LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm
thiểu ô nhiễm môi trường tại làng nghề mộc TT Thanh Lãng huyện Bình
Xuyên ” trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Thanh Chi, người đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo và các thầy cô giáo
trong Viện khoa học công nghệ và Môi trường, trường Đại học Bách khoa Hà Nội
đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Lãnh đạo và các đồng nghiệp của trung
tâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh
Phúc và các bạn học viên cùng lớp cao học đã tạo điều kiện, giúp đỡ và trao đổi
chia sẻ thông tin giúp tôi thực hiện đề tài một cách thuận lợi và đầy đủ hơn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bè bạn đã động viên tôi
trong suốt thời gian qua, giúp tôi có nhiều động lực để hoàn thành luận văn này.
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Thị Thùy
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan việc lấy mẫu và phân tích được thực hiện bởi tác giả và cộng
sự cùng nơi công tác và đã được sự đồng ý cho phép trích dẫn kết quả thu được từ
các báo cáo.
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này do tôi viết, sửa và hoàn thành theo sự
hướng dẫn Tiến sĩ Trần Thanh Chi.
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Thị Thùy
:
:
:
:
:
:
:
:
Nhu cầu oxy sinh hóa
Nhu cầu oxy hóa học
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Quy chuẩn Việt Nam
Kết quả phân tích
Giới hạn phát hiện
Bộ Tài nguyên & Môi trường
Trách nhiệm hữu hạn
Ủy ban nhân dân
Cụm công nghiệp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tiểu thủ công nghiệp
Kinh doanh
Nông sản thực phẩm
TT
: Thị Trấn
4
thuật chế tác cùng với các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đã làm nên một thương
hiệu mộc đáng tin cậy, được trong và ngoài tỉnh biết đến. Mộc truyền thống Thanh
Lãng đã trở thành một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần giải quyết công
ăn việc làm cho nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Tuy nhiên, do đặc trưng của loại hình chế biến gỗ là gây ra tiếng ồn lớn (từ
các công đoạn cưa, đục, tiện,…), phát sinh nhiều chất thải rắn (phoi bào, phoi tiện,
đầu mẩu gỗ thừa,…) và chất thải nguy hại (giẻ lau, vỏ bao bì dính sơn, vecni,…) đã
gây ảnh hưởng tiêu cực rất lớn tới sức khỏe của cộng đồng dân cư và môi trường
sống trong khu vực làng nghề, đặc biệt là môi trường không khí (do bụi gỗ phát
sinh từ các công đoạn cưa, đánh ráp,phun sơn…). Để tìm hiểu hiện trạng môi
7
trường của làng nghề mộc truyền thống tôi đã lựa chọn đề tài: "Đánh giá thực
trạng và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại làng nghề mộc
truyền thống thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên".
Đề tài thực hiện sẽ cung cấp thông tin cụ thể về hiện trạng môi trường của
khu vực làng nghề và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường
phục vụ cho sự phát triển làng nghề bền vững.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng môi trường (môi trường đất, môi trường nước, môi
trường không khí) khu vực làng nghề, nguồn và lượng các loại chất thải (chất thải
rắn, chất thải nguy hại,…) từ quá trình chế biến gỗ tại làng nghề mộc truyền thống
Thanh Lãng.
- Đề xuất một số giải pháp (chính sách, kỹ thuật, tuyên truyền,…) nhằm giảm
thiểu các tác động tiêu cực đến con người và môi trường từ hoạt động sản xuất chế
biến gỗ tại Làng nghề mộc truyền thống Thanh Lãng.
3. Đối tượng và nội dung nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), Amoni (NH+4 - tính theo Nitơ), Nitrat (NO 3- - tính
theo Nitơ), Nitrit (NO2- - tính theo Nitơ), Clorua (Cl-), Photphat (PO43-), Tổng dầu
mỡ, Tổng Coliform.
+ Số lần đo đạc: 04 lần (mùa mưa 02 lần và mùa khô 02 lần).
* Môi trường không khí
+ Đối tượng và phạm vi đo đạc: ở khu vực tập trung các xưởng mộc của thị
trấn Thanh Lãng.
+ Thông số đo đạc: Tiến hành đo đạc 06 thông số, gồm: Tiếng ồn, Bụi lơ
lửng TSP, Bụi PM10, CO, NO2, SO2.
