Lời cảm ơn
Sau quá trình thực tập, em đã hoàn thành được đề tài thực tập cuối khoá
này. Em xin chân thành cảm ơn sự hươngd dẫn tận tình của thầy giáo PGS _ TS
Hoàng Hữu Hoà, sự giúp đỡ và động viên của quí thầy cô và các bạn trong Đại
Học Kinh tế Huế.
Nhân đây, em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Ban
Giám Đốc, toàn thể cán bộ - công nhân viên trong chi nhánh Ngân hàng chính
sách xã hội tỉnh Nam Định đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cơ hội cho em được
tiếp xúc với thực tiễn hoạt động của Ngân hàng nhằm nâng cao sự hiểu biết và
tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân.
Do thời gian nghiên cứu tương đối ngắn và kiến thức còn hạn chế, nên đề
tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của
quí thầy cô, các anh chị trong Ngân hàng và các bạn sinh viên để có thể rút kinh
nghiệm cho bản thân và hoàn thiện đề tài này.
Em xin chân thanh cảm ơn!
Nam Định, tháng 4 năm 2006
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Lan Anh
Lớp K36 B _ Kinh tế và phát triển
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu sản xuất không đủ tiêu dùng, sau 20 năm
đổi mới Việt Nam đã từng bước vươn lên bước đầu khẳng định uy tín, chinh phục
được khách hàng chiếm lĩnh thị trường lớn ổn định góp phần nâng cao vị thế của
mình trên chính trường quốc tế. Hiện nay cơ chế mở cửa, các thành phần kinh tế
hoạt động một cách bình đẳng theo hiến pháp và pháp luật. Nhiều loại hình doanh
nghiệp ra đời và pháp triển mạnh mẽ. Cùng với nó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các
doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn
đổi mới công nghệ, trang thiết bị và mở rộng sản xuất do đó cần thiết phải có một
lượng vốn lớn mà các Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho các doanh nghiệp các
thành phần kinh tế một cách có hiệu quả .
Trong nền kinh tế thị trường với hệ thống ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà
cảnh và yêu cầu chung của cả nước.Xuất phát từ đó trong thời gian thực tập cuối
khoá làm chuyên đề tốt nghiệp của mình, em quyết định chọn đề tài tốt nghiệp:
“Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội
tỉnh Nam Định”
Mục đích của đề tài là:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về tín dụng và
Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội
- Phân tích đánh giá thực trạng và chất lượng hoạt động của Ngân hàng
Chính Sách Xã Hội Nam Định trong thời kỳ 2002-2004
- Đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại
NHCSXH Nam Định trong thời kỳ 2005-2010
3
Để đạt được mục đích và yêu cầu nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp:
- Phép biện chứng duy vật được vận dụng làm cơ sở phương pháp
luận xuyên suốt đề tài.
- Vận dụng phương pháp thống kê kinh tế để thu thập, tổng hợp và
phân tích tài liệu nhằm đáp ứng mục đích nghiên cứu.
- Các phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp chuyên gia kinh tế
được vận dụng để tìm hiểu chuyên sâu các nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp hệ thống và các phương pháp khác được sử dụng để
rút ra các kết luận khoa học và xây dựng các giải pháp nâng cao
chất lượng tín dụng.
Do trình độ lý luận cùng như kinh nghiệm còn hạn chế và thời gian nghiên cứu
có hạn nên đề tài không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của các thầy, cô giáo, cán bộ công chức của NHCSXH Nam Định và
các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
4
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn vè tín dụng
và Ngân Hàng chính Sách Xã Hội
nhu cầu thiếu vốn ở các tổ chức cá nhân khác. Hiện tượng thừa, thiếu vốn phát sinh
do có sự chênh lệch về thời gian. Trong khi đó số lượng các khoản thu nhập và chi
tiêu ở các tổ chức cá nhân khác trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến
hành một cách liên tục. Vậy để khắc phục tình trạng này thì chỉ có ngân hàng- một
tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết được những mâu
thuẫn đó.
