MỤC LỤC
Mục lục ..........................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG................................................................3
1.1. Giới thiệu nhà thơ Chế Lan Viên....................................................................3
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp............................................................................3
1.1.2 Quan điểm và phong cách sáng tác........................................................6
1.1.2.1 Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên.........................................6
1.1.2.2 Phong cách sáng tác của Chế Lan Viên.....................................7
1.1.3 Bối cảnh lịch sử, xã hội..........................................................................7
1.2. Khái niệm thơ trí tuệ và thơ chính luận .....................................................10
1.2.1 Khái niệm thơ trí tuệ............................................................................10
1.2.2 Khái niệm thơ chính luận.....................................................................10
CHƯƠNG 2: CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN TỪ SAU
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN NĂM 1975.................................................11
2.1.Nội dung thể hiện chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên.................................11
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên
.....................................................................................................................11
2.1.2 Ảnh hưởng chất trí tuệ trong sáng tác của Chế Lan Viên................19
2.1.3 Sức mạnh trí tuệ biểu hiện trong khuynh hướng thơ suy tưởng, triết lý
.....................................................................................................................23
3.1.4 Trí tuệ thông qua cảm xúc, tình cảm của nhà thơ..............................29
2.2. Nghệ thuật thể hiện chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên.............................36
2.2.1 Khai thác triệt để các tương quan đối lập..........................................36
2.2.2 Sáng tạo phong phú về giọng điệu và hình ảnh.................................37
1
CHƯƠNG 3: CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN TỪ
SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN NĂM 1975......................................40
3.1 Nội dung thể hiện chất chính luận trong thơ Chế Lan Viên..........................40
của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt
Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là "Bàn
thành tứ hữu" của Bình Định.
Sinh ra ở vùng đất Hoan Châu nên được cha mẹ đặt tên là Phan Ngọc Hoan. Nhưng
vùng đất gắn bó với nhà thơ nhất lại là Bình Định. Thành Đồ Bàn xưa được Chế Lan Viên
xem là quê hương thứ hai của mình. Bởi ngay từ khi 7 tuổi, cậu bé Hoan đã theo gia đình vào
Bình Định và từ đó đã gắn bó với vùng đất ấy suốt cả thời gian cấp sách đến trường. Bình
Định cũng là nơi mà Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ và bắt đầu tham gia Cách mạng tháng
Tám. Có lẽ vì vậy mà trong một lần trả lời phỏng vấn của một người bạn Đức, Chế Lan Viên
nói rằng: “Quê tôi là nơi có nhiều tháp Chàm, gần bể.”
Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội. Sau đó Chế Lan Viên vào Sài Gòn làm báo rồi
ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao, tập thơ triết luận về đời
với màu sắc siêu hình, huyền bí.
Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi
ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh. Thời kỳ
này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến.
Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7
năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn-đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng
sản Đông Dương.
3
Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học. Từ
năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung ương và đến
cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ). Từ
năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư kí Hội nhà văn
Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V và VI,
ủy viên Ban văn hóa - giáo dục của quốc hội.
Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm biên tập báo Văn học, phụ trách
chuyên mục Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông ký bút danh Chàng Văn. Năm 1961,
•
Điêu tàn (1937)
•
Gửi các anh (1954)
•
Ánh sáng và phù sa (1960)
•
Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967)
•
Những bài thơ đánh giặc (1972)
•
Đối thoại mới (1973)
•
Ngày vĩ đại (1976)
•
Vàng sao (1942)
Thăm Trung Quốc (bút ký, 1963)
Những ngày nổi giận (bút ký, 1966)
Bác về quê ta (tạp văn, 1972)
Giờ của đô thành (bút ký, 1977)
5
Nàng tiên trên mặt đất (1985)
Tiểu luận phê bình
Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981)
•
Ngoại vi thơ (1987)
•
Nàng và tôi (1992)
1.1.2
Quan niệm thơ và phong cách sáng tác của Chế Lan Viên
1.1.2.1 Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên
Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên được thể hiện ở các bài viết, bài nói chuyện, đặc
biệt là trong rất nhiều bài thơ. Ông là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Ông
luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương và nhân loại để mang lại cho
tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng. Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn
chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.
Ông quan niệm sáng tạo thơ là một nghề cao quý trong xã hội, nhà thơ phải có vị trí,
sứ mệnh cao cả đối với đời. Nghề thơ không phải ai cũng làm được, bởi nhà thơ phải có hồn
thi sĩ. Nhà thơ không chỉ biết tin yêu cuộc đời, có khát vọng vươn tới cái chân, thiện, mỹ của
cuộc sống mà còn phải thật sự khổ luyện để vượt lên tất cả. Nhà thơ cần phải nhìn, nghe và
suy ngẫm để góp phần lý giải, khám phá những vấn đề trong đời sống. Nghề thơ đòi hỏi nhà
thơ phải có tài năng thơ mới có thể cảm nhận, khám phá, thể hiện cuộc sống một cách tinh tế,
nhạy bén. Ông đòi hỏi thợ thơ phải nắm bắt được một số kỉ thuật và phương pháp cần thiết
cho việc sáng tạo thơ. Ông cho rằng: Làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ,
6
này) và bằng đường lối. Đường lối này được thể hiện trong các văn kiện của Đảng về văn
hóa nghệ thuật và các bài phát biểu của các lãnh tụ tại các đại hội, Hội nghị về văn hóa, văn
nghệ. Đó là Đề cương văn hóa Việt Nam (1943, Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn
7
hóa mới Việt Nam hiện nay (1944), Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dưới
ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội (1957), Tăng cường tính Đảng, đi sâu
vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa (1962) của Trường
Chinh. Nội dung cơ bản của đường lối ấy là coi văn hóa như một mặt trận, người nghệ sĩ là
người chiến sĩ trên mặt trận ấy. Văn nghệ mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Phương
pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa yêu cầu phải phản ánh chân thật, hùng hồn cuộc
sống mới, con người mới và phản ánh cuộc sống trong quá trình cách mạng. Nguyên tắc tính
Đảng yêu cầu nhà văn trong sáng tác của mình phải công khai đứng trên lập trường của giai
cấp vô sản và quần chúng lao động, bảo vệ những tư tưởng của Đảng, những đường lối,
chính sách của nhà nước, tư tưởng chủ đề của tác phẩm phải rõ ràng, không được phép mập
mờ, bóng gió, đa nghĩa. Văn nghệ phải phục vụ chính trị, còn chính trị thì lãnh đạo văn nghệ.
Những nội dung trên là nhất quán, xuyên suốt trong quá trình tiến hành cách mạng dân tộc,
dân chủ và chi phối trực tiếp hoạt động văn hóa, văn nghệ. Từ đường lối văn nghệ của Đảng
dẫn đến tính thống nhất về tư tưởng của của văn học sau 1945, chấm dứt sự phân hóa phức
tạp của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nghĩa là chấm dứt hai bộ
phận phân biệt về ý thức hệ, thái độ chính trị của nhà văn đối với cuộc đấu tranh dân tộc: văn
học công khai và văn học không công khai; chấm dứt ba xu hướng văn học chính cùng tồn
tại, phát triển vừa đấu tranh vừa bổ sung cho nhau: văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê
phán và văn học cách mạng. Nhưng đến đây, tư tưởng của văn học thống nhất với tư tưởng
chính trị yêu nước, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng ấy tạo nên một nền văn học
sáng tác theo khuynh hướng sử thi và tràn đầy cảm hứng lãng mạn. Diện mạo văn học dân
tộc không còn phân hóa phức tạp, lắm hướng nhiều dòng như trước cách mạng tháng Tám
1945. Về cơ bản chỉ còn một dòng văn học duy nhất có tư tưởng thống nhất với tư tưởng
chính trị nói trên.
chủ nghĩa thì là đều tốt. Trong hoàn cảnh chính trị thế giới, tâm lý xã hội trong nước như thế
và điều kiện chiến tranh ác liệt, liên tục 30 năm, việc giao lưu văn hóa với bên ngoài, nhất là
phương Tây tư bản bị hạn chế là điều không tránh khỏi. Hồi ấy, việc giao lưu văn hóa với
nước ngoài hầu như chỉ diễn ra trong phe XHCN mà chủ yếu là với Liên Xô, Trung Quốc. Sự
giao lưu hạn hẹp đó đã ảnh hưởng đến văn học Việt Nam cả trên bình diện lý luận, cả trên
bình diện sáng tác.
Tóm lại, ba nhân tố trên đây đã tác động trực tiếp và ảnh hưởng quyết định đến đời
sống văn học dân tộc giai đoạn 1945 - 1975.
9
1.2 Khái niệm thơ trí tuệ và thơ chính luận
1.2.1 Khái niệm thơ trí tuệ
Thuật ngữ tính trí tuệ hay tính triết lý xuất hiện từ rất sớm. Theo Từ điển tiếng Việt thì
trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định, chỉ khả năng lý tính để
nhận thức đối tượng.
Khái niệm "thơ trữ tình triết học" gắn liền với tên tuổi các nhà thơ lớn trên thế giới
như: Block, Schiller, Bretch, Rilke, Baudelaire, Valéry, Claudel..., đến thời của chủ nghĩa
lãng mạn, Arnaudov cho biết cũng có một số nhà thơ sáng tác theo khuynh hướng này mà
người Đức gọi là "trữ tình trí tuệ", thơ ca gắn với cuộc sống và có sự thâm nhập lẫn nhau
giữa một bên là nghệ thuật, một bên là khoa học, triết học. Và Arnauđốp thêm: “Vào thời cận
đại, chúng ta ngày càng bắt gặp nhiều hơn trong trữ tình những mô tip dắt dẫn ta vào vương
quốc của các tư tưởng. Như Ghugô nói, ở những chỗ lý tính thường không được thỏa mãn thì
cảm xúc ngày càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm sự thỏa mãn, để tìm ra được khoái cảm
trong một điều gì đó chúng ta nhất thiết phải suy nghĩ tạo ra một trong những nguyên nhân
của tiến bộ đạo đức và thẩm mỹ”. Như vậy, tính triết lý trong văn chương không phải là
những gì khô khan; vì nếu thế, các lĩnh vực khác như triết học, tư tưởng sẽ đắc địa hơn nhiều.
Tính triết lý ở đây được thăng hoa từ cảm xúc và suy nghĩ trên cái nền hiện thực cụ thể mà
chủ thể sống qua. Thơ ca từ xưa đến nay đều vươn lên thể hiện sự hài hòa này. Không phải
Cách mạng tháng Tám 1945 là một cột mốc quan trọng của lịch sử dân tộc, và nó cũng
trở thành dấu mốc để đánh dấu chặng đường cho một đường thơ Chế Lan Viên. Thơ trí tuệ
của ông trước cách mạng mang đậm dấu ấn và nó phát triển dần đến sau này.
Đến với thơ của Chế Lan Viên trước cách mạng, người đọc dễ dàng nhận thấy, thơ ông
in rõ những dấu ấn của thực tại cuộc sống và chất chứa bao niềm suy tưởng về quá khứ đau
thương của một dân tộc. Trước những chứng tích của một nền văn minh bị mai một theo thời
gian còn lại như: ngọn tháp, đền đài, tượng Chàm…, đã gợi lên cho tâm hồn thơ Chế Lan
Viên biết bao sự liên tưởng mạnh mẽ và để rồi, nhà thơ lặng lẽ “quay về xem non nước giống
dân Hời”.
Khám phá những giá trị của thơ Chế Lan Viên trước cách mạng, một trong những điều
khiến chúng ta phải ngẫm nghĩ đó là cái thế giới đầy kinh dị, là nỗi đau xót được tạo nên bởi
tâm hồn thơ tuổi trẻ có trí tưởng tượng phong phú. Ở ông trào dậy bao điều suy nghĩ và bao
11
nỗi xót xa, buồn tủi về những gì đang diễn ra trong cuộc sống hiện tại. Ông cay đắng khi
nhận ra cái thế giới xung quanh mình đầy rẫy những trò gian trá, bịp bợm, thâm hiểm và xảo
quyệt, ông ngậm ngùi cho những kiếp Sống mòn, Đời thừa, Bước đường cùng,…
Chế Lan Viên tìm đến thơ để gửi gắm và giãi bày sự suy ngẫm của mình về cuộc sống.
Ông nói đến nỗi đau của dân tộc Chàm cũng là để bộc lộ nỗi đau của chính mình trước cảnh
đời hiện tại. Chính từ những nhận thức đó nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận sâu sắc về sự vô
nghĩa, “cái u buồn”, “u tối”, “cái sầu vô hạn” giữa cuộc đời hiện tại và ông đã thốt lên :
“Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau !”
( Xuân – Tập thơ Điêu tàn )
Có lẽ trong sự sâu thẳm ở cõi lòng Chế Lan Viên, hình ảnh của “những tháp gầy mòn
vì mong đợi”, “những đền xưa đổ nát dưới Thời gian”, “những tượng Chàm lở lói rỉ rên
than”…, không chỉ là hình ảnh của một nước Chàm đã mất, mà còn là sự dự cảm về số phận
của dân tộc Việt trong cảnh nô lệ lầm than. Cuộc sống hiện tại được Chế Lan Viên cảm nhận
với niềm uất hận, đau thương, nên dẫu có “xuân về trong nắng sớm” nhưng trong lòng ông
yếu nghiền ngẫm, tìm tòi về phương thức thể thiện để phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của cuộc
đời mới. Ông đã trải qua những gian truân vất vả và cảm nhận được không khí hào hùng, sôi
động của dân tộc trong kháng chiến. Ông xúc động mãnh liệt trước bao nhiêu tấm gương hi
sinh anh dũng của những con người bình thường giản dị để làm nên chiến thắng. Giờ đây cái
trí tuệ mà nhà thơ nung nấu ấy là tình cảm yêu đất nước, yêu nhân dân và lên án tội ác của
thực dân Pháp xâm lược. Những tình cảm sâu sắc mà ông luôn trân trọng trao cho những
người chiến sĩ cách mạng, được cất lên đầy tự hào, như những gì thiêng liêng nhất. Đó là
lòng yêu thương mẹ của đứa con “nghĩ đến mẹ nhiều nước mắt rưng rưng”. Nghĩ về mẹ, nhà
thơ đã cảm nhận tình thương của mẹ “là gió dịu đưa hương”, và “mẹ thương con như sữa
nồng, như nước mắt”… Chế Lan Viên còn ghi lại những niềm vui bình dị của đời sống kháng
chiến ở Một bữa cơm thường trong bản nhỏ. Nhà thơ xúc động, viết về sự ngã xuống của
các anh bộ đội ở nơi biên giới Việt – Lào, bên bờ suối Vạn Mai, hay “dưới một gốc cây sung
chín đỏ mùa hè”. Hình ảnh của những người dân công “gánh bom gập người, đường dài đứt
hơi ” mà vẫn luôn yêu đời cũng đã đi vào thơ Chế Lan Viên trong niềm tự hào trân trọng.
Ông xót xa đau đớn trước cảnh quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh, “máu đã hòa
nước mắt”, “ngút trời đồng bốc lửa”,và “đồi sim lầy máu tươi”.Chế Lan Viên những mong
mọi người hãy luôn Nhớ lấy để trả thù cho quê hương, Tổ quốc.
13
Những tưởng trong thơ ông chỉ thấy ông ca ngợi những con người phi thường, nhưng
thật ra ẩn giấu đằng sau ấy là sự lên án giặc ngoại xâm sâu sắc. Có thể có, cũng có thể không,
nhà thơ trực tiếp lên án tội ác của bọn cướp nước, những hình ảnh người mẹ, những đứa con
cầm súng đâu chỉ đơn thuần là phác họa mà họ là nhân chứng cho sự tàn bạo mà giặc gây ra.
Những người con của tổ quốc vì đâu ngã xuống, những bà mẹ anh hùng vì đâu mất con, nhà
cửa vì đâu điêu tàn, ruộng vườn vì đâu xơ xác? Sự thật ấy chỉ có thể là do chiến tranh mà ra.
Có thể nói, sống chân thành, sâu sắc với hiện thực đời sống kháng chiến chống Pháp của dân
tộc, Chế Lan Viên đã đưa thơ ông thoát khỏi dĩ vãng buồn thương để trở về với cuộc đời hiện
tại trong niềm tin yêu. Cuộc sống cách mạng và kháng chiến đã tạo điều kiện thuận lợi, chắp
cánh cho tâm hồn thơ Chế Lan Viên vươn tới những đỉnh cao nghệ thuật và Bay theo đường
( Tiếng hát con tàu – Tập thơ Ánh sáng và phù sa)
Nghĩ về cuộc sống hiện tại trong sự so sánh với quá khứ đau thương của dân tộc, Chế
Lan Viên càng tự hào khi hiểu rằng cuộc đời ngày thêm rực rỡ phù sa, ngày một thêm ý
nghĩa, và ông thốt lên trong niềm hạnh phúc :
“Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn”
và:
“Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được
sống phút bây giờ .”
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? – Tập thơ Hoa ngày thường, chim báo bão)
Chế Lan Viên đã đi “từ chân trời của một người, đến chân trời của mọi người”. Cuộc
đời mới là nguồn sức mạnh tinh thần giúp nhà thơ Đi thực tế, gặp lại nhân dân và hiểu “cuộc
sống bao la rung cả những lòng đang riêng lẻ”, nhà thơ khát vọng:
“Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc
Nơi bốn mùa đã hóa thành thu
Nơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủ
Những rừng rong tóc xõa lược trăng cài
Nơi những đàn mây trắng xóa cá bay đi …”
15
( Cành phong lan bể – Tập thơ Ánh sáng và phù sa )
Cuộc sống mới chứa chan Ánh sáng và phù sa đã thực sự giúp Chế Lan Viên “lấn
từng nỗi đau như mùa chiêm lấn vành đai trắng” và “nay trở về ta lấy lại vàng ta”. Khi đã có
hướng rồi, nhà thơ không ngần ngại “Đi ra với sông, đi ra với trời, đi ra với đời” để cảm
nhận được :
“Tôi yêu quá cuộc đời như con đẻ
Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng
Tôi nối với bạn bè như với bể
Cả lòng tôi là một giải sông Hồng.”
của dân tộc bằng tấm lòng chân thành và sự tài hoa nghệ thuật để dâng hiến cho đời nhiều
vần thơ hay. Đó là những vần thơ thể hiện sự trãi nghiệm suy tư của tác giả về cuộc đời, về lẽ
sống, về một đất nước hòa bình lập lại. Cho nên, những vần thơ giờ đây của ông luôn tràn
đầy niềm vui, niềm tin yêu cho đời. Nhà thơ vui nhưng không quên nhiệm vụ của mình là giữ
gìn mãi nền hòa bình tự do ấy.
Trong những năm kháng chiến chống Mĩ , Tổ quốc tươi đẹp và dân tộc anh hùng là
cảm hứng chủ đạo của Chế Lan Viên, nhà thơ những muốn:
“ Khi ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc
Thành một nhành hoa mát mắt cho đời”
Với Chế Lan Viên, chưa bao giờ Tổ quốc lại cao đẹp như những tháng năm kháng
chiến chống Mĩ. Nhà thơ không ngần ngại khẳng định đó là “những ngày đẹp hơn tất cả”,
“ngày vĩ đại”. Trong hoàn cảnh đó, vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dân tộc Việt Nam càng
ngời sáng hơn. Nhà thơ tự hào, kiêu hãnh viết:
“Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng
Ta mọc dậy trước mắt nghìn nhân loại
Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng.”
( Thời sự hè 72, bình luận – Tập thơ Những bài thơ đánh giặc)
Hiện thực đời sống thời kì kháng chiến chống Mĩ đã tỏa nắng cho thơ Chế Lan Viên
để nhà thơ có thêm nhiều vần thơ tràn đầy sức sống và sức hấp dẫn. Tâm hồn thơ Chế Lan
17
Viên rộng mở hướng tới khắp mọi miền của Tổ quốc để nhạy bén thu nhận chất thơ của đời
sống và hòa nhịp sống của mình với nhịp sống của dân tộc. Nhà thơ viết về những cuộc tiễn
đưa ra trận với kỉ niệm của cái hôn “cân vạn ngày lửa đạn” và “ trầm tích trong bể sâu của
nhớ”, là “chút thương nhớ giắt bên mình cùng súng đạn”.
Hình ảnh của cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng đi vào thơ Chế Lan Viên
ngày càng thêm đậm đà, sâu sắc. Nhà thơ tự hào viết những tên làng, tên núi, tên đường, tên
sông gắn liền với những chiến công hiển hách như: Trường Sơn, đường Chín, ngã ba Đồng
Lộc, Cồn Cỏ, Quảng Bình, Vĩnh Linh … Nhà thơ cảm nhận cuộc sống hôm nay “mỗi tấc núi
của cuộc sống hạnh phúc gia đình qua các bài: Hoa thảo hoa vàng, Rét đầu mùa nhớ người
đi phía bể, Chia, Cảm ơn, Con đi sơ tán, Đặt tên con…
Với tình cảm nồng nàn, trí tuệ sắc sảo và sự gắn bó sâu sắc với hiên thực đời sống
chiến tranh, Chế Lan Viên đã sáng tạo được nhiều vần thơ xúc động đậm đà chất trữ tình,
hùng ca về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.
2.1.2 Ảnh hưởng chất trí tuệ trong sáng tác của Chế Lan Viên
Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, nếu không gian và thời gian được tác giả sử dụng
như một quan niệm riêng để thể hiện mối quan hệ cụ thể giữa con người và hoàn cảnh thì
chất thơ và phương thức biểu hiện được coi như là mặt triển khai của mối quan hệ tương hỗ
đó giữa nội dung và hình thức. Nội dung bao giờ cũng được tỏ lộ qua một hình thức thích
hợp để tạo ra chất thơ riêng, làm thành nét độc đáo của tác giả. Chế Lan Viên là nhà thơ luôn
chú trọng mối quan hệ này và không ngừng sáng tạo mới, trên cơ sở có kế thừa, cách tân từ
thành quả trước đó, và bám sâu vào nguồn mạch của cuộc sống để tạo thành chất thơ riêng:
“Anh nghe cái mặn của đời đang độ kết tinh - Nó chưa thành hình, anh cho nó có hình”.
Sau Điêu tàn viết trước 1945 với một quan niệm khác và Gửi các Anh - tập thơ bản lề
sau 1945 có tính dò tìm, thể nghiệm chất thơ mới, đến Ánh sáng và phù sa và những tập thơ
sau trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Chế Lan Viên thật sự đã nắm bắt được quy luật thơ
ca và thể hiện nó một cách nhất quán, sâu sắc: “Nội dung bể phải đâu muôn đời vẫn thế Thay hình thức của thuyền đi sẽ hiểu bể thêm mà”. Ông kết hợp được việc tổng hợp giữa
chất sống thời đại với cảm xúc cá nhân, nâng nó lên thành những quy luật, những khái quát
mới, bất ngờ. Chất triết lý, suy tưởng của ông trở thành phương thức biểu hiện đặc sắc cả về
nội dung lẫn hình thức. Mỗi hình tượng thơ trong từng thời kỳ chính là sự vận động của kết
quả suy nghĩ và tình cảm của ông rút ra từ sự đối chiếu với hiện thực khách quan thông qua
19
ngôn ngữ. Điều này mỗi nhà thơ đều có sáng tạo riêng. Nếu ngôn ngữ thơ Tố Hữu là ngôn
ngữ “trữ tình điệu nói” (Trần Đình Sử) thì ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên lại nghiêng về ngôn
ngữ trữ tình triết lý, chính luận. Trong những năm cả nước có chiến tranh, loại ngôn ngữ này
của Chế Lan Viên phù hợp với việc bình luận, phân tích, lý luận, xoáy sâu vào các hiện
tượng, sự kiện. Kiểu ngôn ngữ này đến lượt mình, nó quy định cấu trúc, ngữ pháp, chất thơ,
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!”
“- Màu trắng là màu mây của em
Trắng trời anh lại nhớ em thêm
Em đi muôn dặm thơ về chậm
Chỉ lấy màu mây trắng nhắn tin”
“- Thức dậy tiếng bom gầm
Chỉ thấy trăng sáng tỏ
Chiếu nửa màn em nằm
Chiếu trên sông một nửa
Chỉ ánh trăng là có
Còn tiếng bom là không...”
Rõ ràng với kiểu tư duy này, thơ Chế Lan Viên mạnh về khái quát và phân tích, có khi
kết hợp cả hai và được chứa đựng bởi ngôn ngữ riêng, cách diễn đạt riêng nhằm lôi cuốn
người đọc, nâng họ lên tầm triết lý cùng nhà thơ. “Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh”.
Trước sau, Chế Lan Viên đều khai thác tối đa hướng này. Từ hiện thực, bằng xúc cảm
chân thật của mình, nhà thơ nhập hồn vào đối tượng và phải rút ra được một vấn đề gì đó cho
cuộc sống. Vấn đề rút ra có khi cụ thể, có khi tượng trưng và được “kết hợp trong bản thân
nó chất dân tộc và thời đại, chất sống và chất trí tuệ của thơ. Trong Ánh sáng và phù sa,
rồi Hoa ngày thường - chim báo bão và Đối thoại mới, Chế Lan Viên đã thành công đáng kể
ở phương diện này.
“Khi uống ngụm nước trong, lưỡi ta không còn
đắng chất thị thành
Đời tươi mát như ao sen mùa hạ
21
Anh em bốn bên mà ta ở giữa
Có được trái cây thơm, ta biết quý cả mùa lành.”
Để có được kiểu tư duy trên, Chế Lan Viên đã huy động sức liên tưởng dựa trên sự gần
gũi nhau, giống nhau hoặc nhân quả nhau..., có khi là sự liên tưởng ngẫu hứng để tạo nghĩa
trí và cảm xúc trong từng hình tượng; bất ngờ trong cấu tứ; tính bền vững và bổ sung; tính
thời sự và thời đại đan xen nhau tạo thành những giá trị và sức mạnh tinh thần đặc biệt, tiêu
biểu cho chất thơ, hồn thơ Chế Lan Viên.
2.1.3 Sức mạnh trí tuệ biểu hiện trong khuynh hướng thơ suy tưởng – triết lí
Khi nói chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên thì phải hiểu chất trí tuệ là cái nổi bật chứ
không phải chỉ toàn trí tuệ không là trí tuệ mà chẳng thấy cảm xúc đâu. Từ sau cách mạng
tháng Tám 1945 đến năm 1975, thơ của Chế Lan Viên thể hiện chất trí tuệ không nổi bật như
thời kỳ trước đó, được biểu hiện qua sự suy tưởng theo dòng cảm xúc và hình tượng.
Trước hết, từ cảm xúc hiện tại, nhà thơ liên tưởng đến tương lai, cảm xúc được lên Tây
Bắc, một niềm vui hân hoan trong lòng nhà thơ không chỉ là được lên Tây Bắc, mà còn mang
chất suy tưởng trong đó:
“ Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”
(Tiếng hát con tàu – Tập thơ Ánh sáng và phù sa)
Không đơn giản chỉ là lên Tây Bắc, mà con đường này cũng chính là con đường trở về
với cuộc sống chung rộn rã, hối hả của dân tộc, của đất nước và đông đảo quần chúng nhân
dân. Nhà thơ khẳng định tâm hồn mình chính là“Tây Bắc chứ còn đâu”, không những thế
qua câu nói còn cháy lên niềm tin của nhà thơ về một con đường tươi sáng của quốc gia, dân
tộc.
Chính vì biết con đường tươi sáng ấy không còn xa nên Chế Lan Viên đã rất thông
minh, khéo léo thể hiện trong thơ như lời bày tỏ, kêu gọi đồng bào phải đứng lên chống Mĩ,
phải tự bảo vệ thứ hạnh phúc, tự do mà mình vốn có:
“Miền Bắc thân yêu trong tầm đạn Mĩ
23
Hãy yêu! Hãy yêu! Hãy yêu và bảo vệ
Mây nước, cửa nhà, văn học, ngôn ngữ…
Rừng non xanh lộc biếc
Em ở, trời trưa ở
Nắng sáng màu xanh tre
Tình em như sao khuya
Rải hạt vàng chi chít
Sợ gì chim bay đi
Mang bóng chiều đi hết
Tình ta như lộc biếc
Gọi ban mai lại về
Dù nắng trưa không ở
Ta vẫn còn sao khuya
Hạnh phúc trên đầu ta
Mọc sao vàng chi chít
Mai, hoa em lại về…”
(Tình ca ban mai – Tập thơ Ánh sáng và phù sa)
Những suy tưởng triết lí cũng không cao xa mà vẫn gần gũi, dễ hiểu. Trong bài Con cò,
nhà thơ đã lấy vài chữ trong mỗi câu nhưng lại gợi lên nhiều ý nghĩa. Hình ảnh con cò đã đến
với tâm hồn trẻ thơ một cách vô thức. Là sự khởi đầu trên đường đi vào thế giới trẻ thơ của
đứa trẻ, chỉ đơn giản là những âm điệu dịu dàng, sự quan tâm, chở che của người mẹ khi:
“Con còn bế trên tay
Con chưa biết con cò
Nhưng trong lời mẹ hát
25