+ Số lần đo đạc: 04 lần (mùa mưa 02 lần và mùa khô 02 lần).
*. Môi trường đất
+ Đối tượng và phạm vi đo đạc: Tập trung chủ yếu vào những khu vực đất
trồng rau màu, trồng lúa tại Thanh Lãng.
+ Thông số đo đạc: Tiến hành đo đạc 06 thông số, gồm: Độ ẩm, pH, Tổng
Nitơ, Tổng P, tổng K2O, Asen (As),
+ Số lần đo đạc: 02 lần (mùa mưa 01 lần và mùa khô 01 lần).
9
Quá trình thực hiện:
Việc lấy mẫu được tiến hành theo các tiêu chuẩn của Việt Nam. Ứng với mỗi
chỉ tiêu phân tích, mẫu được chứa vào các chai, ống và lọ tương ứng để bảo quản
theo hướng dẫn đúng theo các QCVN như QCVN 08:2008/BTNMT; QCVN
26:2010/BTNM; QCVN 40:2011/BTNMT…. Mẫu được mã hóa và đánh ký hiệu
mẫu ngay tại hiện trường.
Bảng 2. 1. Thời gian thực hiện lấy mẫu và phân tích
TT
Thời gian lấy mẫu
10/9/2014 - 29/10/2014
11/9/2014 - 07/11/2014
14/11/2014 - 18/11/2014
Việc lấy mẫu và phân tích được thực hiện bởi tác giả và cộng sự cùng nơi
công tác và đã được sự đồng ý cho phép trích dẫn kết quả thu được từ các báo cáo.
Quy trình vận chuyển và bảo quản
Quá trình vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm, mẫu sẽ được giữ lạnh bằng
thiết bị lạnh bảo quản mẫu hiện trường ở nhiệt độ thích hợp, khi mẫu về sẽ được
tiến hành phân tích ngay đối với những chỉ tiêu dễ biến đổi còn các chỉ tiêu không
tiến hành ngay thì được bảo quản đúng quy cách.
- Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh và tổng hợp.
- Sử dụng phần mềm excel 2010 để xử lý số liệu thu thập được trong các đợt điều tra
10
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Làng nghề và vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế-xã hội
1.1.1. Khái niệm làng nghề
Khái niệm về làng nghề có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên trong luận
văn này làng nghề được hiểu theo định nghĩa của tác giả Trần Minh Yến như sau:
Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi
hai yếu tố ngành và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó
bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối
liên kết về kinh tế, văn hóa và xã hội.
Xét về mặt định tính: làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát
Sản phẩm của làng nghề nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất. Nó là
các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị
thẩm mỹ hoặc chỉ là vật để dụng trang trí ở nhà, công sở, nơi tôn nghiêm như đình
chùa. Các sản phẩm của làng nghề mang tính chủ quan sang tạo, hoàn toàn phụ thuộc
vào trình độ và bàn tay khéo léo của người thợ. Dưới bàn tay tài hoa của người thợ thủ
công, một số sản phẩm thủ công mỹ nghệ đạt độ tinh xảo điêu luyện, có giá trị nghệ
thuật cao.
Do đặc điểm sản xuất kinh doanh nên sản phẩm của làng nghề in đậm dấu ấn
người thợ nên khó sản xuất đại trà, mà chỉ sản xuất đơn chiếc. Nhược điểm này làm
cho làng nghề khó đáp ứng đơn đặt hàng lớn do chất lượng sản phẩm không đồng đều.
+ Kỹ thuật công nghệ:
Kỹ thuật sản xuất đặc trưng trong làng nghề là công cụ thủ công, phương pháp
công nghệ mang tính cổ truyền do lịch sử để lại và do chính người lao động trong làng
nghề tạo ra. Kỹ thuật đặc biệt nhất của làng nghề là những bí quyết, kinh nghiệm của
người thợ được tích lũy qua nhiều thế hệ, giữ được tính chất bí truyền của nghề.
+ Tổ chức sản xuất kinh doanh:
Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay chủ yếu là
hộ gia đình với đặc điểm lao động là các thành viên trong gia đình, chỉ khi thời vụ hoặc
có đơn hàng lớn thì mới thuê thêm lao động. Mọi thành viên trong gia đình đều có thể
tham gia, tùy theo độ tuổi, trình độ tay nghề để làm công việc phù hợp nhưng bao giờ
12
cũng có ít nhất 1 hoặc 2 người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật, quản lý, điều hành,
giao dịch. Vì vậy mô hình sản xuất hộ gia đình là quy mô nhỏ.
