Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
MỤC LỤC:
A/ PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài :……………………………………………
2. Mụ đích nghiên cứu : ………………………………………
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu :………………………
4. Nhiệm vụ nghiên cứu :………………………………………...
5. Phương pháp nghiên cứu :…………………………………….
B/ NỘI DUNG ĐỀ TÀI :………………………………………………….
PHẦN I : CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở pháp lý :………………………………………………….
2. Cơ sở lý luận : ………………………………………………. .
3. Cơ sở thực tiễn: ……………………………………………….
PHẦN II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Khái quát phạm vi, địa bàn nghiên cứu :
………………………
2. Thực trạng của đề tài nghiên cứu : …………………………. .
3.Nguyên nhân của thực trạng :………………………………… .
PHẦN III : BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ
TÀI
1. Cơ sở đề xuất các giải pháp : …………………………………..
2. Các giải pháp chủ yếu :
…………………………………………
2.1 Sơ đồ tư duy là gì?...................................................................
2.2 Sơ đồ tư duy có lợi ích gì?.......................................................
2.3 Một số hướng dẫn tạo sơ đồ tư duy………………………...
2.4 Các phím tắt sử dụng vẽ sơ đồ tư duy trên máy tính……..
2.5 Vận dụng sơ đồ tư duy cho môn Ngữ văn………………….
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Nhằm thực hiện chủ đề năm học 2014- 2015 là “ Nâng cao chất lượng dạy
học và đổi mới cảnh quan sư phạm nhà trường”, tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và
học bộ môn Ngữ văn trong Nhà trường THCS. Năm học 2014-2015 thực hiện theo
chỉ đạo của ngành về việc thực hiện giảng dạy theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ
Giáo dục & Đào tạo, để giáo viên giảng dạy đúng kiến thức và kĩ năng mới trên tinh
thần phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo trong việc tiếp cận và lĩnh hội
tri thức của học sinh, một yêu cầu quan trọng đặt ra là phải có sự vận dụng và phát
huy những phương pháp dạy học truyền thống và những biện pháp, kĩ thuật dạy học
hiện đại. Đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng những thành tựu
khoa học hiện đại vào việc giảng dạy từng bộ môn.
Để đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương diện phương pháp, đáp ứng tốt
hơn Chuẩn kiến thức và kĩ năng quy định thì việc làm phong phú, sinh động, khắc
sâu đề tài…bằng một kỹ thuật mới đó là tổ chức các đơn vị kiến thức trên hệ thống
sơ đồ, ta vẫn gọi là sơ đồ tư duy, hay bản đồ tư duy . Nó không chỉ giúp cho học sinh
có sự hiểu biết sâu rộng, dễ tái hiện kiến thức Ngữ văn mà còn góp phần chắp cánh
cho những phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn này. Đồng thời, tạo hứng thú
để học sinh tham gia học tập tích cực, kiểu như: “ có thích mới nhích tư duy”.
Thực tế vận dụng sơ đồ tư duy vào một số tiết dạy ở bộ môn Ngữ văn, chúng tôi
thấy nó đã đem lại những hiệu quả nhất định. Để tiến đến sử dụng sơ đồ tư duy lâu
dài và đem lại hiệu quả tối ưu, chúng tôi tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu những cơ sở
khoa học của nó và vận dụng cho phù hợp với đặc trưng của bộ môn Ngữ văn. Do
đó, chúng tôi chọn đề tài cho Sáng kiến kinh nghiệm này là : “Vận dụng sơ đồ tư
duy dạy học môn Ngữ văn” Mong rằng với những kinh nghiệm này có thể giúp
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
- Giúp học sinh dễ hình dung các đơn vị kiến thức, dễ ghi nhớ những vấn đề
phức tạp khi nó được đưa lên sơ đồ, từ đó các em hiểu vấn đề một cách có hệ thống .
Đồng thời tạo cho học sinh thói quen nhận thức thế giới bằng lối tư duy quan hệ, tính
logic của một vấn đề.
-Tạo không khí hứng thú trong giờ học văn, giúp học sinh yêu thích say mê
môn học.
-Đáp ứng tốt nhất những tiêu chuẩn về kiến thức và kĩ năng mà mục tiêu môn
học đã đề ra.
5. Phương pháp nghiên cứu:
-Phương pháp tiếp cận hệ thống, so sánh, nêu ví dụ, phân loại, thống kê.
- Tham khảo các tài liệu dạy học có liên quan .
- Rút kinh nghiệm từ thực tế giảng dạy của bản thân.
- Sưu tầm, tra cứu, học hỏi từ đồng nghiệp.
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở pháp lí:
-Căn cứ vào kế hoạch, nhiệm vụ năm học 2014- 2015 là năm học tiếp tục đổi
mới công tác quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin.
