quả .
Trong nền kinh tế thị trường với hệ thống ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà
nước thực hiện quản lý Nhà nước và cấp kinh doanh là các Ngân hàng thương mại.
Cùng với việc triển khai pháp lệnh ngân hàng ở nước ta trong thời gian qua đã tạo ra
những chuyển biến rõ nét cả về tổ chức, hoạt động và trình độ nghiệp vụ của hệ thống
Ngân hàng góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền...Các tổ chức tín
dụng hình thành mạng lưới trên hầu khắp các địa bàn cả nước. Nghiệp vụ Ngân hàng
cũng được đổi mới và từng bước hiện đại hoá, tiếp cận với công nghệ và thông lệ
quốc tế. Với hoạt động tín dụng và các dịch vụ đa dạng Ngân hàng đã đáp ứng được
phần lớn nhu cầu của khách hàng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế
đất nước .Ngày nay, Ngân hàng đã trở thành một mắt xích quan trọng cấu thành nên sự
vận động nhịp nhàng của nền kinh tế. Cùng với các ngành kinh tế khác Ngân hàng có
nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo môi
trường đầu tư thuận lợi, tạo công ăn việc làm cho người lao động, phát triển thị trường
ngoại hối.
Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế đang trong thời kỳ mới chuyển đổi sang
lượng tín dụng cho ngân hàng trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Chuyên đề sử dụng: - Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp so sánh để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
5. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng
biểu, kết cấu Chuyên đề bao gồm 3 chương.
Chương 1: Tổng quan về tín dụng chính sách và chất lượng tín dụng.
Chương 2: Thực trạng tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phú
Xuyên.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng Chính sách Xã
hội huyện Phú Xuyên.
9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH
VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG
1.1.1. Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ mà một bên là ngân hàng một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các tổ chức,
cá nhân trong xã hội trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người
cho vay.
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp ứng nhu
cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt, đầy đủ và kịp thời, các ngân hàng với
chức năng cơ bản là trung gian tài chính hoạt động như một chiếc cầu nối liền giữa khả
năng cung ứng và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội đã cơ bản giải quyết được những
trạng đói, nghèo. Vì đây là một loại tín dụng mang tính chính sách nên Nhà nước có
chính sách ưu đãi đối với người vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho
vay, điều kiện, thủ tục vay vốn...
Vì vậy, tại Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ
đã khẳng định: Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc
sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối
tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện
đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn
định xã hội.
Từ khái niệm trên có thể thấy tín dụng chính sách xã hội có những đặc trưng cơ
bản sau:
Một là, đây là kênh tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận: Mục tiêu của tín dụng chính
sách là không vì mục tiêu lợi nhuận mà là nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc
làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu XĐGN, ổn định
kinh tế - chính trị và bảo đảm an sinh xã hội.
Hai là, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách xã hội là người nghèo và các đối tượng
chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ.
Ba là, nguồn vốn để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là
nguồn vốn của Nhà nước, tức là nguồn vốn từ Ngân sách và có nguồn gốc từ Ngân
sách.
Bốn là, người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn được ưu đãi về lãi
suất cho vay, điều kiện vay vốn (không phải thế chấp tài sản), thủ tục cho vay và cách
tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội.
1.1.3. Các hình thức tín dụng ngân hàng
1.1.3.1. Căn cứ vào mục đích sử dụng có các hình thức tín dụng sau:
+ Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.
11
hình thức.
+ Chiết khấu thương mại:
Mua các khoản nợ của các doanh nghiệp : Là dịch vụ mua các yêu cầu (giấy đòi nợ)
của các công ty sau đó nhận tiền thanh toán về các yêu cầu này. Các yêu cầu ở đây
thường là các giấy đòi nợ ngắn hạn phát sinh do cung cấp hàng hoá.
12
1.1.3.5. Căn cứ vào thời hạn cho vay có các hình thức tín dụng sau:
+ Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (1 năm) .
Được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân...
+ Tín dụng trung hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60
tháng. Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải
tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng mới những
công trình thu nhỏ, thời hạn thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn từ 60 tháng trở lên. Mục
đích sử dụng là để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định, đổi mới công nghệ và
xây dựng mới đối với những công trình mới...thời hạn thu hồi vốn lâu.
