VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HIÊN
Chuyên đề:
“Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu định hướng giá trị nghề nghiệp
của sinh viên Công an nhân dân hiện nay”
Thuộc đề tài luận án:
ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN CÔNG AN NHÂN DÂN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 62313001
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Đặng Nguyên Anh
Hà Nội, 6/2015
MỤC LỤC
I. DẪN NHẬP..................................................................................................2
2. Các nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị.......................................3
2.1 Đóng góp của một số nghiên cứu trên thế giới.....................................3
2.2 Một số kết quả nghiên cứu trong nước................................................12
3. Khái niệm và lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu định hướng giá trị
nghề nghiệp....................................................................................................22
3.1 Khái niệm chủ chốt:............................................................................22
3.2 Các lý thuyết nghiên cứu.....................................................................29
Lý thuyết trao đổi và thuyết lựa chọn hợp lý:..............................................................................30
tài thu hút sự quan tâm của giới khoa học xã hội như Triết học, Sử học, Văn
hóa học, và Tâm lý học. Thực tế có nhiều ấn phẩm liên quan đến chủ đề này
được các ngành khoa học xã hội công bố trong thời gian qua. Tuy nhiên, do
hạn chế cách tiếp cận nên kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu
này mới chỉ phản ánh sâu về các giá trị văn hóa truyền thống mà chưa đi sâu
vào nhận diện các giá trị hiện đại, các xu hướng định hướng giá trị về học tập,
nghề nghiệp, việc làm, của các nhóm xã hội trong đó có nhóm thanh niên sinh
viên trong bối cảnh Việt Nam đang ngày cảng hội nhập sâu rộng ra thế giới
bên ngoài.
Trong bối cảnh những đóng góp của các nghiên cứu khoa học xã hội đi
trước về chủ đề giá trị và định hướng giá trị chưa có nhiều đóng góp về lý
2
luận thì nghiên cứu xã hội học về mảng đề tài này cho đến nay vẫn còn nhiều
khoảng trống và thiếu vắng cần phải quan tâm. Đề tài nghiên cứu “Định
hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên công an nhân dân hiện nay” hy vọng
không chỉ có đóng góp về mặt thực tiễn mà còn có đóng góp về mặt lý luận
cho hướng nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị nghề nghiệp của ngành
xã hội học ở Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục tiêu như vậy, phương pháp luận trong đề tài nghiên
cứu “Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên CAND hiện nay” không
thể không kế thừa các quan điểm của các nghiên cứu đi trước có liên quan đến
giá trị và định hướng giá trị trên thế giới và Việt Nam được trình bày trong
chuyên đề này.
2. Các nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị
2.1 Đóng góp của một số nghiên cứu trên thế giới
Các tài liệu cho thấy vấn đề “giá trị” sớm được quan tâm bàn luận trong
các công trình nghiên cứu xã hội học phương Tây, trong bối cảnh các quốc
trị trong hệ thống xã hội. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có những hạn chế nhất
định. Giới xã hội học trong thời gian này và nhiều năm sau đó đã không
ngừng phê phán luận thuyết của Parsons, đánh giá đây là một luận thuyết sơ
cứng, không lý giải được những sắc thái biến đổi của giá trị trong điều kiện xã
hội thay đổi (Marshall, 2010). Sự ổn định trật tự xã hội là cần thiết song
không thể không có những thay đổi cần thiết làm tiền đề cho xã hội phát triển.
Cũng chính vì lý do này mà luận thuyết của Parson về chức năng và giá trị
không còn thống trị và chiếm ưu thế trên mặt trận lý luận xã hội học ở Mỹ
những thập niên sau đó.
Chính vì vậy, đến những năm 1970 đã hình thành nên một khuynh
hướng tiếp cận nghiên cứu về giá trị mới tại Mỹ, đây cũng được xem là giai
4
đoạn phát triển thứ ba về nghiên cứu giá trị, các nhà nghiên cứu đi theo hướng
tiếp cận này đã đo lường thực nghiệm giá trị hoàn toàn khác, thậm chí đối lập
với Parsons. Họ cho rằng giá trị có thể biến đổi và cần phải quan tâm đến hệ
khái niệm biến đổi giá trị hay biến đổi các giá trị. Tác giả tiêu biểu đi theo
hướng nghiên cứu về biến đổi giá trị trong một xã hội chuyển đổi là Ronald
Inglehart, người được xem là tiên phong củatiếp cận nghiên cứu giá trị theo
hướng mới này. Theo ông, ở các xã hội phát triển phương Tây đang xảy ra sự
biến đổi từ giá trị “duy vật” sang giá trị “hậu duy vật”, hay từ giá trị “hiện
đại” sang giá trị “hậu hiện đại” do các thế hệ thanh niên thực hành(Endruweit
và Trommsdorff, 2002:159).
Cũng chính vì vậy mà trong những công trình nghiên cứu thực nghiệm
về giá trị được tiến hành trong những thập niên sau đó, chẳng hạn như “Điều
tra giá trị châu Âu (1980), Inglehart đã đi sâu phân tích quá trình vận động
của giá trị từ hiện đại sang hậu hiện đại, chủ yếu dưới góc độ các biến đổi văn
hóa, hậu hiện đại được hiểu là đề cao các giá trị mới, lối sống mới, sự lựa
Pablo Espinosa, trong công trình “Những giá trị con người và bản sắc xã hội:
Nghiên cứu hai nền văn hóa có xu hướng tập thể” (2004) đã xem xét những
mối liên hệ giá trị của những bản sắc xã hội ở hai nền văn hóa có xu hướng
tập thể như Brazil và Tây Ban Nha. Đối tượng nghiên cứu là các sinh viên.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng trong hệ thống các giá trị con người xã hội, tính
gắn bó và truyền thống là những yếu tố quan trọng nhất để giải thích bản sắc
xã hội. Những đối tượng coi trọng tự do riêng tư nhiều hơn thì kém đồng nhất
và thường độc lập với văn hóa dân tộc mình. Sự đồng nhất trong không gian địa
Inglehart cũng là người có công lớn trong việc mở rộng chương trình khảo sát về giá trị
thế giới ra khắp toàn cầu. Cho đến nay, khảo sát giá trị thế giới đã trải qua nhiều đợt khảo
sát lớn, lần gần đây nhất là năm 2006. Cuộc khảo sát được tiến hành với quy mô lớn 92000
mẫu nghiên cứu tại 62 quốc gia, trung bình mỗi nước thực hiện 1330 cuộc phỏng vấn.
Nghiên cứu này đã thiết kế bộ bảng hỏi với 250 câu hỏi.
1
6
lý dựa trên cơ sở những giá trị như tôn giáo tính gắn bó ở người Brazil, trong khi
đó ở người Tây Ban Nha là truyền thống, trật tự xã hội, thành thực và sức mạnh.
Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng tồn tại một hệ thống các giá trị chung để giải
thích bản sắc xã hội dựa trên cơ sở những giá trị chuẩn mực cơ bản
Tác giả Jeffrey Jensen Arnett trong công trình “Thanh niên, Văn hóa và
các xã hội chuyển đổi” (2005) đã quan tâm đến những thay đổi trên phạm vi
toàn cầu, cái được gọi là toàn cầu hóa trong thế kỷ 21. Trong đó, giới trẻ là
một nhóm chịu nhiều tác động và ảnh hưởng. Họ được sinh ra trong bối cảnh
hoàn toàn khác với thế hệ cha mẹ và ông bà của họ. Nghiên cứu này chỉ ra
rằng thanh niên là nhóm chứa đựng sự đa dạng về bản sắc văn hóa. Một mặt
họ mang trong mình những đặc trưng văn hóa của vùng đất nơi họ sinh ra và
lớn lên; mặt khác, họ lại có những đặc trưng của văn hóa toàn cầu khi mà các
Nguyễn Thị Mai Lan, 2010:16).
Công trình nghiên cứu tiếp theo về sự phát triển định hướng giá trị ở
học sinh những lớp cuối cấp phổ thông trung học và sinh viên đại học ở Nga
(Liên bang Xô Viết) tiến hành năm 1983 của hai tác giả Rưbalkô và Volkova
đã quan tâm nghiên cứu sự phát triển định hướng giá trị ở học sinh những lớp
cuối cấp phổ thông trung học và sinh viên đại học. Kết quả nghiên cứu đã cho
thấy, ở học sinh cuối cấp phổ thông trung học đã có sự phát triển mạnh về
định hướng giá trị, đặc biệt là các định hướng giá trị thể hiện trong việc định
hướng các hoạt động chủ đạo nhằm hướng đến việc đạt được các giá trị mục
đích như định hướng nghề nghiệp, v.v… Điều lý thú là nghiên cứu này cũng
chỉ ra đối với nhóm sinh viên có những định hướng rất cụ thể trong việc mong
muốn trở thành những người như thế nào trong tương lai (Dẫn theo Nguyễn
Thị Khoa, 1996).
Công trình nghiên cứu về định hướng giá trị của trẻ theo lứa tuổi và
mối quan hệ của nó với tính cách cá nhân do Iakimovich thực hiện năm 1990.
8
Dựa trên mẫu nghiên cứu nhóm trẻ vị thành niên từ 12 đến 17 tuổi, tác giả đã
chỉ ra ở trẻ bình thường có xu thế hướng tới các giá trị truyền thống, đặc biệt
là các giá trị cơ bản của cuộc sống gia đình hạnh phúc, bạn bè, công việc thú
vị, tình yêu, sức khỏe (Dẫn theo Đỗ Ngọc Hà, 2000).
