SỞ Y TẾ HÀ NỘI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH
………***………
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG QUANH RĂNG
VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ Ở PHỤ NỮ CÓ THAI
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐÌNH NĂM 2015
Người thực hiện: Nguyễn Tuấn Hợp
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội ở nước ta trong những năm gần
đây, việc chăm sóc sức khỏe nói chung và sức khỏe răng miệng nói riêng là vấn
đề đang ngày càng được mọi người quan tâm. Trong những vấn đề răng miệng
thường được quan tâm thì bệnh vùng quanh răng đã và đang là một trong những
bệnh phổ biến ở Việt Nam cũng nhiều nước trên thế giới. Những tình trạng cần
quan tâm, được coi là có nhu cầu điều trị có tỉ lệ khá cao.
Gần đây theo những nghiên cứu về dịch tễ học của “Trung tâm quốc
gia về thống kê sức khoẻ” (National Centre for Health Statistics-Mỹ), và
những điều tra của “Viện quốc gia nghiên cứu nha khoa” (National Institute
of Dental Research-Mỹ) đáp ứng của mỗi người đối với bệnh quanh răng là
khác nhau. Tính mẫn cảm của mỗi người đối với bệnh QR dường như thay
đổi tuỳ theo những yếu tố nguy cơ nào đang hoạt động.
Vùng quanh răng bao gồm 4 thành phần: lợi, dây chằng quanh răng, xương
răng và xương ổ răng. Xương ổ răng gồm có mào xương ổ và lá sàng. Lá sàng là
phần liên tục với mào xương ổ, nó tạo nên vách xương mỏng lót huyệt ổ răng.
Hình 1.1. Minh họa cấu trúc giải phẫu vùng quanh răng
1.1. Lợi
Lợi là vùng đặc biệt của niêm mạc miệng, được giới hạn bởi bờ lợi và
phía cuống răng bởi niêm mạc miệng, ở phía ngoài của cả hai hàm và phía
trong của hàm dưới. Ở phía ngoài cả hai hàm và phía trong hàm dưới lợi liên
tục với niêm mạc xương ổ răng ở đường ranh giới niêm mạc miệng – lợi. Ở
4
phía khẩu cái, lợi tiếp tục với niêm mạc khẩu cái cứng. Lợi được chia thành
hai phần: lợi tự do và lợi dính.
+ Lợi tự do là phần lợi không dính vào răng, ôm sát cổ răng và cùng
với cổ răng tạo nên một khe sâu khoảng 0.5 – 1 mm gọi là rãnh lợi. Lợi tự do
gồm hai phần: nhú lợi và lợi viền.
- Nhú lợi: Là lợi ở kẽ răng, che kín kẽ, có một nhú ở phía ngoài, một
nhú ở phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm.
- Lợi viền: không dính vào răng mà ôm sát cổ răng, cao khoảng 0.5 – 1
mm. Mặt trong của lợi viền là thành ngoài của rãnh lợi.
Lợi tự do tiếp nối với lợi dính tại lõm dưới lợi tự do.
+ Lợi dính là vùng lợi bám dính vào chân răng ở trên và mặt ngoài
xương ổ răng ở dưới. Mặt ngoài lợi dính cũng như mặt ngoài lợi tự do đều
được phủ bởi lớp biểu mô sừng hóa. Mặt trong của lợi dính có hai phần: phần
bám vào chân răng cao khoảng 1.5 mm được gọi là vùng bám dính và phần
bám dính vào mặt ngoài xương ổ răng.
Lợi khỏe mạnh có màu hồng, chắc với một bờ lợi mỏng hình rìa lưỡi
dao hay hình vỏ sò ôm xung quanh răng. Ở một vài chủng người, lợi có thể
dưỡng. Dây chằng quanh răng có thể coi như một màng xương của lá sàng
huyệt ổ răng. Dây chằng quanh răng hoạt động để vô hiệu lực nhai truyền vào
6
cấu trúc xương ổ răng. Độ rộng, chiều cao và chất lượng của dây chằng quanh
răng quyết định sự di chuyển của răng.
Dây chằng quanh răng cấu tạo từ các sợi cơ bản, chúng có bản chất là
các sợi collagen được sắp xếp thành từng bó nối liền xương răng và lá sàng
huyệt ổ răng. Phần tận cùng của sợi cơ bản đâm xuyên vào xương răng được
gọi là sợi Sharpey.
Tùy theo sự sắp xếp và hướng đi của các bó sợi mà có những nhóm dây
chằng quanh răng sau :
- Nhóm mào ổ răng: gồm những bó sợi đi từ mào ổ răng đến xương
răng gần cổ răng.
- Nhóm ngang: gồm những bó chạy ngang giữa xương răng và xương
ổ răng.