1.1.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng và tín dụng chính sách
1.1.4.1. Vai trò tín dụng ngân hàng
a. Vai trò đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng là một yếu tố quan trọng góp
phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Vai trò của nó được thể hiện qua
các khía cạnh sau:
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng góp phần làm gia tăng hiệu quả và tốc độ chu
chuyển vốn trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhóm tổ chức cá nhân: Nhóm thứ nhất bao
gồm những người có lượng vốn nhàn rỗi và không được sử dụng; Nhóm thứ hai bao
gồm những người có cơ hội đầu tư sinh lời nhưng thiếu hụt về vốn. Thông qua hoạt
nhuận từ hoạt động tín dụng được xem là nguồn thu quan trọng bậc nhất của các
NHTM.
Ngoài ra, thông qua hoạt động tín dụng NHTM mở rộng được các loại hình
dịch vụ khác như thanh toán, tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn… Từ đó, đa dạng
hóa hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận.
c. Vai trò đối với khách hàng
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho việc chi tiêu và đầu
tư mua sắm tài sản của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu về vốn
nhằm tài trợ cho các tài sản cố định và tài sản lưu động. Các doanh nghiệp có thể tài
trợ vốn từ các nguồn như: Vốn chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại, phát hành giấy tờ có giá,
vay vốn ngân hàng… Tuy nhiên khi hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng, nhu
cầu về vốn của doanh nghiệp là rất lớn, do vậy vốn chủ sở hữu và lợi nhuận nhuận giữ
không đủ để đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, trong khi đó không phải doanh
nghiệp nào cũng có đủ uy tín để phát hành giấy tờ có giá , do đó tín dụng ngân hàng là
một nguồn quan trọng đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp và từ đó giúp
tăng ngân sách nhà nước từ thuế, giúp tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho cả xã hội
Đối với khách hàng cá nhân, thông qua tín dụng ngân hàng, các cá nhân có thể
đáp ứng nhuc ầu đầu tư và chi tiêu của mình như mua nhà, mua ô tô, đầu tư bất động
sản…
14
Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiêu quả sử dụng vốn cho
doanh nghiệp.
So với việc sử dụng vốn chủ sở hữu thì tín dụng ngân hàng buộc trách nhiệm
khách hàng phải hoàn trả vốn và lãi trong thời hạn nhất định như đã thỏa thuận. Do đó
buộc khách hàng phải nỗ lực, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay hiệu
quả nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Bên cạnh đó, khi khách hàng đệ
trình phương án kinh doanh hay dự án để xin vay, ngân hàng sẽ thực hiện thẩm định để
Trong quá trình hoạt động, tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất và mang lại
phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng, tuy nhiên tín dụng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều
rủi ro nhất đối với ngân hàng. Do đó, chất lượng tín dụng cũng là vấn đề được các
ngân hàng quan tâm hàng đầu. Các ngân hàng luôn tìm cách nâng cao chất lượng tín
dụng nhằm nâng cao lợi nhuận và giảm thiểu những rủi ro không mong muốn.
Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện qua khối lượng tín dụng mà
ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Khối lượng tín dụng của ngân hàng phải đáp ứng
các yêu cầu của khách hàng về: kỳ hạn, lãi suất, phương thức thanh toán, thủ tục đơn
giản thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng và tuân thủ pháp luật.
Đối với ngân hàng: Các hình thức tín dụng không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu của
khách hàng mà còn phải phù hợp với phạm vi và năng lực tín dụng của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng phải đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường và nguyên tắc
hoàn trả đúng hạn, có lãi. Rủi ro tín dụng phải trong giới hạn cho phép và được kiểm
soát.
Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng thể hiện ở vai trò của tín dụng đối với
lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa, qua đó góp phần giải quyết công ăn việc làm,
khai thác tiềm năng kinh tế, thúc đẩy sự tích tụ và tập trung sản xuất cũng như giải
quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và phát triển kinh tế.