Vậy tín dụng ngân hàng là gì?
“Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiên tệ mà một bên là ngân
hàng- một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các
tổ chức, cá nhân trong xã hội trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay,
vừa là người cho vay”.
Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp
ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt, đầy đủ và kịp thời.
Thật vậy, chúng ta xem xét trường hợp sau:
Giả sử: Đã vào đầu mùa hè, nhu cầu về nước giải khát rất lớn và nếu tôi biết
tận dụng cơ hội này thì việc sản xuất ra nước giải khát phục vụ trong hè không
6
những đem lại lợi nhuận cho tôi mà còn đem lại sự phát triển của nền kinh tế. Song
để mua được một dây chuyền sản xuất nước giải khát thì phải cần một lượng vốn
rất lớn mà nếu mình tôi sẽ không đủ vốn. Trong khi đó có một số người khác có
một món tiết kiệm do tích luỹ được trong nhiều năm. Nếu tôi và những người đó
gặp nhau và những người đó cung cấp vốn cho tôi thì kế hoạch của tôi sẽ trở thành
hiện thực.
Nhưng một vấn đề được đặt ra là liệu tôi- người thiếu vốn và những người
thừa vốn đó có gặp nhau không? Và trong nền kinh tế thị trường hàng ngày, hàng
giờ diễn ra không biết bao nhiêu mối quan hệ như vậy? Nó đã hình thành nên: một
bên là những người có tiền tích luỹ, có khả năng cung cấp và bên kia là những
người có nhu cầu vay cho đầu tư phát triển. Như vậy nảy sinh vấn đề là làm thế nào
để họ có thể tìm gặp được nhau và làm thế nào để cùng một lúc thoả mãn được nhu
cầu vốn đa dạng và to lớn trong khi các nguốn tiết kiệm còn đang nằm phân tán
+ Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc,lao động...
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân: là loại cho vay đáp ứng các tiêu dùng như mua
sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay ngân hàng còn thực hiện cho vay để trang trải
chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng .
- Căn cứ tài sản thế chấp có các hình thức tín dụng ngân hàng sau:
+ Cho vay tài sản thế chấp: Ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để
đảm bảo cho việc trả nợ của khách hàng .
8
+ Cho vay cầm cố: Là việc ngân hàng cắn cứ vào tài sản khách hàng mang
đến cầm cố tại ngân hàng. Tài sản của khách hàng là do ngân hàng bảo quản, trong
suốt thời gian cầm cố khách hàng không được sử dụng nhượng bán, cho thuê...
+ Cho vay thế chấp: Là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để
bảo đảm khả năng trả nợ của khách hàng. Tài sản không cần mang đến ngân hàng,
khách hàng có quyền sử dụng nhưng không có quyền bán, cho thuê
+ Cho vay không có tài sản thế chấp (Tín chấp): Ngân hàng cho vay trên cơ
sở tin tưởng khách hàng, tài sản thế chấp là uy tín, danh dự của khách hàng. Ngoài
ra còn có hình thức cho vay thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn
thể chính trị - xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn.
Ví dụ: Hội nông dân Viẹt Nam , Hội phụ nữ Việt Nam.
-Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng có các hình thức tín dụng ngân hàng sau:
+ Cho vay bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cung cấp bằng tiền như: Thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp...
+ Cho vay bằng tài sản: Phổ biến là tài trợ thuê mua.
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng có các hình thức tín dụng sau:
+ Cho vay trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho khách hàng và khách
hàng trực tiếp trả lãi và gốc cho Ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ đã phát sinh và còn lại trong thời hạn thanh
toán gồm các hình thức.
đến nơi thiếu vốn một cách hiệu quả, giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển .
10
1.2.1. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn nhàn rỗi
trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Sự ra đời của tín dụng Ngân hàng đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát
triển kinh tế trong những thập kỷ qua. Với chức năng là trung gian tài chính đứng
giữa người gửi tiền và người đi vay Ngân hàng đã biến mọi nguồn ngoại tệ phân tán
trong xã hội thành nguồn vốn tập trung, qua đó điều hoà quan hệ cung cầu về tiền tệ
trong xã hội, thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng.
