Đánh Giá Hiện Trạng Quản Lý Chất Thải Tại Bệnh Viện Đa Khoa Đông Anh, Hà Nội - Pdf 42

MỤC LỤC

MỤC LỤC............................................................................................................................................i
DANH MỤC BẢNG.............................................................................................................................iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ.........................................................................................................v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................................................vi
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................................................1
2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài......................................................................................................2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.......................................................................................................3
1.1.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế..........................................................................................3
1.1.2. Phân loại chất thải y tế............................................................................................................4
1.1.3. Quản lý chất thải y tế...............................................................................................................5
1.2. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam............................................................................8
1.2.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế..........................................................................................9
1.2.2. Thành phần và phân loại chất thải y tế..................................................................................12
1.2.3. Quản lý chất thải y tế tại Việt Nam........................................................................................13
1.2.4. Các biện pháp xử lý chất thải rắn y tế và nước thải bệnh viện hiện nay................................18
1.3. Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường và con người......................................................21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................25
2.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................................................25
2.2. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................................................25
2.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................................................25
2.3.1. Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.................25
2.3.2. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế và nước thải tại Bệnh viện........................................25
2.3.3. Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế và nước thải tại Bệnh viện............................25
2.3.4. Đánh giá nhận thức và mức độ quan tâm của cán bộ nhân viên trong bệnh viện, bệnh nhân
và người nhà bệnh nhân về công tác quản lý chất thải rắn y tế và nước thải bệnh viện.................25

i


TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................................66
PHỤ LỤC..........................................................................................................................................68

ii


iii


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Lượng chất thải thay đổi theo mức thu nhập của từng nước............................................3
Bảng 1.2: Chất thải y tế theo giường bệnh trên Thế giới...................................................................4
Bảng 1.3: Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế...................................10
Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện..................................................11
Bảng 1.5: Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện ở Việt Nam............................................................20
Bảng 3.1: Tình hình công tác khám chữa bệnh năm 2015 và so sánh với năm 2014.......................30
Bảng 3.2: Thành phần các loại chất thải rắn y tế của bệnh viện trong năm 2015............................32
Bảng 3.3: Khối lượng các loại chất thải rắn y tế phát sinh theo các tháng năm 2015......................35
Bảng 3.4: Thống kê lượng nước ước tính sử dụng hàng ngày của bệnh viện..................................45
Bảng 3.5: Chất lượng nước thải đầu vào.........................................................................................48
(Quan trắc vào tháng 6 năm 2014)..................................................................................................48
Bảng 3.6: Chất lượng nước thải đầu ra............................................................................................49
(Quan trắc vào tháng 6 năm 2014)..................................................................................................49
Bảng 3.7: Đánh giá công tác thu gom, phân loại chất thải rắn y tế..................................................53
Bảng 3.8: Đánh giá công tác vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn của bệnh viện................................56
Bảng 3.9: Kết quả khảo sát các biện pháp xử lý và tiêu hủy CTRYT tại bệnh viện............................59

iv




BOD5

Nhu cầu oxy sinh học

BN

Bệnh nhân

CTNH

Chất thải nguy hại

CTR

Chất thải rắn

CTRYT

Chất thải rắn y tế

CTRYTNH

Chất thải rắn y tế nguy hại

COD

Nhu cầu oxy hóa học

QCVN

gom, quản lý, xử lý tốt sẽ trở thành gánh nặng đối với sức khỏe con người và
môi trường.
Tuy nhiên công tác quản lý và xử lý chất thải rắn y tế và nước thải của
bệnh viện hiện nay còn kém hiệu quả. Hầu hết các bệnh viện chưa có biện
pháp quản lý chất thải y tế hữu hiệu và an toàn. Thực tế, gần như 100% bệnh
viện thực hiện phân loại chất thải từ nguồn, nhưng khó có thể đảm bảo thực
hiện tốt hoàn toàn do điều kiện nhân lực của từng bệnh viện rất khác nhau.
Bệnh viện Đa khoa Đông Anh thuộc Thị trấn Đông Anh, huyện Đông
Anh, thành phố Hà Nội, là bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y tế Hà Nội. Bệnh
viện được thành lập vào ngày 15-10-1964 và hiện đang tiến hành xây dựng
khối nhà khám, điều trị Nội – Ngoại trú. Trong tương lai tới bệnh viện Đa