Như vậy: Chất lượng tín dụng ngân hàng là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh
mức độ đáp ứng yêu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng; phù hợp với chính sách tín
dụng, bảo đảm an toàn và mang lại hiệu quả cho ngân hàng, đồng thời góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội như một tổng thể.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng chính sách xã hội
1.2.2.1. Các chỉ tiêu định tính
a, Công tác quản lý tín dụng của ngân hàng
Thứ nhất, thay đổi trong chính sách tín dụng đặc biệt là chính sách quản lý
khách hàng, phương thức quản lý khách hàng không thống nhất về ngành hàng, quy
mô, địa giới và mức độ xếp hạng tín nhiệm. Sự bất hợp lý trong quản lý khách hàng là
dấu hiệu làm phát sinh các rủi ro tín dụng, từ đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín
dụng của ngân hàng.
- Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Thông tư số 161/2010/TT-BTC ngày 20/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
về Hướng dẫn thực hiện qui chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 27/01/2011 của Chủ tịch Hội đồng quản trị
Ngân hàng Chính sách xã hội ban hành Quy định xử lý nợ rủi ro trong hệ thống Ngân
hàng Chính sách xã hội.
- Quyết định số 180/2002/QĐ-TTG ngày 19 tháng 12 năm 2002 của Thủ tướng
Chính phủ
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
a, Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ
17
Tổng dư nợ là chỉ tiêu phản ánh tổng khối lượng tiền mà ngân hàng cấp cho nền
kinh tế tại một thời nhất định. Tổng dư nợ chính là một khoản mục tài sản của ngân
hàng, tổng dư nợ càng lớn thì tài sản tín dụng của ngân hàng càng lớn. Tổng dư nợ
không chỉ phản ánh tình hình tài chính của ngân hàng mà còn phản ánh uy tín của
ngân hàng. Đối với những ngân hàng uy tín, có chiến lược marketing phù hợp thì sẽ
không ngừng mở rộng dư nợ tín dụng. Đối với những ngân hàng hoạt động kém hiệu
quả, không có khả năng tiếp thị khách hàng thì sẽ gặp khó khăn trong việc mở rộng dư
nợ tín dụng.
Thông qua tổng dư nợ có thể thấy được thị phần của các ngân hàng , qua đó
thấy được khả năng cạnh tranh của các ngân hàng. Tuy nhiên tổng dư nợ không phải
chỉ tiêu hoàn hảo để đánh giá chất lượng tín dụng bởi vì các yếu tố rủi ro trong khoản
vay vẫn chưa được phản ánh trong chỉ tiêu này. Như trong trường hợp ngân hàng đáp
ứng mọi nhu cầu vay của khách hàng mà không xem xét, phân tích kỹ lưỡng, không
đảm bảo được chất lượng khoản vay, thì lúc đó tuy rằng quy mô tín dụng tăng nhưng
dễ dẫn đến rủi ro mất vốn, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Song nếu tổng dư nợ
tăng liên tục qua các năm thì lại cho thấy chiều hướng tăng lên của chất lượng tín
thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.
c, Chỉ tiêu phản ánh nợ xấu ( nợ bị rủi ro ).
Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
Nhóm 2: Nợ cần chú ý
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5.
Nợ xấu là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi
người đi vay không thực hiện thanh toán các khoản nợ đúng hạn cho ngân hàng căn cứ
theo hợp đồng tín dụng.
Tỷ lệ nợ xấu phản ánh năng lực quản lý, năng lực thẩm định tín dụng của ngân
hàng. Nếu tỷ lệ này càng lớn thì rủi ro mất vốn của ngân hàng càng cao, lợi nhuận của
ngân hàng giảm. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng thấp.
d, Chỉ tiêu về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro
=
tín dụng
DPRR tín dụng trích lập
x
Dư nợ bình quân
100%
Do các khoản vay có thể bị giảm nên việc trích lập dự phòng là cần thiết. Trích
lập dự phòng rủi ro tín dụng là biện pháp ngân hàng sử dụng để ghi nhận tổn thất cho
khoản vay đã cấp cho khách hàng.
Lãi tồn đọng gồm lãi phát sinh của nợ quá hạn và lãi tồn của nợ trong hạn.