-Căn cứ vào những yêu cầu đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học theo hướng
tích cực hóa hoạt động và phát triển năng lực tư duy của học sinh trong việc học tập
môn Ngữ văn
- Đáp ứng được yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học mà Bộ giáo
dục đã quy định.
2. Cơ sở lí luận :
Sáng kiến kinh nghiệm:
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
trong tuần khá nhiều so với các môn học khác trong cấp học. Do vậy, có nhiều vấn
đề văn chương nghệ thuật hay nội dung xã hội phức tạp cần có cách thiết lập dễ hiểu,
dễ nhớ hay tổ chức lý thuyết cho kiểu bài rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hoặc tạo lập
các kiểu văn bản và lúc này sơ đồ tư duy là một phương tiện đi kèm hữu hiệu để giúp
học sinh nắm vững lí thuyết bài học.
PHẦN II:
THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng của đề tài nghiên cứu :
-Thực tế trong nhà trường hiện nay nhiều giáo viên đã tích cực ứng dụng
công nghệ thông tin, những tìm tòi trong công tác soạn giảng và tiếp cận lượng lớn
tư liệu dạy học. Tuy vậy về phương diện phương pháp và kĩ thuật vẫn còn nhiều hạn
chế nhất là cách thức giúp học sinh hiểu vấn đề nhanh, nhớ kiến thức lâu và tái hiện
nhanh khi cần thiết vận dụng.
-Trong một số tiết học, dù vẫn cố gắn thực hiện theo chủ trương giảm tải
nhưng cách tổ chức các đơn vị kiến thức vẫn còn rườm rà, kiểu như phải ghi chép
thành câu, đoạn hoàn chỉnh, có khi phải nhiều câu dài dòng, trong khi đó chỉ cần một
sơ đồ là học sinh có thể hiểu vấn đề thông suốt.
-Tình trạng học sinh học vẹt để đối phó trong kiểm tra đánh giá hiện nay một
phần do các em hiểu vấn đề chưa tường tận hoặc bị ràng buộc bỡi “hành lang ngôn
ngữ diễn đạt” mà giáo viên đã sử dụng, các em không tự tin khi dùng kho từ vựng
của mình để diễn đạt, do không sử dụng nên nó cũng dễ mai một và ngày một ít sắc
bén hơn. Đặc biệt với môn Ngữ văn thì đây là một hạn chế lớn, khi nói, viết được
xem là yêu cầu quan trọng của HS..
chuyện rất cũ mà trước đây giáo viên ít mạnh dạn vận dụng? Có lẽ một phần do giáo
viên ngại ghi chép theo kiểu vắn tắt, chẳng ngay hàng thẳng lối, thoát khỏi quy củ đề
mục, mặc dù giáo viên nào cũng có thể hình dung được kiến thức có thể thiết lập trên
một sơ đồ. Nếu ai đó đã mạnh dạn làm việc này với tư cách là hoạt động trung tâm
của tiết học thì chưa chắc đã được công nhận là một tiết dạy tốt. Phải chăng trước
đây ta đã có sơ đồ nhưng ta chưa thật sự đổi mới tư duy.
PHẦN III: BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
1/ Cơ sở đề xuất các giải pháp:
Người thầy dạy học muốn HS học tích cực thì mình cũng phải dạy tích cực.
Xuất phát từ những nguyên nhân và thực trạng vừa phân tích trên, một vấn đề đang
đặt ra : làm thế nào để một tiết dạy văn học thật sự lôi cuốn, hấp dẫn, tạo hứng thú
khơi gợi sự tìm tòi, khám phá những điều mới lạ qua văn bản. Đồng thời, học sinh
nắm vững kiến thức Tiếng Việt để học tập và sử dụng trong thực tế giao tiếp hằng
ngày cũng như tạo lập các kiểu văn bản. Giáo viên phải dạy tích cực và nên vận
dụng sơ đồ tư duy vào như một phương pháp quen thuộc trong nhiều tiết dạy.
. Hơn nữa, việc vận dụng sơ đồ tư duy còn là một chủ trương trong tiến trình
đổi mới dạy học của ngành Giáo dục, nên đưa ra một cách thức tiếp cận và vận dụng
cho bộ môn Ngữ văn lúc này là cần thiết để quý đồng nghiệp chia sẻ và đóng góp.
Do đó, tôi đề xuất một số giải pháp cho việc thực hiện đề tài.
2/ Các giải pháp chủ yếu:
2.1 Sơ đồ tư duy (SĐTD) là gì?
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu
sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
2.3 Một số hướng dẫn khi tạo sơ đồ tư duy
1.Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Tại sao lại phải dùng hình ảnh? Vì
một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp HS sử dụng trí tưởng tượng
của mình. Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và
làm cho chúng ta hưng phấn hơn.