1


khoa Đông Anh sẽ có 500 giường bệnh và có khả năng tiếp nhận gần 1000
bệnh nhân đến khám và điều trị mỗi ngày. Cũng chính vì vậy vấn đề về quản
lý chất thải bệnh viện cần được quan tâm nhiều hơn. Xuất phát từ thực trạng
trên em xin tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý chất
thải tại bệnh viện Đa khoa Đông Anh, thành phố Hà Nội”.
2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải tại bệnh viện Đa khoa Đông
Anh, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất biện pháp quản lý chất thải có tính khả thi phù hợp với điều
kiện của bệnh viện.

2


Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

(Nguồn: Môi trường bệnh viện dưới góc độ quản lý an toàn chất thải, 2004)
Qua bảng trên ta thấy các nước có thu nhập càng cao thì yêu cầu chất
lượng dịch vụ y tế cũng như chăm sóc sức khỏe bệnh nhân càng cao, vì vậy
lượng chất thải y tế trung bình trên giường bệnh của các nước này cũng cao
hơn các nước có thu nhập trung bình và thu nhập thấp. Mặt khác, khi có vấn
đề về sức khỏe người dân lập tức đến các cơ sở y tế để kiểm tra chăm sóc sức
khỏe toàn diện, nhưng ở các nước có mức thu nhập trung bình và thu nhập
thấp thì tỷ lệ bệnh nhân điều trị ngoại trú là khá cao, do cơ sở vật chất của các
bệnh viện của những nước này chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân.

3


Một số nước trên Thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam: có bệnh
viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì có hệ số phát thải chất
thải rắn y tế dao động khá lớn về tổng lượng chất thải cũng như tỷ lệ chất thải
nguy hại, cụ thể:
Bảng 1.2: Chất thải y tế theo giường bệnh trên Thế giới
Tuyến bệnh viện

Tổng lượng CTYT

CTYT nguy hại

(kg/GB/ngày)
(kg/GB/ngày)
Bệnh viện trung ương
4,1 – 8,7
0,4 – 1,6
Bệnh viện tỉnh

kể các loại thuốc độc đối với tế bào); Chất thải nguy hiểm khác (chất thải
phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) (Bộ Y tế,
2006).
Dù có đôi chút sai khác để phù hợp với điều kiện từng quốc gia, nhưng
nhìn chung cách phân loại chất thải ở bệnh viện là tương đối nhất quán theo
quy định của WHO:
Ở Mỹ, chất thải ở bệnh viện được phân loại thành 8 loại sau (Theo
Turnberg, W.L, 1996):
- Chất thải cách ly: hay còn gọi là chất thải truyền nhiễm mạnh bao
gồm chất thải bản chất sinh học, các phế liệu bị nhiễm máu, các chất bài tiết,
dịch rỉ, các chất thải bệnh viện bị cách ly;
- Chất thải động vật, xác động vật, các phần cơ thể của động vật kiểm
nghiệm;
- Các vật sắc nhọn thải bỏ: kim tiêm, lưỡi dao, dụng cụ mổ, dụng cụ
chăm sóc bệnh nhân điều trị và nghiên cứu khoa học, đồ thủy tinh vỡ có tiếp
xúc với các tác nhân gây nhiễm trùng;
- Chất thải có chứa máu: máu lỏng, các đồ thấm máu, các dụng cụ chứa
máu;
- Các vật sắc nhọn không sử dụng: kim tiêm, bơm tiêm, lưỡi dao bị thải
bỏ;
- Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm
sinh học liên quan;
- Các chất thải gây độc tế bào
- Chất thải phóng xạ;
1.1.3. Quản lý chất thải y tế