Chỉ tiêu lãi tồn đọng cũng là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình
tài chính của NHCSXH. Đây là một chỉ số quan trọng để đo lường chất lượng
tín dụng của NHCSXH. Chỉ số này thấp sẽ cho thấy chất lượng tín dụng tốt và
ngược lại. Lãi tồn đọng là do người vay không thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo
đúng hạn (hàng tháng) cho NHCSXH.
f, Chỉ tiêu về hệ số sử dụng vốn
Hệ số sử dụng vốn
=
Tổng dư nợ bình quân
Tổng nguồn vốn bình quân
x
100%
Đây là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh chất lượng tín dụng, cho phép đánh giá tính
hiệu quả trong hoạt động tín dụng của NHCSXH. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng chứng
tỏ ngân hàng đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Để tính chính xác hệ số sử dụng vốn thì
phải sử dụng phương pháp tính bình quân gia quyền. Song để đơn giản trong tính toán
thì sử dụng phương pháp tính bình quân số học
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.3.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:
1.3.1.1. Môi trường chính trị - pháp luật
Mỗi quốc gia đều tồn tại một thể chế chính trị nhất định , sự ổn định của chính
trị sẽ có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và chất
lượng tín dụng nói riêng. Tại một nước có nền chính trị ổn định, các doanh nghiệp sẽ
mạnh dạn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, trong xã hội có nền
đảm bảo hoạt động cho vay. Thêm vào đó, khi lãi suất huy động tăng cao, các NHTM
sẽ phải cho vay với lãi suất cao hơn nhằm bù đắp chi phí tín dụng. Nhưng nếu mức lãi
suất cho vay lớn hơn mức lợi nhuận của các doanh nghiệp sẽ có thể gây ra rủi ro tín
dụng cho ngân hàng, do khi đó doanh nghiệp sẽ không có khả năng trả nợ.
Thêm một yếu tố nữa là lạm phát, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao sẽ dẫn đến sự gia
tăng của các chi phí đầu vào đối với doanh nghiệp, từ đó làm tăng giá thành sản phẩm
và làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đối với các dự án đầu tư dài hạn,
lạm phát cao sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh của vốn đầu tư vượt quá dự toán ban đầu
khi tiến hành vay vốn. Do vậy, tỷ lệ lạm phát cao sẽ tác động rất lớn tới các doanh
nghiệp vay vốn và từ đó làm giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
1.3.1.3. Môi trường khoa học – công nghệ
Hoạt động ngân hàng không thể tách rời sự phát triển của công nghệ thông tin.
Phương thức trao đổi giữa khách hàng va ngân hàng rất nhạy cảm với các tiến bộ về
công nghệ. Nhờ công nghệ thông tin mà nhiều sản phẩm dịch vụ mới, hiện đại được ra
21
đời, ranh giới giữa thị trường nội địa và quốc tế bị xóa nhòa bởi mạng thông tin toàn
cầu internet. Thái độ của khách hàng còn tùy thuộc vào công nghệ mà ngân hàng đang
sử dụng cũng như mức độ thỏa mnx nhu cầu mong muốn của khách hàng.
Với công nghệ hiện đại như ngày nay cho phép các ngân hàng tiến hành quy
trình giao dịch một cửa, rút ngắn thời gian giao dịch, chuyển tiền và nhận tiền vô cùng
thuận tiện, tính bảo mật cao, hiện đại hóa và đơn giản hóa quy trình thủ tục cho vay…
từ đó thu hút khách hàng đến giao dịch với ngân hàng.
1.3.1.4. Môi trường văn hóa xã hội
Môi trường văn hóa – xã hội tạo nên tập quán, thói quen, tâm lý… của khách
hàng. Đạo đức xã hội có liên quan đến rủi ro tín dụng trong trường hợp lợi dụng lòng
tin để lừa đảo, hoặc do điều kiện sống còn khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, sự kém
hiểu biết dẫn đến chưa hiểu đúng bản chất hoạt động của ngân hàng nói chung cũng
như hoạt động tín dụng nói riêng. Sự làm ăn kém hiệu quả, nhiều khi không phát huy
giải ngân đến khi thu hồi được hết nợ.
