Đặc điểm sử dụng từ vựng trong thơ huy cận trước và sau cách mạng tháng tám năm 1945 qua các tập thơ lửa thiêng, vũ trụ ca, hạt lại gieo, những năm sáu mươi - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM HỒNG MINH

ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ VỰNG TRONG THƠ HUY CẬN
TRƢỚC VÀ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
QUA CÁC TẬP THƠ LỬA THIÊNG, VŨ TRỤ CA,
HẠT LẠI GIEO, NHỮNG NĂM SÁU MƢƠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Khóa: QH – 2015 - X

Hà Nội, 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM HỒNG MINH

ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ VỰNG TRONG THƠ HUY CẬN
TRƢỚC VÀ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
QUA CÁC TẬP THƠ LỬA THIÊNG, VŨ TRỤ CA,
HẠT LẠI GIEO, NHỮNG NĂM SÁU MƢƠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Nguyễn Hữu Đạt

luận văn được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2018
TÁC GIẢ

Phạm Hồng Minh


MỤC LỤC
ơ

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài .................................................... Error! Bookmark not defined.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................... Error! Bookmark not defined.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................ Error! Bookmark not defined.
4. Phương pháp nghiên cứu....................................... Error! Bookmark not defined.
5. Đóng góp của luận văn .......................................... Error! Bookmark not defined.
6. Cấu trúc luận văn .................................................. Error! Bookmark not defined.
NỘI DUNG .............................................................. Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ........ Error!
Bookmark not defined.
1.1. Một số vấn đề chung về từ và phân loại từ tiếng ViệtError! Bookmark not
defined.
1.1.1. Một số quan điểm về từ ............................ Error! Bookmark not defined.
1.1.2. Vấn đề phân loại từ trong tiếng Việt ......... Error! Bookmark not defined.
1.2. Một số đặc điểm của phong cách nghệ thuật và đặc điểm ngôn ngữ thơ Error!
Bookmark not defined.
1.2.1. Đặc điểm của phong cách nghệ thuật ...... Error! Bookmark not defined.
1.2.2. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ ..................... Error! Bookmark not defined.
1.3. Huy Cận và tình hình nghiên cứu thơ Huy CậnError!

3.1. Sự phân bố các lớp từ trong thơ Huy Cận sau Cách mạngError! Bookmark
not defined.
3.1.1. Sự phân bố từ vựng trong lớp thực từ ...... Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Sự phân bố từ vựng trong lớp phụ từ ....... Error! Bookmark not defined.
3.2. Hiện tượng lặp từ vựng trong thơ Huy Cận sau Cách mạng ................. Error!
Bookmark not defined.
3.2.1. Kết quả thống kê định lượng .................... Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Phân tích ................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.3. Biến đổi từ vựng trong thơ Huy Cận so với trước Cách mạng ........ Error!
Bookmark not defined.
3.3. Tiểu kết ........................................................... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN .............................................................. Error! Bookmark not defined.
Tài liệu tham khảo .................................................. Error! Bookmark not defined.


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tương quan các lớp thực từ trong Lửa thiêng và Vũ trụ ca ............. Error!
Bookmark not defined.
Bảng 2.2. Tương quan các tiểu loại từ định danh trong Lửa thiêng và Vũ trụ ca Error!
Bookmark not defined.
Bảng 2.3: Tương quan các tiểu loại từ chỉ hành động trong Lửa thiêng và Vũ trụ ca Error!
Bookmark not defined.
Bảng 2.4: Tương quan các tiểu loại từ chỉ tính chất trong Lửa thiêng và Vũ trụ ca
................................................................................... Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.5: Tương quan các lớp phụ từ trong Lửa thiêng và Vũ trụ ca .............. Error!
Bookmark not defined.
Bảng 2.6: Độ lặp từ vựng trong Lửa thiêng .............. Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.7: Độ lặp từ vựng trong Vũ trụ ca................. Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.1: Tương quan các lớp thực từ trong Những năm sáu mươi và Hạt lại gieo
................................................................................... Error! Bookmark not defined.

đẹp và sự phong phú của ngôn ngữ trong khi hành chức.
Mặt khác, Huy Cận là một trong số các nhà thơ có nhiều tác phẩm được đưa
vào giảng dạy trong trường phổ thông, vì vậy, việc nghiên cứu thơ ông sẽ góp phần
làm cho việc dạy học về tác giả, tác phẩm được sâu sắc hơn.
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Đặc điểm sử dụng từ
vựng trong thơ Huy Cận trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (qua các
tập thơ: Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Những năm sáu mươi, Hạt lại gieo)
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ vựng trong thơ Huy Cận trước và sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945.

1


Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tập thơ: Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Hạt lại
gieo và Những năm 60 được tổng hợp và in trong Tuyển tập thơ Huy Cận – tập 1.
NXB Văn học, năm 1986.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ vựng của Huy Cận theo các lớp từ nhằm chỉ
ra những đặc điểm riêng trong phong cách nhà thơ.
- Khảo sát hệ thống từ vựng được sử dụng trong bốn tập thơ theo các lớp từ
- Phân tích, miêu tả đặc điểm sử dụng từ vựng trong thơ Huy Cận trước và
sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu là phương pháp miêu tả với
mục đích miêu tả đặc điểm sử dụng từ vựng trong thơ Huy Cận trên phương diện từ
loại. Từ đó làm rõ những điểm riêng trong cách sử dụng từ vựng của nhà thơ qua 2
giai đoạn sáng tác, chỉ ra ảnh hưởng của nó đến đặc điểm phong cách nhà thơ.
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tu từ học khi thống kê tỷ lệ, phân

Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên của ngôn ngữ, là khái niệm quan trọng nhưng
cũng không hề đơn giản trong nghiên cứu ngôn ngữ học. F. De. Saussure đã viết:
“Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm
trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [29, tr.21].
Do xuất phát từ sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và những đặc điểm ý
nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong bản thân một ngôn ngữ
nào đó nên các nhà ngôn ngữ học không có sự thống nhất trong cách định nghĩa về
từ. Cho đến nay, đã có khoảng 350 định nghĩa khác nhau. Các nhà Việt ngữ học đi
theo khuynh hướng chú ý đến tính nhiều mặt và đặc điểm riêng của từ đã đưa ra
một số định nghĩa về từ trong tiếng Việt như:
Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những
đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng
với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.
[10, tr. 16]
Từ là đơn vị nhỏ nhất, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức
năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. [12,
tr. 141]
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có khả năng vận dụng độc lập để tạo
thành câu và có tính hoàn chỉnh về ngữ âm và ngữ nghĩa. [19, tr. 48]
Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức. [28,
tr. 61]
Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu
nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền”. [29, tr. 69]
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi chọn định nghĩa về từ của các
tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt làm cơ sở. Theo đó, từ là đơn vị nhỏ
nhất, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận
dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. [12, tr. 141].
4



5


Nguyễn Minh Thuyết trong Dẫn luận ngôn ngữ học [28] lại chia từ vựng
tiếng Việt thành ba mảng là thực từ (gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ), hư
từ (gồm phó từ, kết từ, trợ từ) và thán từ.
Nguyễn Thiện Giáp phân chia từ vựng tiếng Việt thành các tiểu loại cụ thể
như: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, lượng từ, quán từ, trợ từ, liên từ, giới từ. [32]
Quan điểm dựa vào đoản ngữ để phân định từ loại tiếng Việt của Nguyễn Tài
Cẩn được khá nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ. Ông chia kho từ vựng: danh từ, động
từ, tính từ, đại từ, số từ, phó từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ.
Về quan điểm phân loại từ dưới góc độ của từ vựng học các tác giả cuốn Cơ
sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [12] chủ trương phân loại từ vựng tiếng Việt dựa vào
các các cứ khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc, hệ thống từ vựng được chia thành:
các từ ngữ gốc Hán, các từ gốc Ấn Âu; căn cứ theo phạm vi sử dụng, các tác giả
chia hệ thống từ vựng thành: thuật ngữ, từ ngữ địa phương, từ nghề nghiệp, tiếng
lóng, lớp từ chung; căn cứ vào mức độ sử dụng, chia hệ thống từ vựng thành lớp từ
ngữ tích cực và lớp từ ngữ tiêu cực; phân lớp theo phong cách sử dụng, hệ thống từ
vựng được chia thành: lớp từ khẩu ngữ, lớp từ ngữ thuộc phong cách viết, lớp từ
ngữ trung hòa về phong cách.
Cũng theo quan điểm của từ vựng học, tác giả Đỗ Hữu Châu [10] đã phân
chia hệ thống từ vựng tiếng Việt thành các lớp: thuật ngữ khoa học, từ vựng nghề
nghiệp, biệt ngữ, từ ngữ địa phương, các lớp từ được phân chia theo phong cách
chức năng.
Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, để làm cơ sở cho
việc phân tích, miêu tả đặc điểm từ vựng trong thơ Huy Cận, trong luận văn này,
chúng tôi khảo sát từ vựng trong thơ Huy Cận theo 2 lớp từ cơ bản: lớp thực từ là
những từ mang ý nghĩa từ vựng và lớp phụ từ đi kèm thực từ. Trong đó, mỗi lớp từ
tiếp tục được phân chia thành các lớp nhỏ hơn.
Lớp thực từ có thể chia thành: lớp từ định danh, lớp từ mang ý nghĩa hành

nào đó hoặc biểu thị trạng thái tiếp thụ của sự vật. Đó là những từ như: cần, muốn,
phải, toan, định, bị, được, chịu….
- Lớp từ chỉ đặc trưng hoặc tính chất của sự vật được chia lớp từ này thành:
+ Lớp từ chỉ đặc điểm về tính chất của sự vật, gồm các từ chỉ phẩm chất: tốt,
đẹp, xấu…, từ chỉ cường độ: mạnh, yếu, lạnh, nóng…, từ chỉ hình thể: vuông, tròn,
7


méo…, từ chỉ mùi vị: thơm, chua, cay…, từ chỉ màu sắc: xanh, đỏ, vàng…, từ chỉ
kích thước: to, nhỏ, cao thấp…, từ chỉ âm thanh: ồn ào, im ắng,…
+ Lớp từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật, gồm các từ chỉ số lượng: nhiều,
ít, dày, thưa…, từ chỉ trọng lượng: nặng, nhẹ….
Lớp phụ từ đi kèm thực từ có thể chia thành các lớp:
- Lớp 1 gồm những từ có ý nghĩa trỏ hoặc thay thế cho ý nghĩa của các lớp
thực từ. Lớp từ này gồm: từ hô gọi: ta, tôi, chúng tôi, nó, họ…; từ có ý nghĩa số
nhiều và không trỏ ngôi cụ thể: nhau; từ có ý nghĩa số lượng nhưng không nói rõ
lượng ấy là bao nhiêu: chừng ấy, ngần ấy, bấy nhiêu…; từ dùng để thay thế vị từ:
thế, vậy; từ mang nghĩa phiếm chỉ, gồm: từ hỏi về người: ai, từ hỏi về sự vật: gì,
nào, từ hỏi về thời gian: bao giờ, từ hỏi về địa điểm: đâu, từ hỏi về số lượng: bao
nhiêu, bao, mấy, từ hỏi về tình hình, tính chất của sự vật: thế nào, sao. Lớp từ này
khá đặc biệt, nó nằm trung gian giữa nhóm thực từ và nhóm từ phụ, nhưng cơ bản ý
nghĩa của các từ thuộc nhóm này phụ thuộc vào ý nghĩa của các thực từ trong cùng
ngữ cảnh, nên chúng tôi tạm xếp vào nhóm phụ từ đi kèm thực từ
- Lớp 2: gồm những từ có ý nghĩa số lượng có thể chia thành: lớp từ có ý
nghĩa số lượng xác định: một, hai, ba, bốn và lớp từ có ý nghĩa số lượng không xác
định gồm có các từ mang ý nghĩa số ít: một vài, dăm ba, dăm bảy…và từ mang ý
nghĩa số nhiều: những, mấy, các…
- Lớp 3 gồm những từ mang ý nghĩa bổ sung cho các từ thuộc lớp thực từ.
Có thể chia lớp này thành: những từ có ý nghĩa bổ sung cho từ định danh: này, ấy,
đó, kia; những từ có ý nghĩa bổ sung cho từ chỉ hành động và từ chỉ tính chất: rất,

Nói về chức năng của ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật, khi thực hiện
chức năng tác động, ngôn ngữ của phong cách nghệ thuật có thể đi theo các hướng:
tác động theo hướng giải trí, tác động theo hướng nhận thức, giáo dục, tác động theo
hướng thẩm mĩ. Ba hướng tác động trên của ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng phối
hợp với nhau, cái này là nguyên nhân của cái kia theo hướng đa trị của các yếu tố
ngôn ngữ.
Tính hình tượng thể hiện ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật tác động đến người đọc
qua một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ mang tính hình tượng. Khi các đơn vị ngôn
ngữ được sử dụng để tạo nên hình tượng nghệ thuật, tự nó đã làm mờ nhạt đi bản
chất của mình và tạo nên một loại nghĩa mới. Việc nhận biết ý nghĩa của hình tượng

9


nghệ thuật phải bằng con đường lí giải quá trình biểu tượng hóa các tín hiệu này
thông qua thao tác tư duy trừu tượng.
Nói đến nghệ thuật là phải nói đến tính thẩm mĩ. Tính thẩm mĩ của ngôn ngữ
nghệ thuật là sự tương hợp giữa hình thức và nội dung. Ở phong cách nghệ thuật,
ngôn ngữ thiên về miêu tả, lấy miêu tả làm mảnh đất nuôi dưỡng cho mình.
Phong cách nghệ thuật mang tính sinh động và biểu cảm cao, nhờ đó, phong
cách này dễ đi vào lòng người, dễ chiếm được lòng người, làm cho người ta dễ nhớ,
dễ thuộc và nhớ lâu, thiếu đi tính sinh động, biểu cảm thì nghệ thuật không còn là
nghệ thuật nữa.
Phong cách nghệ thuật còn mang tính tổng hợp do nó sử dụng tất cả phương
tiện của các phong cách khác. Phong cách này chấp nhận đưa vào nó rất nhiều từ
ngữ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ, từ nghề nghiệp…., triệt để vận dụng tất cả các
lợi thế về giá trị phong cách của các đơn vị từ ngữ trên tất cả các mặt ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp nhằm phục vụ cho mục đích xây dựng hình tượng của mình.
Về đặc điểm sử dụng từ ngữ, phong cách này sử dụng nhiều từ có sức gợi
cảm cao, dễ tạo nên tính nhạc điệu, tiết tấu trong ngôn ngữ nghệ thuật như từ láy, từ

Tính cụ thể hóa nghệ thuật là sự di chuyển từ bình diện khái niệm của ngôn
ngữ sang bình diện hình tượng. Sự cụ thể hóa này có tính tổng hợp, được diễn đạt
trong hệ thống hoàn chỉnh của các phương tiện ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác
nhau. Sự cụ thể hóa nghệ thuật được thực hiện nhờ cách lựa chọn và tổ chức các
phương tiện ngôn ngữ cùng một số hình thức khác như giao tiếp độc thoại, đối
thoại, các phương thức diễn đạt tường thuật, miêu tả, các phương tiên tu từ và các
biện pháp tu từ ở các cấp độ.
Tuy quan điểm về phong cách nghệ thuật khác nhau, nhưng khi chỉ ra đặc
điểm của phong cách này, hai tác giả Hữu Đạt và Đinh Trọng Lạc đều thống nhất ở
chỗ cho rằng phong cách nghệ thuật mang tính hình tượng. Đây có thể được coi là
đặc trưng của phong cách nghệ thuật. Tính hình tượng được thể hiện ở mối quan hệ
giữa cái biểu đạt – các đơn vị ngôn ngữ - và cái được biểu đạt – sự vật, đặc điểm
của sự vật. Nói về tính hình tượng trong thơ, tác giả Hữu Đạt cho rằng “thực chất
của việc xây dựng tính hình tượng và hình tượng thơ không phải là cái gì khác
ngoài việc tổ chức các đơn vị ngôn ngữ” [17, tr.133] vì “trong thơ ca, những kết
hợp bất ngờ bao giờ cũng làm tiền đề cho việc tạo ra tính hình tượng” [17, tr.131].
Do đó, một mặt hình tượng thơ có mang dấu ấn chủ quan của nghệ sĩ, nhưng mặt
11


khác, xét về bản chất nó lại thuộc về yếu tố khách quan nằm trong những quy luật
nội tại của ngôn ngữ”. [17, tr.133]
1.2.2. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ
Khi nghiên cứu về đặc điểm của ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh
[4] đã đi sâu vào nghệ thuật ngôn ngữ, phân biệt ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn
xuôi. Ông cho rằng hai thao tác cơ bản của hành động ngôn ngữ là thao tác lựa chọn
từ và thao tác kết hợp từ. Việc vận dụng hai thao tác này trong sáng tác nghệ thuật
làm cho ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có những điểm khác nhau. Với văn
xuôi, nhằm vào việc miêu tả hiện thực, văn xuôi làm việc trước hết bằng thao tác
kết hợp và lặp là điều tối kị được dùng để tạo ra thông báo. Tuy nhiên, “chính cái