5


1.1.3.1. Tình hình công tác quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới


b) Tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên Thế giới
Ngày nay trên Thế giới, thiêu đốt và khử khuẩn là hai phương pháp
được áp dụng phổ biến nhất. Tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể (kinh phí,
công nghệ, quỹ đất, quan điểm và các quy định về môi trường), mỗi quốc gia
có thể lựa chọn cho mình biện pháp xử lý phù hợp riêng. (WHO, 2006)
- Ở Malaysia, phương pháp thiêu đốt trong các nhà máy xử lý chất thải
tập trung được lựa chọn và là mô hình chủ yếu. Tất cả các chất thải y tế nguy
hại được thu gom và xử lý ở 3 nhà máy thiêu đốt rác tập trung (L.F.Diaz and
G.M.Savege, 2003).
- Ở Pháp, sau khi ban hành hướng dẫn về phát thải không khí của cộng
đồng chung Châu Âu (1992), một số lò đốt chất thải y tế của bệnh viện đã bị
đóng cửa (WHO, 1998). Ngày nay, CTRYTNH tại Pháp được xử lý theo 3
mô hình: phối hợp giữa thiêu đốt tại chỗ và thiêu đốt bên ngoài bệnh viện, đốt
chung với chất thải sinh hoạt và khử khuẩn. Mỗi mô hình được áp dụng phù
hợp với điều kiện của từng địa phương (WHO, 2005).
- Tại Hồng Kông, chất thải lây nhiễm được xử lý bằng phương pháp
thiêu đốt, chất thải còn lại không lây nhiễm được chôn lấp. Chỉ có 4 bệnh viện
công có cơ sở thiêu đốt chất thải lây nhiễm.
1.1.3.2. Tình hình công tác quản lý nước thải y tế trên Thế giới
Tổ chức y tế Thế giới (WHO) đã hướng dẫn cho nhiều bệnh viện trên
Thế giới xử lý nước thải bệnh viện với hiệu suất cao hơn khả năng xử lý của
các nhà máy xử lý nước thải của thành phố. WHO đã kêu gọi các bệnh viện
thiết lập một cơ sở xử lý nước thải riêng biệt từ khâu phát sinh, xử lý và giám
sát toàn bộ hệ thống. Nước thải bệnh viện sau khi phát sinh được thu gom xử
lý về mặt hóa chất và các yêu cầu an toàn sinh học.
Tại Đức, công nghệ xử lý nước thải được xem là hiệu quả nhất là xử lý
nước thải bệnh viện bằng công nghệ MBR (phản ứng màng sinh học). Công
nghệ MBR có thể xử lý 95% các thành phần ô nhiễm trong nước thải.



8


cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải
này không được tiêu hủy.
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu
hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
1.2.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
1.2.1.1. Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục khám chữa bệnh - Bộ Y tế
và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm
2009-2010, tổng lượng chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng 100 - 140
tấn/ngày, trong đó có 16 - 30 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại. Lượng
chất thải rắn trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó chất thải rắn y tế
nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày. (Nguồn: Báo cáo môi
trường Quốc gia 2011).
Chất thải rắn y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa
phương xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và
tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y
tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ
y tế.

9


Bảng 1.3: Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế
Loại CTR
Chất thải sinh hoạt

thuộc Bộ Y tế, tổng lượng CTNH y tế cần được xử lý trong một ngày là 5.122
kg, chiếm 16,2% tổng lượng chất thải rắn y tế. Trong đó, lượng CTNH y tế
tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/giường/ngày. Chỉ có 4 bệnh viện
có chất thải phóng xạ là bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Đa khoa trung ương
Huế, bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên và bệnh viện K. Các
phương pháp xử lý đặc biệt đối với CTNH y tế đắt hơn rất nhiều so với chất
thải rắn sinh hoạt, do vậy đòi hỏi việc phân loại chất thải phải đạt hiệu quả và
chính xác. (Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2011).
Lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh
viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ
thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được
sử dụng.

