ĐƠN VỊ DỰ THI
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẮK NÔNG
CUỘC THI KHOA HỌC KỸ THUẬT CẤP QUỐC GIA
DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
NĂM HỌC 2016 – 2017
Đề tài
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH DÂN TỘC
THIỂU SỐ NGƯỜI M’NÔNG SỐNG HÒA NHẬP Ở
TRƯỜNG THPT ĐẮK SONG
Lĩnh vực dự thi: Khoa học xã hội và hành vi
Tác giả: Chia Việt Mỵ
Đắk Nông, tháng 1 năm 2017
MỤC LỤC
Nội dung
TT
Trang
LỜI CẢM ƠN
5
Chương 1: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
3.1.1
Hòa nhập
9
3.1.2
Hòa nhập học đường
9
3.2
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
9
Chương 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
10
4. 1
Quy trình tiến hành
10
4. 2
Đắk Song
12
Thực trạng học sinh dân tộc thiểu số người M’ nông ở
4.3.3
trường THPT Đắk Song
14
Những nguyên nhân dẫn tới học sinh dân tộc thiểu số
4.4
người M’nông sống chưa hòa nhập ở trường THPT
18
Đắk Song
4.4.1
Nguyên nhân xuất phát từ cá nhân học sinh
18
4.4.2
Nguyên nhân xuất phát từ gia đình
Ảnh hướng đến gia đình
22
4.5.3
Ảnh hướng đến nhà trường
22
4.5.4
Ảnh hướng đến xã hội
23
Chương 5: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
24
5.1
Số liệu
24
5.2
Phân tích dữ liệu
Kết quả nghiên cứu
28
Các giải pháp được thực hiện ở trường THPT Đắk
5.2.3
36
Song
Kết quả đạt được sau nghiên cứu
42
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
45
6.1
Kết luận
45
6.2
Khuyến nghị
45
5.2.4
thức được con đường nghiên cứu của các nhà khoa học để khám phá những
điều bí ẩn của cuộc sống, đầy gian nan, vất vả. Từ đó thắp lên trong em ngọn
lửa đam mê khám phá thế giới xung quanh, giúp em tự tin, chủ động và tích
cực hơn trong học tập, cũng như tham gia các phong trào đoàn thể trong và
ngoài nhà trường.
Cuối cùng em xin gửi tới nhà trường, cô Hằng, gia đình, bạn bè, người
thân- những người luôn bên cạnh động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện tốt
nhất để em hoàn thành tốt đề tài này.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Người thực hiện: Chia Việt Mỵ
1
Chương 1: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đã từ lâu, sống hòa nhập là một kỹ năng quan trọng trong cuộc sống của
con người. Cha mẹ, con cái sống cùng nhau; thầy trò sống cùng nhau; bạn bè
sống cùng nhau...Sống hòa nhập tốt giúp cho con người hiểu được nhau, làm
việc cùng nhau tốt hơn, có thêm niềm vui và sức mạnh vượt qua mọi khó
khăn và hơn nữa sống hòa nhập làm cho con người cảm nhận được ý nghĩa
cuộc sống, thấy được giá trị của bản thân mình cũng như giá trị của người
khác.
Việt Nam là một đất nước đa dân tộc - có 54 dân tộc anh em. Trong đó
có những dân tộc cư trú từ ban đầu trên lãnh thổ Việt Nam, có những dân tộc
từ nơi khác di cư đến; có những dân tộc chỉ có vài trăm người, cũng có những
dân tộc có hàng triệu người..., nhưng các dân tộc coi nhau như anh em một
nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như những lúc khó khăn như lời Bác Hồ đã
căn dặn khi gửi thư cho Đại Hội các dân tộc thiểu số miền Nam ở Playku
Thực trạng học sinh dân tộc thiểu số người M'nông sống chưa hoà nhập
cộng đồng, trường học ngày càng tăng cao, với những biểu hiện có chiều
hướng xấu đi. Qua khảo sát 57 bạn học sinh dân tộc thiểu số người M’nông,
bản thân em thu được kết quả có tới 49 bạn học sinh dân tộc thiểu số người
M’nông sống chưa hòa nhập, còn 8 bạn học sinh dân tộc thiểu số người
M’nông có biểu hiện của sống hòa nhập:
Thái độ cần khảo sát
Số Lượng
Chiếm tỉ lệ (%)
Sống chưa hòa nhập
49
86
Có biểu hiện của sống hòa nhập
8
14
Sống chưa hòa nhập
Có biểu hiện của sống hòa
nhập
Nguyên nhân các bạn học sinh dân tộc thiểu số người M'nông sống chưa
hoà nhập cộng đồng, trường học thì có nhiều nhưng nguyên nhân cơ bản là do
5
Chương 3. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3.1. Khái niệm
3.1.1. Hòa nhập
Sống hòa nhập là sống gần gũi, chan hòa, không xa lánh mọi người;
không gây mâu thuẫn, bất hòa với người khác; có ý thức tham gia các hoạt
động chung của cộng đồng. Người sống hòa nhập với cộng đồng sẽ có thêm
niềm vui và sức mạnh vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Ngược lại, người
sống không hòa nhập sẽ cảm thấy đơn độc, buồn tẻ, cuộc sống kém ý nghĩa.
3.1.2. Hòa nhập học đường
Là học sinh cần phải sống hòa nhập với tập thể lớp học, trường học,
cộng đồng nơi ở. Muốn vậy, học sinh cần:
- Tôn trọng, đoàn kết, quan tâm, gần gũi, vui vẻ, cởi mở, chan hòa với
thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh; không xa lánh, bè phái, mâu thuẫn,
gây mâu thuẫn với người khác.
- Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội do nhà
trường, địa phương tổ chức; đồng thời vận động bạn bè, mọi người cùng tham
gia.
(Theo sách giáo khoa GDCD 10 – NXB Giáo Dục)
3.2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Làm thế nào để giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số sống hòa nhập
là vấn đề không mới và đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về vấn
đề này cả trong và ngoài nước như: “ Học không được hay học để làm gì”
trải nghiệm học tập của thanh thiếu niên dân tộc thiểu số ( Nhóm tác giả
nghiên cứu trường hợp tại Yên Bái, Hà Giang, Điện Biên); “ Giải pháp khắc
phục khó khăn của học sinh là người dân tộc thiểu số trong việc tiếp cận
chương trình giáo dục phổ thông” ( Tác giả: Phùng Thị Hằng); Nghiên cứu
sống chưa hòa nhập. Từ thực trạng và nguyên nhân đó để thấy được hậu quả
sống chưa hòa nhập gây ra, từ đó đánh giá những ưu và nhược điểm của các
giải pháp đã thực hiện ở trường và mạnh dạn đề xuất một số nhóm giải pháp
nhằm giúp các bạn học sinh dân tộc thiểu số người M’nông sống hòa nhập,
phát triển một cách toàn diện.
Dựa trên quá trình tìm hiểu và các phương pháp nghiên cứu đã lựa chọn,
đề tài đã chỉ ra được, học sinh dân tộc thiểu số người M’nông gặp khó khăn
trong quá trình hòa nhập để học tập và sinh hoạt ở trường. Đề tài đã chỉ ra
nguyên nhân các bạn chưa thể hòa nhập được với các bạn khác, sự việc này
xuất phát từ nhiều yếu tố: Gia đình, nhà trường, xã hội và chính bản thân học
sinh. Đề tài đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng, cung cấp thông tin khá đầy đủ
về biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của sống chưa hòa nhập của học sinh dân
tộc thiểu số người M’nông ở trường THPT Đăk Song. Từ đó đề xuất một số
giải pháp giúp cho các bạn học sinh dân tộc thiểu số người M’nông sống hòa
nhập ở trường, giúp các bạn thấy được ý nghĩa cuộc sống và hứng thú đi học
để mỗi ngày đến trường là một niềm vui.
8
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Dựa trên nguyên tắc lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng.
4.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp:
Thông qua các kênh đài, tài liệu từ các đề tài nghiên cứu trước, thông
qua mạng internet, các sách báo, ấn phẩm có liên quan, các tư liệu từ văn
phòng đoàn, số liệu từ văn phòng nhà trường…
- Phương pháp khảo sát thực tế:
phước(8.599 người), Quảng Nam (4.026 người).
- Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me (ngữ hệ
Nam Á).
- Lịch sử: Người M’nông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền Trung Tây
Nguyên nước ta.
- Chỗ ở: Hiện nay người M’nông cư trú tập trung theo nhóm địa phương,
chủ yếu ở các huyện : Lắk, Mdrắk, Đăk Nông, Đăk Mil, Krông Pách, Ea Súp,
Buôn Đôn... thuộc tỉnh Đăk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé
và Tây Nam tỉnh Lâm Đồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền Đông
Campuchia, giáp ranh với biên giới nước ta.
- Tổ chức cộng đồng : Mỗi làng thường có vài chục nóc nhà, ông trưởng
làng đóng vai trò to lớn trong dân làng. Mọi người sống theo kinh nghiệm và
tập tục truyền lại từ nhiều đời. Nam, nữ, trẻ, già ai cũng thích rượu cần và hút
thuốc lá cuốn.
- Hôn nhân gia đình: Người M'nông theo chế độ mẫu hệ, con cái mang
họ mẹ, trong gia đình người vợ giữ vị trí chính, nhưng người chồng không bị
phân biệt đối xử, họ sống tôn trọng nhau. Cha mẹ về già thường ở với con gái
út.