Là đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với mục đích lợi nhuận, các Ngân
hàng luôn luôn tìm mọi cách để tối đa hoá lợi nhuận của mình. Lợi tức thu được của
Ngân hàng được hình thành từ hai hoạt động đó là: Hoạt động tín dụng và các dịch
vụ của Ngân hàng trong đó thu từ hoạt động tín dụng là chủ yếu. Tín dụng ở đây
chúng ta hiểu là hoạt động cho vay của Ngân hàng . Vậy Ngân hàng lấy vốn ở đâu
ra để cho vay? Phải chăng là vốn tự có của Ngân hàng. Ở đây các Ngân hàng phải
huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tầng lớp dân cư trong xã hội
sau đó phân phối vốn trở lại một cách hợp lý. Chính nhờ có tín dụng Ngân hàng mà
các chủ kinh tế thừa vốn có cơ hội không những bảo toàn vốn mà còn tạo thu nhập
(thu lãi), còn đối với chủ thể thiếu vốn tín dụng Ngân hàng giúp cho họ bổ sung vốn
để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc đời sống . Trong công tác huy động
vốn một mặt các Ngân hàng phải cố gắng đưa ra những mức lãi suất hấp dẫn đối
với chủ thể thiếu vốn tín dụng Ngân hàng giúp họ bổ sung vốn để đáp ứng nhu cầu
sản xuất kinh doanh hoặc đời sống. Trong công tác huy động vốn một mặt các Ngân
hàng phải cố gắng đưa ra những mức lãi suất hấp dẫn đối với khách hàng mặt khác
phải đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng.
Nguồn vốn nhàn rỗi mà Ngân hàng huy động bao gồm:
11
+ Vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế: Đó là thu nhập bằng tiền của xí
nghiệp để bù đắp hao phí vật chất trong quá trình sản xuất, thu nhập thuần tuý
sáng tạo từ các xí nghiệp sản xuất...
phần hình thành cơ cấu hợp lý cho các doanh nghiệp. Ở nước ta hiện nay cơ cấu
kinh tế đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, mở cửa thông
thương với nhiều nước trên thế giới do vậy nhu cầu về vốn ngày càng cao, các
thành phần kinh tế đang rất cần vốn để đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh
doanh phù hợp với sự phát triển của xã hội đòi hỏi các Ngân hàng cần phải nỗ lực
hơn nữa để đáp ứng nhu cầu về vốn ngày càng lớn của các doanh nghiệp. Muốn
vậy, các Ngân hàng cần phải làm tốt công tác huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và
xây dựng cho mình những chiến lược kinh doanh hợp lý, phù hợp với xu thế phát
triển của các thành phần kinh tế. Có như vậy, các Ngân hàng mới có thể đáp ứng
một cách tốt nhất nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình
tái sản xuất đưa nền kinh tế nước nhà ngày càng phát triển.
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng của mình, các Ngân hàng đã
huy động và tập trung lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội, đồng thời rút ra khỏi lưu
thông một bộ phận tiền tệ không cần thiết góp phần giảm lạm phát. Bởi việc Ngân
hàng Nhà nước phát hành tiền để tạo ra nguồn vốn đầu tư phát triển sẽ làm tăng
khối lượng tiền tệ trong lưu thông, gây mất cân đối trong quan hệ tiền hàng dẫn đến
lạm phát trong nền kinh tế. Mặt khác, dựa vào quy luật của lưu thông tiền tệ trong
quá trình cân đối nguồn vốn tín dụng với nhu cầu vay mà Ngân hàng Nhà nước
Trung ương thực hiện pháp lệnh đưa tiền vào lưu thông. Do đó, sự vận động của
13
vốn tín dụng là dựa trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế để tổ chức điều hoà
lưu thông tiền tệ.
Hơn nữa quá trình hoạt động tín dụng Ngân hàng gắn liền với việc thanh
toán không dùng tiền mặt góp phần giảm bớt lượng tiền mặt lưu thông trôi nổi trên
thị trường mà không có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục đích ổn định, lưu thông
tiền tệ. Điều này đồng nghĩa với việc làm giảm lạm phát-một vấn đề mà nền kinh tế
phải đương đầu khi có tốc độ tăng trưởng gia tăng nhanh.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng được coi là một công cụ có thể điều hoà vốn
trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
1.2.3. Tín dụng Ngân hàng góp phần tăng cường việc chấp hành chế độ hạch
tương đối cao, tăng thu nhập, đời sống nhân dân được cải thiện... Nhưng cùng với
sự phát triển của nền kinh tế đất nước đã nảy sinh các vấn đề xã hội lớn: Sự phân
hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị ngày càng
doãng rộng, tham nhũng có dấu hiệu gia tăng cả về quy mô và số vụ, thất nghiệp ở
tỷ lệ cao...Nhận thức sâu sắc thực trạng này, các nghị quyết của Đảng luôn luôn
nhấn mạnh yêu cầu phải kết hợp tăng trưởng với công bằng, giải quyết các yêu cầu
về công bằng và tiến bộ xã hội ngay trong từng bước tăng trưởng và tín dụng Ngân
hàng được sử dụng như một công cụ để khắc phục tình trạng này.
Thông qua cơ chế tín dụng ưu tiên và ưu đãi chúng ta đang dần khắc phục
được các vấn đề xã hội. Tín dụng ưu tiên là hình thức tập trung nguồn vốn cho một
vùng, giới, ngành trong một thời gian nhất định nhằm đạt tới mục tiêu nào đó. Tín
dụng ưu đãi là cho vay các đối tượng cần ưu đãi với lãi suất thấp hơn lãi suất thị
trường gọi là lãi suất ưu đãi.
15
Bằng cách các Ngân hàng cung cấp nguồn vốn với lãi suất ưu đãi cho người
nghèo, người gặp khó khăn để họ có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh, áp dụng kỹ thuật, mở rộng thị trường từ đó tăng thu nhập. Với mức lãi suất
ưu đãi, tín dụng Ngân hàng có vai trò to lớn trong việc giúp người nghèo tự vươn
lên, tự giải quyết được tình trạng nghèo đói của mình. Đồng thời, chúng ta khẳng
định rằng giúp người nghèo bằng tín dụng là giải quyết vấn đế công bằng theo quan
điểm hiện đại, coi trọng sự nỗ lực và tham gia của bản thân người nghèo. Đó là sự
giúp đỡ tích cực "Cho cần câu chứ không cho xâu cá”. Song để đạt được mục đích
trên các Ngân hàng cần phải có một cơ chế giám sát chặt chẽ bởi thực tế cho thấy
do lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường cán bộ tín dụng có cơ hội lạm dụng
quyền hạn để cho vay với những đòi hỏi ngoài lãi suất làm cho người nghèo khó
lòng đáp ứng.
Ngoài ra , các cán bộ tín dụng Ngân hàng cần phải quan tâm đến vấn đề làm
sao để vốn được sử dụng đúng mục đích là phát triển sản xuất, cải tiến kỹ thuật để
tăng thu nhập, tránh rủi ro cho Ngân hàng không thu hồi được vốn...
Trong điều kiện hiện nay chúng ta hy vọng rằng tín dụng Ngân hàng sẽ phát
lập trên cơ sở tin cậy và uy tín. Hiểu đúng bản chất của tín dụng hiện tại cũng như
xác định chính xác các nguyên nhân của những tồn tại về chất lượng sẽ giúp cho
ngân hàng tìm được những biện pháp thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh
tế thị trường.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín
dụng Ngân hàng cũng không ngừng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện
để đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng tăng của xã hội đòi hỏi chất lượng tín dụng
17
cần phải được quan tâm hơn. Hơn nữa, việc đảm bảo chất lượng tín dụng là điều
kiện để Ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán của mình. Chất lượng đảm
bảo sẽ tăng vòng quay của vốn tín dụng để có thể tạo ra số lần giao dịch lớn hơn,
làm giảm lượng tiền trong lưu thông, mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền
mặt từ đó giảm chi phí lưu thông trong xã hội. Như vậy, nghiệp vụ tín dụng của
Ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với số lượng tiền mặt trong lưu thông – nguyên
nhân tiềm ẩn của lạm phát. Làm tốt công tác tín dụng sẽ giảm bớt lượng tiền trong
lưu thông, góp phần kiềm chế lạm phát, điều hoà và ổn định lưu thông tiền tệ.
Mặt khác, chúng ta thấy rằng với một chính sách tín dụng đún đắn và được
thực hiện có chất lượng không những hỗ trợ cho các ngành kém phát triển, thúc đẩy
các ngành mũi nhọn mà còn góp phần vào việc tăng hiệu quả sản xuất kinh tế xã hội
đảm bảo sự cân đối giữa các vùng, giải quyết các vấn đề mang tính xã hội... tạo điều
kiện đưa đất nước ta tiến nhanh trên con dường công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thông qua khâu phân tích khả năng phát triển của đối tượng định đầu tư để
đánh giá chất lượng khoản tín dụng từ đó đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn
sẽ khai thác tốt tiềm năng về tài nguyên, lao động... tăng cường năng lực sản xuất,
cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập
cho người lao động. Việc thực hiện đúng nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay
đúng đối tượng, hạn chế và xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi ở các vùng nông thôn xa
xôi hẻo lánh.
Một lý do quan trọng mà ta phải đề cập đến là việc nâng cao chất lượng tín
dụng có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Bởi chất
19
1.3.2.3. Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết Ngân hàng cho vay được nhiều hay ít, mối quan hệ
giữa Ngân hàng với khách hàng như thế nào? Chỉ tiêu này cho thấy Ngân hàng
đã tạo được uy tín với khách hàng, cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng phong phú
thu hút được khách hàng.
1.3.2.4. Hiệu suất sử dụng vốn vay
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn vay =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này giúp cho các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của Ngân
hàng với khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn
huy động. Vậy tỷ lệ này lớn là tốt hay nhỏ là tốt? Chúng ta chưa thể khẳng định
được bởi: Nếu tiền gửi ít hơn tiền cho vay thì Ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn
có chi phí cao hơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơn tiền cho vay thì Ngân hàng rơi vào
tình trạng thừa vốn.
1.3.2.5. Tỷ lệ quá hạn trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
20
Chỉ tiêu này thể hiện chất lượng của những khoản vay. Khi tỉ lệ này vượt quá
một giới hạn cho phép thì nó thể hiện sự yếu kém của hoạt động tín dụng (Mức giới
hạn của mỗi nước là khác nhau, ở Việt Nam hiện nay chấp nhận tỷ lệ này là 5%)
Theo thời gian, tỷ lệ này có thể phân làm 2 trường hợp:
Nợ quá hạn bình thường + Nợ quá hạn có vấn đề
Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 12 tháng =
Tổng dư nợ
chính sách vĩ mô của Nhà nước ưu tiên hay hạn chế phát triển một số ngành nghề
kinh tế đảm bảo cho sự ổn định phát triển chung cho nền kinh tế cũng có ảnh hưởng
không nhỏ tới chất lượng tín dụng Ngân hàng .
Hiện nay với chủ trương chuyển từ đối đầu sang đối thoại nước ta đã có
quan hệ với nhiều nước trên thế giới và đem lại nhiều thuận lợi. Song việc đầu tư
nước ngoài vào trong nước một cách ồ ạt sẽ làm mất cân bằng cung cầu tiền tệ gây
ra lạm phát làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng một cách sâu sắc. Do vậy với hệ
thống Ngân hàng nước ta hiện nay chưa thực sự phát triển, chúng ta cần phải cố
gắng hơn nữa trong vấn đề kiểm soát luồng tiền từ nước ngoài vào trong nước bởi
luồng tiền từ nước ngoài vào trong nước bởi luồng tiền này sẽ làm tăng khôí lượng
tiền trong lưu thông gây ra lạm phát ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng.