Việc nắm bắt quy trình cho vay và phối hợp chặt chẽ các bước của quy trình
cho vay là căn cứ để ngân hàng kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và điều chỉnh chính
sách tín dụng đối với khách hàng cho phù hợp với thực tế thông qua đó thực hiện kiểm
soát và hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh.
c, Hệ thống thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng đống vai trò là yếu tố không thể thiếu và rất quan trọng
trong quản lý tín dụng của ngân hàng. Thông tin tín dụng có thể được thu thập từ
khách hàng, từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, từ trung tâm thông tin tín
dụng (CIC). Đây là cơ sở để cán bộ tín dụng thực hiện phân tích tình hình tài chính, uy
tín, tính khả thi của phương án, dự án mà doanh nghiệp xin vay vốn để đưa ra lựa chọn
tín dụng tốt nhất. Đồng thời coa biện pháp theo dõi, xử lý nợ sao cho có hiệu quả nhất.
d, Công tác tổ chức và chất lượng đội ngũ cán bộ
Công tác tổ chức là việc thiết lập và cụ thể hóa các vị trí, các mối quan hệ giữa
các phòng ban bộ phận trong ngân hàng một cách khoa học hợp lý, đảm bảo sự phối
hợp nhịp nhàng, linh hoạt là điều kiện thuận lợi để ngân hàng thỏa mãn tốt nhất các
yêu cầu của khách hàng . Đồng thời theo dõi và quản lý sát sao các khoản vốn huy
động và cho vay, góp phần nâng cao cho vay của ngân hàng.
Chất lượng đội ngũ cán bộ là một nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng
hoạt động tín dụng. Sự thành công của hoạt động tín dụng phụ thuộc vào rất nhiều
năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ tín dụng. Đội ngũ cán
bộ tín dụng ngân hàng phải được trang bị kiến thức cần thiết về kinh tế, tài chính pháp
luật để thực hiện tốt việc phân tích hồ sơ vay vốn của khách hàng, qua đó giảm thiểu
những rủi ro tín dụng.
e, Hệ thống kiểm soát nội bộ
Ban kiểm soát nội bộ là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu tổ chức của
NHTM. Kiểm soát nội bộ là việc theo dõi và giám sát các hoạt động nghiệp vụ mà
NHTM đang cung cấp để có những thông tin thường xuyên về tình hình tín dụng, qua
đó phát hiện các vi phạm pháp luật, quy chế, thể lệ, chính sách, nguyên tắc cho vay để
từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời. Chất lượng tín dụng cũng thông qua đó phụ
bắt buộc họ phải cho vay ra với lãi suất cao tương ứng, khi đó dễ gặp phải những món
vay có độ rủi ro cao.
1.3.2.2. Nhân tố về phía khách hàng
Các ngân hàng luôn tìm cách giảm đến mức tối thiểu các rủi ro tín dụng, tuy
nhiên tổn thất vẫn xảy ra do gặp phải từ phía khách hàng mà ngân hàng không thể tính
toán hết được. Các yếu tố về phía khách hàng có thể kể tới như
a, Năng lực tài chính của khách hàng
Năng lực tài chính của khách hàng đóng vai trò quan trọng khi đánh giá để cho
vay. Môt dự án luôn được tài trợ bằng cả vốn vay và vốn chủ sở hữu, đối với ngân
hàng thì một dự án được tài trợ bằng tỷ lệ vốn chủ cao sẽ gặp phải ít rủi ro hơn trong
24
trường hợp nếu việc triển khai dự án gặp nhiếu khó khăn và chủ đầu tư phải sử dụng
vốn chủ sở hữu để trả nợ ngân hàng. Nếu khách hàng có năng lực tài chính tốt thì khả
năng hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng là rất cao.
b, Đạo đức uy tín của khách hàng và lịch sử quan hệ với ngân hàng
Đây là yếu tố vô ùng quan trọng. Quan hệ giao dịch giữa ngân hàng và khách
hàng dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau. Nếu khách hàng có đạo đức, uy tín tốt, luôn có ý
thức trả nợ thì rủi ro mà ngân hàng gặp phải nhỏ và ngược lại. Mối quan hệ giữa khách
hàng và ngân hàng rất quan trọng, một khi ngân hàng và khách hàng đã có mối quan
hệ lâu dài và tốt đẹp thì ngân hàng có thể tin tưởng khách hàng và nắm được khả năng
trả nợ của khách hàng.
c, Trình độ tổ chức, quản lý của khách hàng
Đối với khách hàng doanh nghiệp, nếu có một trình độ tổ chức tốt, khả năng
quản lý hiệu quả sẽ là yếu tố quyết định tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó
nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Khi sử dụng vốn vay hiệu quả, thực hiện
ốt các phương án sản xuất kinh doanh sẽ tạo điều kiện thuận lợi để trả nợ ngân hàng
đầy đủ đúng, đúng hạn.
d, Những rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng