Đánh giá công tác quản lý chất thải tại bệnh viện quân y 103, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***

VŨ THỊ HOA
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103, QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐỖ NGUYÊN HẢI

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
+ Ban giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt Nam, khoa Môi Trường, cùng
các Thầy Cô giáo đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian tôi
tham gia khóa học của Trường.
+ PGS.TS. Đỗ Nguyên Hải đã hết lòng quan tâm, trực tiếp hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
+ Các cán bộ của Khoa Chống nhiễm khuẩn bệnh viện Quân y 103 nói riền
và bệnh viện Quân y 103 nói chung.
Xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình đã giúp đỡ động viên, đóng góp ý kiến trong
suốt quá trình học tập .

TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Thị Hoa Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

3.1. Khái quát về hoạt động của bệnh viện Quân Y 103 27
3.1.1. Lịch sử, vị trí địa lí, chức năng của bệnh viện
27 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

3.1.2. Tổ chức biên chế và quy mô điều trị 29
3.2. Thực trạng phát sinh và quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Quân Y 103 31
3.2.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế tại bệnh viện Quân Y 103 31
3.2.2. Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Quân Y 103 ii
3.3. Đánh giá công tác quản lý chất thải của bệnh viện viii
3.3.1. Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn của bệnh viện viii
3.3.2. Đánh giá công tác quản lý nước thải tại bệnh viện Quân y 103
xv
3.4. Đề xuất giải pháp quản lý chất y tế tại bệnh viện Quân Y 103 xvii
3.4.1. Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Quân Y 103 xvii
3.4.2. Đề xuất giải pháp quản lý nước thải bệnh viện xviii
KẾT LUẬN xx
1. Kết luận xx
2. Kiến nghị xxi
TÀI LIỆU THAM KHẢO xxii
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

STT TÊN BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ TRANG
Sơ đồ 1: Sơ đồ bệnh viện 28
Biểu đồ 1: Tổng lượng chất thải rắn trung bình phát sinh tại bệnh viện Quân Y
103 qua các năm 31
Biểu đồ 2: Lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện Quân Y 103 năm
2013-2014 32
Sơ đồ 2: Sơ đồ phân bổ nhân lực trong quy trình quản lý chất thải của bệnh viện ii
Sơ đồ 3: Sơ quản lý chất thải rắn tại bệnh viện Quân Y 103 iii Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay nền kinh tế của Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh
mẽ. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, hạ tầng dịch vụ y tế được nâng lên, số
giường bệnh gia tăng, sự thay đổi trong việc thực hành các kỹ thuật y tế… đã kéo
theo hệ quả tất yếu là lượng chất thải y tế gia tăng nhanh chóng.
Theo số liệu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) và Viện Kiến
trúc, Quy hoạch đô thị nông thôn (Bộ Xây dựng), mỗi ngày, các cơ sở y tế thải ra hơn
350 tấn chất thải rắn, trong đó 40,5 tấn là chất thải rắn nguy hại phải được xử lý bằng
những biện pháp phù hợp. Theo tính toán, con số 350 tấn chất thải rắn và 150 mét khối
chất thải lỏng phát sinh từ các cơ sở y tế hiện nay sẽ tăng lên 600 tấn và 300 mét khối
mỗi ngày vào năm 2015. Chất thải y tế gia tăng nếu không được thu gom, quản lý, xử lý
tốt sẽ trở thành gánh nặng đối với sức khỏe con người và môi trường (Báo cáo môi
trường Quốc gia năm 2011).