Đây là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp nhất với cơ sở vật chất ở làng nghề
hiện nay do có nhiều ưu điểm như tranh thủ thời gian lao động, linh hoạt trong sản
xuất, tương thích giữa qui mô, năng lực sản xuất và trình độ quản lý. Bên cạnh đó, nó
cũng có những nhược điểm đó là các chủ hộ không có kiến thức về quản lý kinh tế, khó
- Các làng nghề truyền thống chuyên doanh một chủng loại sản phẩm hàng
hoá;
- Các làng nghề kinh doanh tổng hợp một số sản phẩm truyền thống;
- Các làng nghề vừa chuyên doanh các sản phẩm truyền thống vừa phát triển
các ngành nghề mới như dịch vụ, xây dựng. Loại làng nghề này phát triển mạnh
trong những năm gần đây.
e) Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề
- Các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh các ngành nghề
phi nông nghiệp;
- Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp;
- Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu.
Với mục đích nghiên cứu về môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành
sản xuất kinh doanh là phù hợp hơn cả. Vì thực tế cho thấy nếu đánh giá được
ngành sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất, quy mô sản xuất thì sẽ đánh giá được
tác động của sản xuất ngành nghề đến môi trường.
1.1.4. Tình hình phát triển của các làng nghề tại Việt Nam
Ở Việt Nam, làng nghề thủ công đã tồn tại và phát triển từ rất lâu đời và cũng
rất đa dạng. Theo thống kê của tổ chức JICA phối hợp với Bộ Nông nghiệp & phát
triển nông thôn năm 2004, cả nước có khoảng 4.575 làng nghề trong đó có khoảng
1.450 làng nghề truyền thống, phân bố ở 58 tỉnh và thành phố trong cả nước [1] .
Riêng địa bàn Đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng. Các tỉnh có số lượng làng
nghề đông bao gồm: Hà Tây (cũ) có 280 làng, Thái Bình có 187 làng, Bắc Ninh có
59 làng, Hải Dương có 65 làng, Nam Định có 90 làng, Thanh Hoá có 127 làng [1,
2]. Các loại hình ngành nghề thủ công cũng rất đa dạng, phong phú nhưng chủ yếu
là các ngành như: sản xuất mây, tre đan, dệt vải, thêu ren, sản xuất đồ nội thất, sơn
mài, tranh tượng.
14
bản sắc người Việt chính là nghề mộc. Trước đây, các sản phẩm từ các làng mộc
thủ công truyền thống chủ yếu chỉ được tiêu thụ nội địa và các nước Á đông do phù
hợp với văn hóa sinh hoạt và không gian nhà ở. Tuy nhiên trong những năm gần
đây, các sản phẩm mộc thủ công có xu hướng rất được ưa chuông tại thị trường
Châu Âu và Mỹ. Theo Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, hiện ngành gỗ Việt Nam
đã xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ sang 120 quốc gia trên thế giới, với 70% tổng sản
phẩm xuất khẩu thuộc về thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản [16]. Tuy nhu cầu sử dụng
đồ gỗ trong nước cũng như trên thế giới hiện vẫn tăng cao nhưng thị phần đồ gỗ của
Việt Nam chưa đạt tới con số 1% thị phần đồ gỗ thế giới. Ðặc biệt, các mặt hàng
xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ mười tháng qua, đạt 4,4 tỷ USD, tăng 15,4% [16],
cho thấy ngành gỗ nói chung và làng nghề mộc truyền thống nói riêng có nhiều tiềm
năng phát triển và cũng là hướng giải quyết việc làm lâu dài cho người dân tại các
vùng nông thôn Việt Nam.
1.1.5. Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội
* Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo
hướng CNH-HĐH:
Trong quá trình phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần tăng
tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sản xuất
nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao
hơn. Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có
kinh tế nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương
mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển.
Xét trên góc độ phân công lao động thì các làng nghề đã có tác động tích cực
tới sản xuất nông nghiệp. Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông
nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp.