Để phục vụ đắc lực cho mỗi kiểu bút pháp, mỗi nhà thơ sẽ huy động những vốn từ
ngữ khác nhau, những kiểu cấu trúc khác nhau, những cách diễn đạt khác nhau. Từ
đó làm nảy sinh những đặc trưng riêng của từng tác giả. Cho nên, xét cho cùng,
không phải là nội dung phản ánh mà là cách phản ánh của nhà thơ mới là nhân tố
quan trọng làm nên đặc điểm riêng về ngôn ngữ của mỗi nhà thơ.
Có thể thấy, tác giả Hữu Đạt chủ yếu quan tâm đến tín hiệu thẩm mĩ và đăch
trưng của ngôn ngữ nghệ thuật. Ông có cách nhìn bao quát hơn khi quan tâm đến
mọi phương diện của ngôn ngữ được sử dụng trong sáng tác thơ ca như: âm thanh, ý
nghĩa, từ loại. Theo ông, tất cả những phương diện này của ngôn ngữ góp phần tạo
nên tính tương xứng, tính nhạc và đặc trưng trong phong cách nhà thơ.
1.3. Huy Cận và tình hình nghiên cứu thơ Huy Cận
1.3.1. Vài nét về Huy Cận
Huy Cận, tên đầy đủ là Cù Huy Cận, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 trong
một gia đình nhà nho gốc nông dân, tại chân núi Mồng Gà, bên bờ sông Ngàn Sâu
(thượng nguồn sông La) ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, (có lúc đổi tên thành xã
Đức Ân, huyện Đức Thọ) nhưng sau này, xã Ân Phú được gọi tên trở lại và được
xếp vào huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Thuở nhỏ, ông học chữ quốc ngữ với một
người trong họ, sau đó vào Huế học tú tài toàn phần.
Ngoài cương vị nhà thơ, Huy Cận còn tham gia nhiều hoạt động chính trị, văn
hoá trong và ngoài nước, giữ các cương vị quan trọng trong chính phủ. Ông là nhà
hoạt động quốc tế năng động, có nhiều đóng góp tích cực trên lĩnh vực văn hoá nghệ
thuật. Ông am hiểu nhiều nền văn minh, văn hoá và tiếp nhận nhiều nguồn ảnh hưởng
nhưng cái gốc tâm hồn, thơ Huy Cận vẫn bắt nguồn từ văn hoá dân tộc Việt Nam.
13


Về sự nghiệp thơ ca, Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936, cho in tập thơ
đầu Lửa thiêng năm 1940 (gồm những bài đã đăng báo trong những năm19361940). Tập thơ đã trở thành tác phẩm xuất sắc trong phong trào Thơ mới, đưa tên
tuổi Huy Cận lên vị trí hàng đầu trong nền thi ca lãng mạn Việt Nam. Năm 1942,
ông cho xuất bản tập văn xuôi triết lí Kinh cầu tự , đồng thời, những sáng tác của