Tuy nhiên, công tác quản lý và xử lý chất thải rắn và nước thải y tế của các
bệnh viện hiện nay còn kém hiệu quả. Hầu hết các bệnh viện chưa có biện pháp
quản lý chất thải y tế hữu hiệu và an toàn (Từ Hải Bằng, 2008).
Bệnh viện Quân Y 103 là bệnh viện trực thuộc Bộ quốc phòng. Ngoài nhiệm
vụ chính là khám và điều trị cho quân nhân, bệnh viện còn thu dung, điều trị một số
lượng lớn bệnh nhân là người dân. Bệnh viện luôn phải hoạt động trong tình trạng
quá công suất từ 150-200%. Do vậy lượng chất thải và nước thải phát thải từ bệnh
viện rất lớn. Bệnh viện nằm ở khu vực đông dân cư, cho nên việc quản lý và xử lý
triệt để rác thải và nước thải là một nhiệm vụ rất quan trọng nhằm hạn chế sự ô
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu chất thải rắn y tế
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu chất thải rắn y tế trên thế giới
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về chất thải rắn y tế
Theo định nghĩa của Ngân Hàng Thế Giới, CTYT được xác định là chất thải
phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét
nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. CTYT nguy hại (CTYTNH) được xác
định là chất thải có chứa một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài
tiết, các bộ phận, cơ quan của cơ thể người và động vật, bơm kim tiêm và các vật
sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ được xử dụng trong y tế.
Những chất này không được xử lý đúng cách sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức
khỏe con người (World Bank, 1993).

- Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và
chăm sóc.
Khối lượng chất thải rắn y tế được ước lượng trên cơ sở số giường bệnh và
hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thay đổi theo mức thu nhập, thay đổi
theo loại bệnh viện và trong một bệnh viện mức phát thải khác nhau theo các khoa
chuyên môn cụ thể như sau (World Bank, 2004):
- Nước có thu nhập cao:
+ Chất thải y tế nói chung: 1,2 – 12 kg/GB/ngày
+ Chất thải y tế nguy hại: 0,4 – 5,5 kg/GB/ngày
- Nước có thu nhập trung bình:
+ Chất thải y tế nói chung: 0,8 - 6 kg/GB/ngày
+ Chất thải y tế nguy hại: 0,3 – 0,4 kg/GB/ngày
- Nước có thu nhập thấp:
+ Chất thải y tế nói chung: 0,5 - 6 kg/GB/ngày
+ Chất thải y tế nguy hại: 0,3 – 0,4 kg/GB/ngày
- Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện:
+ Bệnh viện đại học y dược: 4,1 – 8,7 kg/GB/ngày
+ Khoa điều trị: 2,1 – 4,2 kg/GB/ngày
+ Khoa hồi sức cấp cứu: 0,5 – 1,8 kg/GB/ngày
+ Trung tâm y tế: 0,2 kg/GB/ngày
- Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng bệnh viện:
+ Điều dưỡng y tế: 1,5 kg/GB/ngày Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

+ Khoa điều trị: 1,5 – 3 kg/GB/ngày
+ Khoa hồi sức cấp cứu: 3 – 5 kg/GB/ngày
+ Trung tâm y tế: 0,2 kg/GB/ngày
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

Ưu điểm của hệ thống:
Hệ thống hút chân không tự động cho phép hạn chế một cách tối đa lượng xe
ra vào lấy rác ở các khu trung tâm thành phố và các bệnh viện là nơi tập trung đông
người, điều kiện đất đai chật hẹp, dễ gây bụi, tiếng ồn. Nhờ đó, có thể làm giảm ô
nhiễm môi trường và ách tắc giao thông.
Hạn chế một cách tối đa sự tiếp xúc của con người với CTYT.
Cho tới nay, trên thế giới đã có 500 hệ thống tương tự như vậy, như hệ thống
ở Washington (Mỹ,1997) (WHO, 2004), Tokyo (Nhật Bản, 1973), Gothenburg
(thụy Điển, 1985), Hồng Kông (1986) và Singapore (2003) (Annual Publication of
RVF, 1998).
Nhược điểm của hệ thống:
Hệ thống này đòi hỏi phải có kinh phí đầu tư lớn, công tác vận hành và duy
trì đòi hỏi phải có công nhân trình độ tay nghề cao. Do đó, hệ thống này thường
được áp dụng ở những nước có tiềm lực kinh tế mạnh.
b) Tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Phạm vi ứng dụng công nghệ xử lý CTYT là rất rộng. Chính sách quốc gia
liên quan đến chiến lược về kỹ thuật khác nhau giữa các nước, cả về công nghệ xử
lý và tập trung hóa các đơn vị xử lý. Ngày nay, trên thế giới, thiêu đốt và khử khuẩn
là hai phương pháp được áp dụng phổ biến nhất. Tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể
(kinh phí, công nghệ, quỹ đất quan điểm và các quy định về môi trường), mỗi quốc
gia có thể lựa chọn cho mình biện pháp xử lý phù hợp riêng (WHO, 2006).
- Ngược lại, ở Maylaisia, phương pháp thiêu đốt trong các nhà máy cử lý
chất thải tập trung được lựa chọn và là mô hình chủ yếu của mỗi quốc gia. Tất cả
các chất thải y tế nguy hại được thu gom và xử lý ở 3 nhà máy thiêu đốt rác tập
trung (L.F. Diaz and G.M.Savege, 2003).