Chu kỳ phát triển kinh tế cũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Trong
thời kỳ sản xuất kinh doanh đình chệ, nhu cầu vốn tín dụng giảm gây nên tình trạng
22
ứ đọng vốn và các khoản tín dụng đã được thực hiện cũng khó hoàn trả. Ngược lại
trong thời kỳ hưng thịnh của nền kinh tế, các doanh nghiệp đua nhau mở rộng sản
xuất kinh doanh dẫn đến nhu cầu vay vốn ngày càng lớn. Trong một vài trường hợp
do sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế đã gây ra những bất lợi cho doanh nghiệp
làm cho khả năng trả những khoản nợ sẽ gặp nhiều khó khăn.
Một yếu tố mà chúng ta cần phải đề cập đến ở đây đó chính là lãi sất tín
dụng cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng. Với phương châm “đi vay
để cho vay” các Ngân hàng luôn phải cố gắng để có thể đưa ra một mức lãi suất hợp
lý sao cho vừa thu hút được vốn nhàn rỗi vừa thu đem lại lợi nhuận. Bởi nếu lãi suất
huy động tiền nhàn rỗi quá thấp sẽ không khuyến khích được các tổ chức, cá nhân
gửi tiền vào Ngân hàng dẫn đến Ngân hàng không đủ vốn để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng. Ngược lại nếu lãi suất huy động đậưt ra cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới
lợi ích của Ngân hàng, Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong vấn đề cho vay. Và đối với
lãi suất cho vay cũng vậy. Trường hợp đưa ra mức lãi suất cao sẽ đẫn đến tình trạng
không cho vay được, ứ đọng vốn hoặc có cho vay được cũng khó thu hồi bởi khách
hàng của Ngân hàng không phải tất cả đều làm ăn có hiệu quả mà có những khách
sở thực tiễn và khoa học nhất định.
Đối với các Ngân hàng, một chính sách tín dụng đúng đắn phải đảm bảo khả
năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật
và đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước đảm bảo công bằng xã hội .
• Công tác tổ chức của Ngân hàng
Tổ chức của Ngân hàng cần phải được cụ thể hoá và sắp xếp một cách có
khoa học, có tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tín dụng đã được quy
định cả về huy động vốn cũng như cho vay, quản lý được cơ cấu tài sản nợ, tài sản
24
có của Ngân hàng. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh. Do
hoạt động tín dụng là loại hình kinh doanh tiên tệ có rủi ro rất lớn nên cần có sự
phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, bộ phận trong từng Ngân hàng,
trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, giữa Ngân hàng với các cơ quan khác như tài
chinh, pháp lý,... Việc thiết lập các mối quan hệ tạo điều kiện cho việc quản lý có
hiệu quả các khoản vốn tín dụng, phát hiện và giải quyết kịp thời các vấn đề có liên
quan đến tín dụng khi cầc thiết.
• Chất lượng nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng
nói riêng và trong hoạt động của Ngân hàng nói chung. Hiện nay khi hoạt động
nghiệp vụ của Ngân hàng ngày càng phát triển thì đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày
càng cao để có thể sử dụng các phương tiện làm việc hiện đại, phù hợp với sự phát
triển nghiệp vụ không ngừng. Do vậy, việc tuyển chọn nhân sự cần phải được tiến
hành kỹ lưỡng, cán bộ tín dụng phải là người có trách nhiêm cao, có đạo đức nghề
nghiệp tốt, phải có chuyên môn giỏi thì mới có thể ngăn ngừa những sai phạm khi
thực hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng, đồng thời tăng khả năng cạnh
tranh của Ngân hàng mình trên thị trường và đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu đa
dạng của một xã hội ngày càng phát triển .
- Quy trình tín dụng
Đây là những giai đoạn, công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất
định trong việc cho vay, thu nợ bắt đầu từ việc xét đơn xin vay của khách hàng cho