10
Theo nếp cũ, đến tuổi trưởng thành, người M'nông phải cà răng mới
được yêu đương lấy vợ lấy chồng. Phong tục cưới xin gồm 3 bước chính là
dạm hỏi, lễ đính hôn, lễ cưới. Nhưng cũng có nơi đôi vợ chồng trẻ ở phía nào
là tùy thỏa thuận giữa hai gia đình. Người M'nông thích nhiều con, nhất là con
gái. Phong tục cũ sinh con sau một năm mới đặt tên chính thức.
- Tục lệ ma chay: Trong tang lễ, người M'nông có tập quán ca hát, gõ
chiêng trống bên áo quan suốt ngày đêm. Sau khi hạ huyệt, họ dùng cây, que
và lá cây trải kín miệng hố rồi mới lấp đất lên trên. Qua 7 ngày hoặc một
tháng, gia chủ làm lễ đoạn tang.
M'nông Gar, M'nông Chil chủ yếu là dùng vào các lễ hiến sinh mà mỗi năm
các gia đình người M'nông thường phải tổ chức nhiều lần theo chu kỳ nông
nghiệp cổ truyền và đời sống của họ...
4.3.2. Thực trạng dân tộc thiểu số người M’nông ở huyện Đắk Song
Huyện Đăk Song được thành lập theo Nghị định số 30/2001/NĐ-CP
ngày 21/6/2001 của Chính phủ, trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính 03
xã của huyện Đăk Mil và 02 xã của huyện Đăk Nông với tổng diện tích tự
nhiên 80.766,77 ha và 28.000 nhân khẩu. Hiện nay trên địa bàn huyện có 09
đơn vị hành chính gồm 08 xã, 01 thị trấn, có 02 xã biên giới giáp với Vương
quốc Campuchia đó là xã Thuận Hà và xã Thuận Hạnh, huyện có 22 dân tộc
cùng sinh sống trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 16,9% dân số toàn
huyện, trong đó dân tộc bản địa M’nông chiếm 9,2%.
Từ những năm mới thành lập, tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc
phòng của huyện luôn đối mặt với khó khăn thách thức đó là xuất phát điểm
về kinh tế thấp, nông– lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Địa hình đồi dốc có độ
chia cắt mạnh, dân cư sống thưa thớt không tập trung, cơ sở hạ tầng phục vụ
sản xuất và đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn.
Tuy nhiên với truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường nhân dân
các dân tộc trong huyện đã đoàn kết thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ
và sự điều hành của Ủy ban nhân dân huyện đã khắc phục mọi khó khăn,
phấn đấu xây dựng và trưởng thành để đạt được những thành tựu quan trọng
trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ, cơ sở vật chất 12
kỹ thuật được tăng cường, an ninh lương thực được đảm bảo. Lĩnh vực Văn
hoá xã hội có những bước chuyển biến tích cực. Cùng với nhiệm vụ phát triển
kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng; song công tác xây dựng đời
sống văn hoá trên địa bàn huyện cũng được cấp lãnh đạo huyện hết sức quan
tâm. Đặc biệt công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân gian của
đồng bào dân tộc M’nông được chú trọng, huyện có 01 đội văn nghệ dân gian,
7.130
4.769
2.361
2
Đăk N’Drung
10437
8.065
2.372
3
Trường Xuân
11395
8.966
2.429
Bảng số liệu dân tộc thiểu số người M’nông trên địa bàn huyện Đăk Song
Biểu đồ số liệu dân tộc thiểu số người M’nông trên địa bàn huyện Đăk Song
13
2016-2017
Dân tộc
M’nông
M’nông
M’nông
Khối lớp
Tổng số học sinh/ khối lớp
10
17
11
6
12
3
10
17
11
Sĩ số
Số học sinh dân tộc M’ nông
1
10C1
40
0
2
10C2
46
9
3
10C3
45
4
4
8
10C8
44
6
9
10C9
36
0
10
10C10
35
0
11
10C11
36
32
5
16
11B4
35
4
17
11B5
39
2
18
11B6
39
1
19
23
12A1
41
8
24
12A2
38
4
25
12A3
42
2
26
12A4
41
12A8
32
0
Như đã đề cập ở phần lí do chọn đề tài tình trạng học sinh dân tộc thiểu
số người M’nông chưa tự tin, chưa hòa nhập tốt các hoạt động tập thể của
trường học, lớp học cũng như các phong trào sinh hoạt tập thể mà đoàn
trường phát động.