xử lý được kí hợp đồng
1 Đốt 360
2 Bê tông hoá 7
3 Khử trùng bằng hơi nước ở áp suất cao

3
4 Khử trùng khô bằng nhiệt 6
5 Các phương pháp khác 6
6 Tổng số 382
Nguồn: News on Medical Waste (August 2000)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

Các công ty Môi trường ở Nhật Bản xử lý chất thải y tế chủ yếu là bằng phương
pháp đốt (360 công ty chiếm 94,24%), xử lý chất thải y tế bằng phương pháp bê
tông hoá là 7 công ty chiếm 1,83%, phương pháp xử lý không được ứng dụng nhiều
ở Nhật Bản là phương phương pháp khử trùng bằng hơi nước ở áp suất cao (3 công
ty chiếm 0,78%) còn các phương pháp xử lý khử trùng khô bằng nhiệt 6 công ty và
các phương pháp khác là 6 công ty đều chiếm1,57%. Xử lý chất thải y tế bằng
phương pháp đốt không chỉ được ứng dụng ở Nhật Bản mà hầu hết các nước trên
thế giới đều sử dụng phương pháp này rộng rãi.
Công suất của lò đốt rác dao động từ 0,08 đến 200 tấn/ngày. Phần lớn các lò đốt
có công suất thấp hơn 5 tấn/ngày. Quy định yêu cầu chủ của các lò đốt có công suất
200kg/giờ hoặc cao hơn phải có giấy phép xây dựng.
Lệ phí để quản lý và xử lý chất thải y tế tại Nhật Bản rất khác nhau tuỳ thuộc vào
các công ty có trách nhiệm xử lý. Giá thành xử lý của các công ty tư nhân từ 50 – 60

được thi hành sẽ làm giá thành của việc xử lý chất thải y tế bằng phương pháp đốt
tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba. Do vậy, nhiều bệnh viện đã lựa chọn những phương
pháp khác để xử lý rác thải của mình.
California, một trong số những bang của Mỹ có những quy định nghiêm khắc
về môi trường đã quy định cuối năm 1995 phải giảm 25% lượng rác thải xử lý bằng
phương pháp chôn lấp và đến năm 2000 con số này phải là 50%. Những cơ sở
không tuân thủ sẽ bị áp dụng các biện pháp phạt tài chính. Kết quả là các bệnh viện
của California nằm trong số những bệnh viện đầu tiên của Mỹ sử dụng những
phương pháp mới trong việc xử lý chất thải.
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu chất thải rắn y tế ở Việt Nam
1.1.2.1. Khái niệm về chất thải rắn y tế
Theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam (Bộ Y tế, 2006):
- Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế
bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường:
+ Chất thải rắn y tế thông thường là chất thải rắn y tế không chứa các chất và
hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất
khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người.
+ Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa các yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy,
dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không
được tiêu hủy an toàn.
- Quản lý chất thải rắn y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

rác thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
- Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải


phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
+ Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người,
rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
- Chất thải hóa học nguy hại:
+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
+ Chất thải hóa học nguy hại sử dụng trong y tế.
+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc
gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều tị bằng hóa trị liệu.
+ Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị
vỡ, chất thải từ các hoạt động nha khoa). Cadimi (từ pin, acquy), chì (từ các tấm gỗ
bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chuẩn đoán
hình ảnh, xạ trị).
- Chất thải phóng xạ gồm:
Các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, điều
trị, nghiên cứu và sản xuất.
- Bình chứa áp suất:
Bao gồm các bình chứa khí nén có áp xuất như bình đựng oxy, CO
2
, bình gas, bình
khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần…Đa số các bình chứa khí nén thường dễ
nổ, dễ cháy, nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng cách.
- Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ bao gồm:
+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng cách ly).
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy
tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó gẫy xương kín. Những chất
thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu

các Bộ, ngành có liên quan, được sự trợ giúp về kinh phí và kĩ thuật của Tổ chức y tế thế
giới, Bộ y tế đã ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế theo Quyết định số
2575/199/QĐ-BYT ngày 27/8/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế và đến tháng 12/2007 quy
chế này được sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế của công tác quản lý chất thải tại
các cơ sở y tế.
1.1.2.4. Tình hình phát thải chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện
Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

CTR y tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTR
y tế nguy hại. Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy
hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày.CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở
hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y
tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế;
dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế (Báo cáo
môi trường Quốc Gia năm 2011).
Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm 2009, tổng
lượng CTR y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ngày.
Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72
kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và
bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường/ngày. Lượng CTR y tế phát sinh
trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên
khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật
tư tiêu hao được sử dụng (Báo cáo môi trường Quốc Gia năm 2011).
Lượng CTR
y tế(tấn/năm)
Tỉnh

đô
thị
loại I
Đắk Lắk 276,3
Tỉnh
có đô
thị
loại
III
Bạc
Liêu
134,8
Tỉnh


đô
thị
loại
III
Quảng
Tri
272,116
Khánh
Hòa
365
Bình

108,542
Cà Mau 159,5
Kiên
Giang
642,4
Đô
thị
loại
đặc
biệt
Hà Nội ~5000
Đồng Nai 430,8 Long An

369
Tp. Hồ
Chí
Minh
2800(**)
Phú Thọ 1 126,54
Quảng
Nam
602,25
Ghi chú: (*) số liệu năm 2006; (**) số liệu năm 2007
Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường địa phương 2006-2010, Sở TN&MT các
địa phương, 2010 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15


Khoa nhi 0.50 0.41 0.45 0.04 0.05 0.02
Khoa ngoại 1.01 0.87 0.73 0.26 0.21 0.17
Khoa sản 0.82 0.95 0.74 0.21 0.22 0.17
Khoa mắt/TMH 0.66 0.68 0.34 0.12 0.10 0.08
Khoa cận lâm sang 0.11 0.10 0.08 0.03 0.03 0.03
Trung bình 0.72 0.7 0.56 0.14 0.13 0.09
Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2009
1.1.2.5. Tình hình công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
a) Tình hình công tác phân loại, thu gom, lưu giữ chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp
từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh
viện khá cao. Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự
quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ
sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận
chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở
khám chữa bệnh đó. Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y
tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc
biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường,
chất thải y tế nguy hại ). Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử
dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái
che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người (Báo cáo
môi trường Quốc gia năm 2011). Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16

Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử
dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn. Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận
xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số

Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt
tiêu chuẩn. Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do
vậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó
khăn. Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là
Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh
viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác.
Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên
ngoài được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió theo Quy định. Nhìn chung các
phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng.
Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý,
chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết
bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn (Báo cáo môi trường Quốc gia
năm 2011).
Bảng 1.6: Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế
tại một số thành phố
Loại đô
thị
Thành
phố
Số
lượng
đơn vị
trả lời
phiếu
điều tra
Dụng cụ thu gom
tại chỗ
Lưu trữ chất thải
Xe
Tay

Huế 23 1 14 0 1 5 5 12
Tổng 172 74 75 39 66 45 31 30
Nguồn: Nghiên cứu Quản lý môi trường đô thị tại Việt Nam - Tập 6. Nghiên cứu về
quản lý CTR ở Việt Nam, JICA, tháng 5 - 2011.

Trích đoạn Phương phỏp xử lý số liệu 26\
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status