Chế Lan Viên trong Trời mỗi ngày lại sáng của Huy Cận đã biểu dương sự gắn bó
của Huy Cận với hiện thực cuộc đời [57]. Lê Đình Kị, Đào Xuân Quý, Nguyễn
Xuân Nam [45] hay Nguyễn Văn Long [41], Hà Minh Đức [27] có những tiểu luận,
phê bình về thơ Huy Cận. Với một sự quan tâm đặc biệt, nhà thơ Xuân Diệu cũng
nghiên cứu khá nhiều về Huy Cận, trong đó, đáng chú ý có chuyên luận Thế giới
thơ Huy Cận [13]. Là một nhà nghiên cứu nhiều năm về Huy Cận, Trần Khánh
Thành đã có khá nhiều bài viết, chuyên luận về thơ Huy Cận qua từng thời kì, trong
đó có Thi pháp thơ Huy Cận [50]. Ngoài ra, Trần Khánh Thành và Lê Dục Tú còn
tuyển chọn và giới thiệu các bài viết, tiểu luận về Huy Cận và tổng hợp trong cuốn
sách Huy Cận về tác gia và tác phẩm. Gần đây nhất, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của
Nguyễn Thị Kim Ửng với đề tài Phong cách thơ Huy Cận qua Lửa thiêng đã nghiên
cứu các đặc điểm làm nên phong cách thơ Huy Cận [56].
Theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ học, thơ Huy Cận chưa thực sự được chú
ý. Ngôn ngữ thơ ông hầu như chỉ được nhắc đến như những nhận xét trong các tiểu
luận, chuyên luận chung về Huy Cận. Trần Khánh Thành trong chương 4 của
chuyên luận Thi pháp thơ Huy Cận đã phân tích một số đặc điểm về thể loại và kết
cấu của thơ Huy Cận trước và sau Cách mạng. Tác giả đã thống kê tỷ lệ các thể thơ
được Huy Cận sử dụng và đưa ra nhận xét, Huy Cận làm nhiều thể thơ nhưng sở
trường là thơ lục bát, thơ 7 chữ và thơ 8 chữ, trong đó, thơ lục bát trở thành sở
trường của Huy Cận. Bên cạnh đó, Trần Khánh Thành cũng chỉ ra các đặc điểm nổi
bật trong vần điệu và nhịp thơ Huy Cận. Đặc biệt, tác giả Thi pháp thơ Huy Cận khi
nói đến đặc điểm ngôn từ thơ Huy Cận đã nhận thấy “hệ thống từ vựng trong thơ
Huy Cận sau Cách mạng đã thay đổi cơ bản so với trước Cách mạng. Đó là sự thay
đổi từ việc sử dụng hệ thống ngôn từ trang trọng, cổ điển ở Lửa Thiêng đến ngôn từ
bình dị, mộc mạc, có khi thô ráp của quần chúng nhân dân” [50, tr.127]. Cũng trong
chuyên luận này, Trần Khánh Thành nhận xét: “nhà thơ dùng nhiều danh từ chỉ các
yếu tố của vũ trụ: đất trời, suối sông, biển núi, trăng sao…Khi miêu tả vũ trụ, Huy
Cận dùng nhiều từ Hán Việt: nhật nguyệt, hải hà, hoa đăng, tạo hóa, thiên
15


tăng giá trị biểu cảm, giá trị tạo hình và hiệu quả hòa âm của ngôn ngữ thi ca.
16


[1tr.96]. Ngoài ra, tác giả cũng phân tích cú pháp Thơ mới và chỉ ra cú pháp Thơ
mới có sự kế thừa cú pháp thơ truyền thống. Để minh chứng cho đặc điểm này, tác
giả lấy việc Huy Cận sử dụng thành thạo thể thơ lục bát làm ví dụ. Theo tác giả
“Lục bát Huy Cận không mới nhưng cái tài của nhà thơ chính là diễn tả được giai
điệu trầm lắng, miên man, nỗi sầu thiên cổ. Câu thơ có sự kết hợp nhịp chẵn và lẻ
như một thứ tơ chùng và bước đi chầm chậm” [1, tr.107].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của Trần Khánh Thành, Mã Giang
Lân, Nguyễn Thị Kim Ửng hay La Nguyệt Anh đều có dành sự quan tâm nhất định
cho ngôn ngữ thơ Huy Cận. Tuy nhiên, từ vựng trong thơ Huy Cận vẫn chưa thực
sự được nhắc đến như một mảng riêng trong nghiên cứu của các tác giả này. Mặc dù
có nhắc đến từ vựng, nhưng phần lớn đó chỉ là những nhận xét chung chung, thêm
vào đó, chưa có tác giả nào quan tâm đến đặc điểm sử dụng từ vựng trong thơ Huy
Cận trên phương diện từ loại.
Gần đây- năm 2017- tác giả Hữu Đạt công bố một công trình chuyên khảo
Tiến trình phát triển và đổi mới ngôn ngữ thơ Việt Nam bàn đến quá trình phát triển
và đổi mới ngôn ngữ thơ Việt Nam từ sau 1986. Tại công trình này, ngôn ngữ thơ
Huy Cận và ba nhà thơ hiện đại khác đã được nghiên cứu khá sâu từ hai phương
diện từ vựng và cú pháp. Có thể nói, cho đến thời điểm hiện tại, đây là công trình
nghiên cứu công phu nhất về Huy Cận từ phương diện ngôn ngữ học.
Xuất phát từ sự gợi mở của công trình nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn và
tiến hành nghiên cứu về đặc điểm sử dụng từ vựng trong thơ Huy Cận trước và sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
1.4. Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tôi điểm qua một số quan niệm khi định nghĩa về từ
nói chung, từ tiếng Việt nói riêng. Trên cơ sở lựa chọn một quan điểm mang tính khả
thi cho việc miêu tả và phân tích đặc điểm từ vựng trong thơ Huy Cận, chúng tôi coi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status