- Nhóm chéo: gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chạy chếch
xuống dưới và vào trong để bám vào xương răng.
- Nhóm cuống răng: chạy từ xương răng, ở cuống răng đến xương ổ răng.
- Nhóm giữa các chân răng: các sợi này có ở vùng chẽ của các răng
nhiều chân.
- Nhóm liên vách: nhóm này có thể coi như một thành phần của lợi vì
nó không có sự liên kết vào xương. Các sợi chạy từ mặt bên của răng này
sang răng bên cạnh.
7
Hình 1.3: Các bó dây chằng quanh răng
so với xương vỏ hàm trên. Ở cả hai hàm, độ dày của lớp vỏ thay đổi theo vị trí
của răng nhưng nhìn chung mặt trong dày hơn mặt ngoài. Riêng ở mặt ngoài
thì xương đặc ở mặt ngoài răng cối lớn hàm dưới dày nhất và mỏng nhất ở
mặt ngoài răng cửa hàm dưới.
+ Xương xốp: nằm giữa hai bản xương trên và giữa các lá sàng. Xương
xốp bao gồm một mạng lưới bè xương mỏng, xem giữa là các khoang tủy, chủ
yếu lấp đầy tủy mỡ. Ở vùng lồi củ xương hàm trên và góc xương hàm dưới có
thể thấy tủy tạo máu, ngay cả ở người lớn.
2. Dịch tễ học bệnh quanh răng
Bệnh quanh răng là bệnh phá hủy tổ chức vùng quanh răng như lợi, dây
chằng quanh răng, xương răng. xương ổ răng.
2.1. Trên thế giới
Bệnh răng miệng là bệnh phổ biến và có tính toàn cầu. Năm 1986 tổ
chức y tế thế giới đã xếp vào loại tai hoạ thứ 3 về bệnh tật của loài người, sau
bệnh tim mạch và ung thư.
9
Bệnh răng miệng nói chung và bệnh quanh răng nói riêng cho tới nay
vẫn rất phổ biến, có xu hướng lan rộng và tiến triển rất phức tạp. Bệnh liên
quan tới tuổi, giới, điều kiện kinh tế xã hội, vùng địa lý....
So với các châu lục trên thế giới thì các nước châu Á tỉ lệ phần trăm
người lành thấp khoảng 3% (qua kết quả điều tra ở một số nước như Nhật Bản
1984, Nepan 1984, Srilanca 1984, và Hồng Công 1984), còn ở các châu lục
khác thì khả quan hơn như châu Âu là 4.57% (thông qua kết quả điều tra tại
Hà Lan 1981, Phần Lan 1984, Hungari 1984, Bồ Đào Nha 1984, Tây Ban
Nha 1984, Italia 1985 và Hylap 1985), còn châu Úc là 11% (kết quả điều tra
của đại diện Australia 1984). Tỉ lệ này ở các nước Đông Nam Á có mức trung
bình là 6% (qua điều tra tại Thái Lan 1982, Indonesia 1984) [6].
Ở châu Á tình hình bệnh quanh răng vẫn ở mức nghiêm trọng. Theo kết
túi lợi bệnh lý ở lứa tuổi 15 -19 rất thấp (0-4%), tỉ lệ cao răng ở lứa tuổi này
rất cao (78-96%). Với kết quả này có thể xếp Việt Nam nằm trong 10% quốc
gia trên thế giới có tỉ lệ cao răng cao nhất ở thanh thiếu niên. Tỉ lệ cao răng ở
người trưởng thành Việt Nam cũng rất cao (97%-100%), xếp trong danh sách
20% quốc gia trên thế giới có tỉ lệ cao răng cao nhất ở người trưởng thành [6].
3. Bệnh căn bệnh sinh bệnh vùng quanh răng
Các bệnh viêm lợi và viêm quanh răng đều do tác nhân vi khuẩn, virus
hoặc nấm gây ra, quá trình bệnh lý là do sự tương tác giữa các tác nhân tấn
công và hệ thống miễn dịch của cơ thể. Trong các tác nhân gây bệnh thì vi
khuẩn ở mảng bám răng là căn nguyên thường gặp.
Mảng bám răng có khả năng gây bệnh trực tiếp và gián tiếp.
Tác động trực tiếp là do vi khuẩn sản sinh ra các men, nội độc tố và sản
phẩm đào thải của vi khuẩn trong quá trình sống như NH3, ure, sulfur hydric.
11
Tác động gián tiếp là do tính chất kháng nguyên của mảng bám vi
khuẩn, kháng nguyên khởi động các phản ứng kháng nguyên – kháng thể, các
chất trung gian hóa học có thể gây hiện tượng tự phá hủy tổ chức ở vùng
quanh răng.
Sự liên quan giữa hệ vi sinh ở mảng bám răng và bệnh viêm quanh
răng: so sánh tỉ lệ vi khuẩn ở mảng bám răng vùng bệnh và vùng lành thấy
khối lượng vi khuẩn ở mảng bám răng vùng viêm gấp đôi vùng lành. Vùng
viêm có lượng mảng bám răng nhiều hơn vùng lành, như vậy thì lượng vi
khuẩn ở vùng bệnh lớn hơn rất nhiều so với vùng lành. Nghiên cứu hình thái
vi khuẩn cho thấy ít cầu khuẩn, nhiều trực khuẩn di động và xoắn khuẩn ở
vùng bệnh hơn vùng lành. Nuôi cấy vi khuẩn mảng bám răng vùng lành thấy
chủ yếu là cầu và trực khuẩn Gr + (khoảng 75%), mảng bám răng ở vùng
viêm lợi thì cầu khuẩn và trực khuẩn Gr + chỉ chiếm 44%, vùng viêm quanh
răng chiếm 10 – 13%. Sự giảm tỉ lệ Gr + đồng hành với tăng tỉ lệ trực khuẩn
mảng bám kém và thói quen thở miệng làm những dấu hiệu này nặng hơn
[18]. Việc tăng lung lay răng có mối liên quan với những sự thay đổi hệ vi
khuẩn từ vi khuẩn yếm khí sang vi khuẩn kị khí [18]. Những sự thay đổi hệ vi
khuẩn này được bổ sung thêm bởi tăng phản ứng viêm trong hệ thống bám
dính cũng như sự rối loạn khoáng chất trong lá cứng, là nguyên nhân gây lung
lay răng [17].
Những thay đổi nội tiết trong suốt quá trình mang thai là một trong
những thay đổi đáng chú ý nhất. Trong suốt thời kỳ này cả progesterone và
estrogen đều tăng lên do thể vàng liên tục sản xuất ra những hormone này.
Vào cuối giai đoạn thứ 3 (3 tháng cuối), progesterone và estrogen đạt cực
đỉnh 100 và 6ng/ml (nanograms/ millilitre) trong tương bào, cao gấp 10 – 30
lần trong chu kỳ kinh. Sự mẫn cảm với những nhiễm trùng (VD: nhiễm trùng
nha chu) tăng trong suốt thời kỳ nghén sớm do sự thay đổi trong hệ thống
13
miễn dịch, [10], [11] và có thể được giải thích là do sự thay đổi hormone
quan sát thấy trong suốt thai kỳ [12], sự ức chế hoạt động tế bào T, giảm hóa
ứng động bạch cầu trung tính và thực bào, đáp ứng lympho bào bị thay đổi và
sản xuất kháng thể bị giảm [13], mẹ bị stress thường xuyên và thậm chí thiếu
hụt dinh dưỡng do nhu cầu về dinh dưỡng của cả mẹ và thai nhi đều tăng.
Những thay đổi này cũng có thể tạo nên điều kiện thuận lợi cho bệnh nha chu
tiến triển, được quan sát thấy trong suốt thai kỳ như viêm lợi thai kỳ [14] [15],
u hạt thai kỳ, viêm quanh răng. Sự tăng tổng hợp Prostaglandin E2 được quan
sát thấy khi estradiol và progesterone tập trung nhiều hơn, như trong suốt thai
kỳ, có thể góp phần làm tăng sự thay đổi bệnh lý này [10]. Mặt khác, những
tác nhân gây bệnh quanh răng cũng có thể sử dụng hormone giới tính như
progesterone hay estradiol như một nguồn cung cấp dinh dưỡng. Những loại
vi khuẩn này hầu như gia tăng trong dịch rãnh lợi của phụ nữ mang thai, tình
trạng này có tương quan rõ ràng với sự tăng nặng của viêm lợi thai kỳ [10].
nên viêm lợi, ...
5. Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng (CPITN)
A, Mục đích: Khám, phát hiện và hướng dẫn cá thể hoặc nhóm nhu cầu điều
trị quanh răng.
B, Lựa chọn răng
* Thanh niên, người lớn (>19 tuổi)
- Chia bộ răng thành 6 vùng, đánh giá tất cả các răng
+ Lục phân phía xa bắt đầu từ răng nanh.
+ Vùng lục phân còn ít nhất 2 răng hoặc hơn, còn chức năng. Khi vùng
lục phân chỉ còn một răng thì cho sang vùng răng bên cạnh. Nếu vùng lục
phân không còn răng nào thì gạch chéo X.
15
- Chỉ tính răng 8 khi nó thay thế cho chức năng răng 7.
* Trẻ em và thanh thiếu niên (7 – 19 tuổi)
- Chia thành 6 vùng lục phân
- Đánh giá mỗi vùng 1 răng, răng 6 ở phía sau, răng cửa giữa phải hàm
trên và răng cửa giữa trái hàm dưới.