10


Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Khoa

Tổng lượng chất thải phát

Tổng lượng CTYT nguy hại

sinh (kg/giường/ngày)
BV
BV
BV Trung

(kg/giường/ngày)
BV

Khoa nội
Khoa nhi
Khoa ngoại
Khoa sản
Khoa

0,64
0,50
1,01
0,82
0,66

0,47
0,41
0,87
0,95
0,68

0,45
0,45
0,73
0,74
0,34

0,04
0,04
0,26
0,21
0,12


bình
0,14

lâm sàng
Trung bình 0,72 0,70
0,56
0,14 0,13
0,09
(Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2009)
1.2.1.2. Thực trạng phát sinh nước thải y tế tại Việt Nam
Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường Y tế - Bộ Y tế, tính đến
tháng 6 năm 2011, lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình hiện có 758 cơ sở y
tế tuyến Trung ương, tỉnh và huyện. Lượng nước thải y tế phát sinh trung bình
tại các cơ sở y tế tuyến trung ương là 5500 m 3/ngày đêm, tuyến tỉnh là 17.000
m3/ngày đêm, và tuyến huyện là 13.000 m3/ngày đêm.
Nhiều tài tài liệu nghiên cứu thống kê về nước thải bệnh viện tại các
nước đang phát triển có điều kiện gần giống Việt Nam cho thấy lưu lượng
nước thải của bệnh viện đa khoa N giường ước tính khoảng (400 - 690)*N
lít/ngày đêm. Như vậy đối với các bệnh viện trung tâm y tế của Việt Nam có
quy mô phổ biến là 200-500 giường thì lưu lượng nước thải phát sinh hàng
ngày khoảng 100-400 m3/ngày đêm.

11


Số liệu khảo sát thực tế, phân tích chất lượng nước tại nhiều bệnh viện
Đa khoa trên phạm vi cả nước cho thấy tác nhân gây ô nhiễm chính của nước
thải bệnh viện là các chất hữu cơ (BOD5 = 120-250 mg/l), các chất lơ lửng
(TSS = 150-200 mg/l) và các vi trùng gây bệnh (Coliform = 10 5-108
MNP/100ml). Hàm lượng các chất ô nhiễm này trong nước thải bệnh viện có

dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng
hóa trị liệu.
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy
ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì
(từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu trong chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các
khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
*Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng, và khí phát
sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
*Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí
dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
*Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,
hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh
cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương
kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học
nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu
đóng gói, thùng cattong, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
1.2.3. Quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
1.2.3.1. Quản lý chất thải rắn y tế
a) Tình hình công tác phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế tại
Việt Nam

13


Công tác thu gom, lưu trữ chất thải rắn y tế nói chung đã được quan


Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa
đạt tiêu chuẩn. Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng
này, do vậy mua sắm phương tiện thu gom chất thải rắn đúng quy chuẩn của
các bệnh viện gặp khó khăn. Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế
của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố
Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay,
các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác. Một số khu vực lưu giữ chất thải rắn
trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị
điều hòa và hệ thống thông gió theo Quy định. Nhìn chung các phương tiện
vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng. Hoạt động
vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn
lấp hầu hết do công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang bị
đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn (Báo cáo môi trường Quốc
gia năm 2011).
b) Thực trạng công tác xử lý chất thải rắn tại Việt Nam
Đây là vấn đề còn gặp nhiều khó khăn, bất cập cả về quản lý và hành
chính. Các cơ sở xử lý chất thải hiện có (khoảng gần 500 lò đốt và một số
thiết bị xử lý khác) đã xử lý cho khoảng hơn 70% lượng chất thải rắn y tế
nguy hại. Với công suất hiện có, nếu xử lý tốt và có kế hoạch xử lý tập trung
và theo cụm bệnh viện, số cơ sở trên có thể xử lý được số lượng nhiều hơn
hiện tại. Để giải quyết được vấn đề này, các tỉnh cần xây dựng kế hoạch tổng
thể và có phương án, cơ chế cụ thể. (Bộ Y tế, 2014)
Trong số các bệnh viện ở nước ta hiện nay có tới 815 bệnh viện không
có hệ thống xử lý chất thải hoặc có nhưng không hoạt động, hoặc hoạt động
không thường xuyên, hoạt động quá tải. Trong hầu hết các bệnh viện, rác thải
đến nay vẫn chưa được xử lý, kể cả các vật phẩm, bệnh phẩm độc hại. Điều
này thực sự nguy hiểm cho sức khoẻ cộng đồng. Chất thải các bệnh viện chứa
rất nhiều mầm bệnh nguy hiểm như virus HIV, viêm gan A, B, C; vi khuẩn



16


+ Thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14-10-2008 về “Hướng dẫn tổ
chức thực hiện công tác Kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa
bệnh” của Bộ Y tế
Các tiêu chuẩn Việt Nam liên quan tới quản lý chất thải y tế
+ TCVN 7382-2004: Chất lượng nước - Nước thải bệnh viện - Tiêu
chuẩn thải
+ QCVN 02:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò
đốt chất thải rắn y tế
+ QCVN 28:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải
y tế
b) Tình hình xử lý nước thải y tế ở Việt Nam
Theo kết quả điều tra tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh (2003): cả 6 bệnh
viện đều có hệ thống cống thoát nước thải nhưng chất lượng cống khác nhau,
có bệnh viện hệ thống cống nổi nhưng không có nắp đậy, nước thải bệnh viện
không được xử lý (bệnh viện Yên Bái), hoặc xử lý một phần (bệnh viện
Quảng Nam, Cần Thơ), hoặc đã xử lý toàn bộ (bệnh viện Phú Thọ, Quảng
Ngãi, Đồng Tháp) nhưng tất cả đều đổ nước thải ra cống thoát nước chung
(Đinh Hữu Dung, Nguyễn Thị Thu, Đào Ngọc Phong, Vũ Thị Vựng và cộng
sự, 2003).
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện có hệ
thống xử lý nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến
huyện là 30% và bệnh viện tư nhân là 85%. Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ
thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có khoảng 30% trong số này đạt tiêu
chuẩn cho phép (Bộ Y tế, 2009).
Số bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải lỏng được đầu tư trong vài
năm qua đã tăng lên đáng kể. Bộ Y tế đang chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn việc

bệnh viện có lò đốt, ở tuyến Trung ương có 5/5 hoạt động thường xuyên và có
bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tỉnh là 79/106 lò. Thiết kế cơ

18


bản của các lò đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi
trường, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý.
+ Thiêu đốt CTYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: Nghiên cứu 6
bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác bằng
lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công
và tuyến huyện là 97/201 lò đốt. Tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại
là lò thủ công.
+ Chôn lấp chất thải rắn y tế: Theo báo cáo của Bộ y tế (2009), đến
năm 2006, cả nước vẫn còn 26,7% bệnh viện đang thực hiện chôn lấp CTYT
hoặc đốt thủ công ngoài trời, chủ yếu tập trung ở câc bệnh viện tuyến huyện
và một số bệnh viện tuyến tỉnh.
1.2.4.2. Biện pháp xử lý nước thải bệnh viện
Công nghệ bùn hoạt tính, bể lọc sinh học, tiếp xúc sinh học, màng sinh
học (MBR), bể phản ứng theo mẻ (SBR) là công nghệ phổ biến cho xử lý
nước thải bệnh viện tại Việt Nam.
Các công nghệ xử lý nước thải bệnh viện tại Việt Nam được thể hiện
trong bảng 1.5:

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status