2.Luôn sử dụng màu sắc. Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình
ảnh
3.Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh nhánh cấp
hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,.... bằng các
đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn,
dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất
nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng
4.Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
5.Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,...)
6.Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ
chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều
7.Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
2.4 Các phím tắt hay dùng khi vẽ SĐTD trên máy tính ( mind map): (trích: Kĩ
thuật vẽ SĐTD. www. Sđtd.kt @.com)
Tạo sơ đồ mơi - Ctrl N
Mở sơ đồ có sẵn - Ctrl O
Ghi lại sơ đồ đang mở - Ctrl S
Tìm kiếm - Ctrl F
Tìm tiếp - Ctrl G
Cắt - Ctrl X
Sao chép - Ctrl C
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
Đám mây bao phủ vùng được chọn Ctrl Shift B
Chuyển màu nút- Alt C
Trộn màu, mờ đi - Alt B
Thay đổi màu chính xác - Alt E
Về gốc sơ đồ - ESCAPE
Lên trên - UP
Xuống dưới - DOWN
Sang trái - LEFT
Sang phải - RIGHT
Bật 1 cấp sơ đồ - Alt UP
Đóng 1 cấp sơ đồ - Alt DOWN
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
2.5 Tổ chức các hoạt động dạy học môn Ngữ văn bằng sơ đồ tư duy:
Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học Ngữ văn trên lớp với SĐTD:
Hoạt động 1: HS lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân từ gợi ý của GV. Gv có thể
tạo nhánh cấp một để gợi ý cho hs tiếp tục vẽ các nhánh ở cấp tiếp theo.
Hoạt động 2: Cá nhân hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh
về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
Ví dụ 4: Vận dụng SĐTD cho tiết : Tổng kết ngữ pháp( ngữ văn 9)
2.6.2. Vận dụng SĐTD dạy phân môn Tiếng Việt:
Ví dụ 1: Lập SĐTD cho tiết: Luyện tập sự phát triển từ vựng Tiếng Việt
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
2.6.3 Vận dụng SĐTD cho phân môn Tập làm văn.Ví dụ: Lập SĐTD cho tiết :
Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự. (NV 9)
C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC (KẾT LUẬN) VÀ KIẾN NGHỊ:
1.Kết quả đạt được:
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
Sử dụng SĐTD sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi xây dựng
kiến thức mới cho nhiều phân môn môn Ngữ văn. Nhờ sự liên kết các nét vẽ cùng
với màu sắc thích hợp và cách diễn đạt riêng của mỗi người, SĐTD giúp bộ não liên
tưởng, liên kết các kiến thức đã học trong sách vở, đã biết trong cuộc sống… để phát
ta có thể tải về bản demo ConceptDraw MINDMAP 5 Professional, phần mềm này
không hạn chế số ngày sử dụng và việc sử dụng nó cũng khá đơn giản.
Bước đầu cho phép kết luận: Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình
thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn
đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy
học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần
đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS nói chung và môn Ngữ văn
nói riêng.
2. Kiến nghị:
-Với đặc trưng riêng của môn Ngữ văn là một môn học mang tính công cụ,
điều quan trọng cần phải quan tâm là kĩ năng diễn đạt. Hiểu rành rọt là cơ sở để nói
tốt, viết tốt. Tuy nhiên, như vậy chưa hẳn đã đem lại hiệu quả cuối cùng, mà cần tập
cho HS kĩ năng thực hành viết với những yêu cầu của nó. Rõ ràng, khi tạo lập một
văn bản hành chính hoặc bày tỏ tư tưởng, quan điểm trước một vấn đề xã hội hay
văn học, HS không thể trình bày cho người đọc một sơ đồ biểu diễn những ý với
nhiều màu sắc hay hình ảnh được. Vậy là việc “diễn” những từ ngữ ngắn gọn ra
thành những khái niệm, câu hay đoạn văn hoàn chỉnh là một thử thách đối với HS.
Giáo viên Ngữ văn nghĩ gì khi bài viết học sinh nộp là một sơ đồ? Điều đó có nghĩa
là GV vận dụng SĐTD như là một phương pháp bộ phận và sẽ hỗ trợ khi thấy cần
thiết, không lạm dụng.
-Hằng năm, Nhà trường, Phòng GD&ĐT phải chọn những sáng kiến kinh
nghiệm hay đề tài khoa học có chất lượng để triển khai cụ thể, vừa đem lại giá trị
hiệu dụng vừa phát huy những kinh nghiệm hoặc kết quả học tập mà giáo viên đã
tâm huyết đã miệt mài tìm tòi xây dựng. Tạo điều kiện để những đồng nghiệp học
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
4.
Sử dụng trí nhớ của bạn (Nhiều tác giả)
Sáng kiến kinh nghiệm:
Nhiều website trên Internet
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn
Sáng kiến kinh nghiệm:
Vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Ngữ văn