- Khi răng chỉ định không còn thì lục phân đó đánh dấu chéo.
C, Cách tiến hành
* Dụng cụ: Cây đo túi lợi của Tổ chức y tế thế giới
- Đánh dấu: Đầu tròn với các khoảng 3.5; 2; 3.0 và 3.0 mm (tổng cộng
là 11.5mm)
- Đầu làm việc hình tròn, đường kính 0.5mm giúp phát hiện cao răng,
các bề mặt ráp khác và giúp đo chính xác
* Sử dụng cây đo túi lợi
- Xác định độ sâu thăm khám, chảy máu và cao răng
- Đưa nhẹ cây đo túi lợi vào túi với lực từ 15 – 20g, giữ tiếp xúc với bề
mặt răng để phát hiện cao răng dưới lợi.
1. Đối tượng nghiên cứu
Là phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Đa khoa Vân Đình - Hà Nội.
Tiêu chuẩn lựa chọn :
- Phụ nữ có thai.
- Tại Bệnh viện Đa khoa Vân Đình- Hà Nội.
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Chưa từng điều trị chỉnh nha.
Tiêu chuẩn loại trừ :
- Không khám tại Bệnh viện Đa khoa Vân Đình - Hà Nội.
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Đã hoặc đang điều trị chỉnh nha.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứ mô tả cắt ngang.
2.2. Cỡ mẫu cho tỉ lệ hiện mắc bệnh quanh răng
n= Z12−α / 2
p(1 − p )
d2
n : Cỡ mẫu của đối tượng phụ nữ mang thai
α : Mức ý nghĩa thống kê ; α =0.05 thì hệ số giới hạn tin cậy Z1- α/2 =
1.96
p : Tỉ lệ phụ nữ mang thai bị mắc bệnh viêm quanh răng. Ước tính p =
0.7
d : Mức dung sai, chọn d = 0.1
18
20
- Tặng kem đánh răng cho những thai phụ tham gia nghiên cứu.
- Hướng dẫn vệ sinh răng miệng đúng cách.
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
3. Các chỉ số sử dụng trong nghiên cứu
3.1. Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng (CPITN)
- Chia thành 6 vùng lục phân
- Đánh giá mỗi vùng 1 răng, răng 6 ở phía sau, răng cửa giữa phải hàm
trên và răng cửa giữa trái hàm dưới.
- Khi răng chỉ định không còn thì lục phân đó đánh dấu chéo.
* Sử dụng cây sonde nha chu
- Xác định độ sâu thăm khám, chảy máu và cao răng
- Đưa nhẹ cây sonde nha chu vào rãnh lợi với lực từ 15 – 20g, giữ tiếp
xúc với bề mặt răng để phát hiện cao răng dưới lợi.
- Nhìn cột màu để phát hiện độ sâu < 3.5mm, 3.5 – 5.5mm, > 5.5 mm.
* Tiêu chuẩn đánh giá:
- Code 0: Tổ chức quanh răng bình thường
- Code 1: Chảy máu nhẹ khi thăm khám, không có cao răng, độ sâu
thăm khám < 3.5 mm
- Code 2: Có cao răng trên hoặc dưới lợi, độ sâu thăm khám < 3.5 mm
- Code 3: Túi lợi sâu 3.5 – 5.5 mm
- Code 4: Túi lợi sâu > 5.5 mm
* Ghi chép
- Sử dụng đồ hình quanh răng cho mỗi người
- Không khám những răng còn lại khi đã khám răng có code 4
21
* Nhu cầu điều trị :
6. Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành trên phạm vi Bệnh viện Đa khoa vân ĐìnhHà Nội nên chưa thể khái quát và đại diện chính xác cho các bệnh viện khác
tại thành phố Hà Nội và trên phạm vi rộng hơn là trong cả nước.
23
Chương 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu phân chia theo tuổi thai
Nhóm
1
2
3
Tổng
Tuổi thai
1 – 3 tháng
4 – 6 tháng
7 – 9 tháng
N
Tỉ lệ (%)
Nhận xét :
2. Tình trạng quanh răng và chỉ số CPITN của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2.1. Tỉ lệ các nhóm đối tượng có chảy máu lợi khi thăm khám
Tỉ lệ
24
Nhóm 2 (n = )
Nhóm 3 (n = )
Tổng = 85
Nhận xét:
Bảng 3.2.3. Tỉ lệ các đối tượng có độ sâu thăm khám ở các mức độ khác
nhau theo nhóm
Tiêu chí
Nhóm
Nhóm 1 (n = )
Nhóm 2 (n = )
Nhóm 3 (n = )
Tổng
Nhận xét :
Độ sâu thăm
Độ sâu thăm
Độ sâu thăm
khám
khám