Qua khảo sát tại trường THPT Đăk Song em thấy vì số lượng học sinh
dân tộc thiểu số người M’nông không nhiều, chỉ chiếm 57 trên tổng số 1179
học sinh toàn trường. Hơn nữa, các bạn học rải rác ở các lớp, có lớp nhiều ( 8
bạn, 9 bạn ) có lớp ít ( 1, 2 bạn) nên đã xảy ra tình trạng các bạn sống co cụm,
ngại giao tiếp .
Hình 1: Học sinh dân tộc thiểu số người M’nông lớp 10 C2 giờ ra chơi
Hình 2: Bạn H- Tem lớp 12A7 giờ ra chơi
Qua cuộc phỏng vấn ngày 5 tháng 10 năm 2016 của tác giả nghiên cứu
với một bạn học sinh lớp 12, em nhận thấy các bạn dân tộc thiểu số người
16
M’nông ở trường THPT Đăk Song còn rụt rè, chưa tự tin, ít và ngại giao tiếp
cũng như tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể mà đoàn cũng như nhà
trường phát động.
Nội dung Video phỏng vấn
Mỵ : Chào bạn, mình tên là Chia Việt Mỵ lớp 12A1. Mình đang thực
hiện đề tài nghiên cứu khoa học kỹ thuật về “Một số giải pháp giúp học sinh
SƠ ĐỒ CHỖ NGỒI LỚP 10C2
Cửa vào
BÀN GIÁO VIÊN
Đinh
Thảo
Hiếu
Hiếu
Hồ
Thúy
Thành
Uyên
Minh
Ngọc
Điểu
Linh
Y
Tâm
Nhi
Hà
Sương
Thiện Điểu
Như
Thanh
Quy
Bảo
Y Qúy
Ánh
Thượng
Hùng
Điểu
Tiên
T.
Tâm
Thành
Quân
Ngọc
Uyên
Nguyên
Linh
Nam
Huệ
Linh
Hồng
Tân
Như
Long
Thượng
Hùng
H Ly
Thị
Chân
Sia
Thư
Điểu
Điểu
Kiên
Quy
Hiếu
Bảo
Y Thùy
Điểu
Điểu
tộc Kinh vì sợ bị kì thị.
Do mặt bằng nhận thức không được đồng đều: Đa số các bạn dân tộc
thiểu số người M'nông có học lực thấp, khả năng tập trung trong học tập kém,
thất bại nhiều trong học tập, không muốn đi học, chỉ muốn đi câu cá, chăn
trâu, thả diều, bắn chim với các bạn khác cùng bon, làng.
Điểm kiểm tra 15 phút
TT
Họ và tên
Lớp
Toán
Ngữ Văn
Tiếng Anh
Vật lý
Hóa học
Sinh học
Lịch Sử
Địa lý
4
6
3
6
5
Đ
2
Y Kơn
12A1
3
4
1
2
4
4
4
5
5
5
3
4
5
Đ
4
Điểu Lân
12A1
2
5
3
2
4
5
2
3
5
6
3
5
4
CĐ
6
Điểu Ngô
12A1
3
4
4
4
4
1
3
3
5
6
4
3
4
CĐ
8
Điểu Thắng
12A1
10C2
6
5
5
2
4
2
2
3
5
3
5
2
Đ
10
11
Điểu Kiên
10C2
3
2
0
4
2
2
2
3
5
4
5
2
3
Đ
13
Y Quý
10C2
2
3
2
4
3
2
2
3
4
3
3
5
5
CĐ
15
Điểu Suê
10C2
1
4
2
3
4
5
4
2
6
4
2
4
2
Đ
17
Điểu Thị Thư
10C2
3
5
2
4
4
3
cả cộng đồng trong mọi phạm vi giao tiếp, thể hiện trên tất cả các bình diện
của ngôn ngữ: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,... Đây là một trong những lực cản
lớn nhất ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kiến thức của học sinh. Do ảnh hưởng
của tiếng mẹ đẻ và thổ âm nên các bạn học sinh dân tộc M'nông phát âm sai ở
hầu hết dấu thanh, phần vần và sai cả một số âm đầu.
Ví dụ:
* Phát âm sai ở âm đầu:
Đ => L : Đom đóm => Lom lóm
L => Đ : Lập loè => đập đèo
* Phát âm sai ở phần vần:
Ươu => iêu : Ốc bươu => Ốc biêu . Con hươu => Con hiêu
Ưu => iu : Mưu trí => Miu trí . Sưu tầm => Siu tầm
Uôm => Um : Cánh buồm => Cánh bùm . Nhuộm vải => Nhụm vải
* Phát âm sai ở dấu thanh:
Thanh hỏi => Thanh nặng : Đi ngủ => Đi ngụ . Củ sả => Cụ sạ
Thanh ngã => Thanh sắc : em bị ngã => em bị ngá . Ghế gỗ => Ghế gố
21