Mặt khác, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản lượng
cao hơn so với sản xuất nông nghiệp; do từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường,
16
17
kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công
chuyên nghiệp và nhàn rỗi. Qua tổng kết thực tiễn, đã tính toán được rằng cứ xuất
khẩu được 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo việc làm và thu nhập cho
khoảng 3000 - 4000 lao động.
Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng, được coi là động lực trực tiếp
giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhập cho
người lao động. Ở nơi có làng nghề phát triển thì ở đó có thu nhập và mức sống cao
hơn so với vùng thuần nông.
* Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di
dân tự do:
Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các nghề thủ công không
đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ do thợ
thủ công tự sản xuất được; đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là qui mô
nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các
nguồn lực vật chất của các gia đình, đó là lợi thế để các làng nghề có thể huy động
các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinh doanh. Mặt khác, do đặc điểm
sản xuất lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người
lao động nên bản thân nó có khả năng tận dụng và thu hút nhiều lao động, từ lao
động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động, trẻ em
vừa học và tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc, lực lượng này
chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng số lao động làng nghề.
Sự phát triển của làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân tự
do ở nông thôn. Quá trình di dân tự do hình thành một cách tự phát do sự tác động
của qui luật cung cầu lao động; diễn ra theo hướng di chuyển từ nơi thừa lao động
và giá nhân công rẻ đến nơi thiếu lao động với giá nhân công cao, từ nơi có đời
sống thấp đến nơi có đời sống cao. Quá trình này xét trên bình diện chung của nền
kinh tế đã có những tác động tích cực làm giảm sức ép việc làm ở khu vực nông
nguồn tích lũy của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt. Dần
dần ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét, nông thôn
đổi thay và từng bước được đô thị hóa qua việc hình thành các thị trấn, thị tứ. Vì
vậy dễ nhận thấy rằng ở một làng nghề phát triển thì ở đó hình thành một phố chợ
19
sầm uất của các nhà buôn bán, dịch vụ. Xu hướng đô thị hóa nông thôn là xu hướng
tất yếu, nó thể hiện trình độ phát triển về KT-XH ở nông thôn, là yêu cầu khách
quan trong phát triển làng nghề.
* Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc:
Lịch sử phát triển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển
văn hóa của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy; đồng thời là sự
biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc. Các làng nghề phát triển sẽ bảo tồn,
duy trì và phát triển nhiều ngành nghề và các giá trị văn hóa của dân tộc.
Sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh của lao
động vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng
tạo của người thợ thủ công. Các sản phẩm của các làng nghề chứa đựng những
phong tục, tập quán, tín ngưỡng... mang sắc thái riêng có của dân tộc Việt Nam,
nhiều sản phẩm làng nghề có giá trị, có tính nghệ thuật cao, trong đó hàm chứa
những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi
làng nghề và được coi là biểu tượng nghệ thuật truyền thống của dân tộc đồng thời
có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng như thể hiện những thành
tựu, phát minh mà con người đạt được.
Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản văn
hóa quý báu mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thể hệ sau.
Cho đến nay, nhiều sản phẩm làng nghề là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo, độc
đáo, đạt trình độ bậc cao về mỹ thuật còn được lưu giữ, trình bày tại nhiều viện bảo
Chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm rất đa dạng. Nhìn chung
chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm là những chất hữu cơ dễ bị
phân hủy. Trong khu vực các làng nghề này thường có thêm ngành nghề chăn nuôi
gia súc, gia cầm, nuôi thuỷ sản để tận thu các nguồn nguyên liệu còn thừa ra. Chất
thải của ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm chất thải chủ yếu là chất hữu cơ,
định mức chất thải rắn đối với gia súc, gia cầm (lợn thải ra 1,5 kg/con/ngày, gà, vịt,
ngan thải ra 0,1 kg/con/ngày, trâu, bò thải ra 3 kg /con/ngày). Chất thải ngành chăn
nuôi là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy, gây ô nhiễm môi trường, tạo mùi khó
chịu, nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm cả 3 môi trường: đất, nước và không
khí.
Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí đặc trưng nhất của các làng nghề
21
chế biến NSTP là mùi hôi do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ dạng rắn và chất
hữu cơ tồn đọng trong nước thải sinh ra. Các khí ô nhiễm gồm H2S, CH4, NH3 đặc
biệt là làng nghề sản xuất nước mắm do phơi cá ngoài trời nên mùi hôi tanh bốc lên
rất khó chịu làm giảm chất lượng môi trường không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe
người dân làng nghề, giảm hiệu suất lao động. Mặt khác tại các làng nghề chế biến
NSTP sử dụng than và củi làm chất đốt đã thải vào không khí bụi và các chất khí
CO2, SO2, NO, NO2 tuy nhiên do được phát tán nên các chỉ tiêu về bụi và các chất
khí này trong khu vực sản xuất đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép.
2. Hiện trạng phát thải ô nhiễm môi trường các làng nghề sản xuất vật liệu
xây dựng
Các làng sản xuất vật liệu xây dựng ở nước ta hiện nay, công nghệ sản xuất
còn thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp, lao động giản đơn là chủ yếu, sản xuất vật liệu tiêu
thụ một lượng rất lớn nhiên liệu là than và củi.
Ở các làng này mức độ ô nhiễm không khí là nghiêm trọng nhất. Bụi phát sinh
từ quá trình khai thác, gia công nguyên liệu, vận chuyển vào lò, ra lò và bốc dỡ sản
Cũng như các làng chế biến nông sản thực phẩm, vấn đề ô nhiễm môi trường
nước là vấn đề lớn nhất đối với các làng nghề dệt nhuộm. Đây là ngành sử dụng
nhiều nước, nhiều hoá chất, thuốc nhuộm. Thông thường khoảng 30% thuốc nhuộm
và 85 - 90% hoá chất còn lại, sau quy trình công nghệ nhuộm được thải vào trong
nước, vì vậy nước thải có pH, COD, TS, BOD, độ màu rất cao.
Tại làng nghề dệt nhuộm các chỉ tiêu phân tích nước thải như COD,BOD, SS
đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1- 4 lần. Độ ồn do các thiết bị dệt gây ra từ 75
- 90 dB cao hơn tiêu chuẩn cho phép.
5. Làng nghề thủ công mỹ nghệ (làng mộc, đồ gỗ)
Các làng nghề này hiện tượng ô nhiễm môi trường nước diễn ra ít nghiêm
trọng như các làng nghề chế biến NSTP và các làng nghề tái chế. Tuy nhiên, trong
quá trình sản xuất, bụi gỗ được phát sinh ở hầu hết các công đoạn như cưa, xẻ,
khoan, phay, bào, chà...rồi phát tán ra môi trường ở các làng nghề rất lớn. Sơn là
một nguyên liệu không thể thiếu trong quá trình sản xuất đồ gỗ, sơn có nhiều thành
phần hóa chất độc hại gây nguy hiểm cho con người và bụi sơn có kích thước nhỏ,
phát tán nhanh. Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất ngâm, tẩm gỗ, sau khi ngâm xong,
nước thải chưa qua xử lý thường được thải trực tiếp ra môi trường. Ô nhiễm tiếng
23
ồn cũng là một bài toán khó đối với làng nghề, bởi sản xuất đồ mộc hiện nay bởi
hầu hết các công đoạn đều sử dụng máy móc hiện đại, nhất là máy đục tự động phát
ra tiếng ồn lớn, gây ảnh hưởng đến thính giác của người dân. Tại làng nghề này các
chỉ tiêu phân tích về nồng độ bụi và khí thải từ 1,5-3,6 lần; tiếng ồn cao hơn 10-20
dBA.
Theo số liệu khảo sát 52 làng nghề của các nghiên cứu trước đây cho thấy,
hiện nay trong cả nước đã có tới 46% số làng nghề trong số này môi trường bị ô
nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ. Đáng báo động là mức độ ô
nhiễm môi trường tại các làng nghề không những không giảm, mà còn có xu hướng
tình trạng nước thải từ quá trình sản xuất các sản phẩm đó đều thải trực tiếp vào hệ
thống cống thoát nước chung, hay các ao hồ của xã rồi đổ ra các sông.
Bảng 1. 1. Mức độ ô nhiễm tại các làng nghề ở Hà Nội (2008) [4]
TT Làng nghề
1
2
3
Chế biến
thực phẩm
Dệt nhuộm
đồ da
Thủ công
mỹ nghệ
Số
Tỷ lệ làng
lượng
ô nhiễm
Mức độ ô nhiễm
Nguồn nước mặt bị ô nhiễm nặng, hàm
43