Trong công trình “Các định hướng giá trị- chuẩn mực của học sinh
trung học phổ thông” của Xovkin tiến hành năm 1982, đã phân tích và so
sánh các đặc điểm về định hướng giá trị của giới trẻ Nga và Do Thái, trong đó
tác giả đặc biệt chú ý sự đánh giá của khách thể về tầm quan trọng của các giá
trị gia đình. Ông đã phát hiện một đặc trưng quan trọng là tuổi vị thành niên
Do Thái tuân thủ truyền thống dân tộc một cách tự nguyện hơn so với đồng
trang lứa ở Nga. Ngược lại, tuổi vị thành niên Nga thì định hướng sâu sắc về
các giá trị vật chất hơn các giá trị tinh thần so với lứa tuổi này ở Do Thái….
tâm nghiên cứu về chuyển đổi giá trị của nhóm thanh niên trong xã hội Nhật
Bản, một quốc gia công nghiệp rất phát triển. Tác giả này chỉ ra rằng những
tác động từ sự thay đổi kinh tế - xã hội đối với thanh niên là rất lớn, đặc biệt
trong các giá trị truyền thống như hôn nhân, gia đình. Sự sụt giảm của dân số
vị thành niên, thanh niên Nhật Bản trong thời gian bắt nguồn từ sự từ chối
hoặc không quan tâm đến việc lập gia đình của giới trẻ ở những năm 60 của
thế kỷ trước. Ushiogi Morikazu, Makoto chỉ ra những yếu tố chi phối định
hướng giá trị gia đình trong tương lai của đối tượng thanh niên Nhật Bản
trong độ tuổi từ 15 – 24 hiện nay. Nghiên cứu chỉ ra rằng cuộc sống hôn nhân
được xem như là một sự hạn chế, gò bó trong khuôn mẫu hơn là niềm vui; cấu
trúc gia đình làm thời gian hưởng thụ cá nhân suy giảm; quan trọng hơn đó là
quan niệm quan hệ tình dục không cần hôn nhân (Ushiogi Morikazu and
Watabe Makoto,2005).
Nghiên cứu của Yogesh Atal (2005) nhấn mạnh đến tính không đồng
nhất của thanh niên ở các quốc gia châu Á. Vấn đề của vị thành niên, thanh
niên đang phải đối mặt rất khác nhau giữa các nước phát triển và đang phát
10
triển ở châu Á, trong đó đặc biệt là khu vực Nam Á. Ở các nước phát triển,
các giá trị đạo hiếu, gia đình, dòng họ ở những người trẻ đã thay đổi. Thanh
niên sống độc lập khỏi cha mẹ và tự kiểm soát. Trong khi đó, ở các nước Nam
Á, các giá trị của đời sống gia đình vẫn được đề cao. Cha mẹ vẫn duy trì các
trách nhiệm với con cái trong giáo dục, tiếp tục hỗ trợ tài chính trong suốt
thời gian con chưa tìm được việc làm,… Các bối cảnh xã hội khác nhau có thể
đem lại những lời giải thích khác nhau cho tình trạng của thanh niên cũng như
định hướng giá trị của họ
Đề tài giá trị cũng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu Trung
Quốc trong những năm cuối của thế kỷ XX. Công trình nghiên cứu tiêu biểu
cần phải nhắc đến là “Những giá trị của thanh niên Trung Quốc” do Wang Lu
luận và phương pháp trong việc giải thích về sự thay đổi giá trị trong bối cảnh
xã hội chuyển đổi. Mặc dù các nghiên cứu đã quan tâm nhiều đến những thay
đổi về giá trị, định hướng giá trị trong giới trẻ, sinh viên ở các xã hội. Tuy
nhiên, chưa có một nghiên cứu quan tâm tìm hiểu định hướng nghề nghiệp
của các nhóm đặc thù trong xã hội như trường hợp của đề tài luận án này,
2.2 Một số kết quả nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị được giới khoa học xã hội ở
Việt Nam quan tâm trong khoảng ba thập kỷ gần đây trong bối cảnh xã hội
Việt Nam biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, xã hội. Nghiên cứu về giá trị và định
hướng giá trị được quan tâm từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Trước tiên,
cần phải đề cập đến là nghiên cứu về giá trị được quan tâm từ góc độ lịch sử,
văn hóa.
Hướng tiếp cận giá trị từ góc độ lịch sử, văn hóa
Công trình đầu tiên bàn về giá trị cần phải kể đến là nghiên cứu “Giá trị
tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” (1980) của Trần Văn Giàu. Từ
góc độ tiếp cận lịch sử nghiên cứu tư liệu có sẵn, tác giả đã phân tích về các
giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Những giá trị này đã liên
12
tục được phát triển và góp phần quan trọng giúp đất nước vượt qua những khó
khăn và thử thách trong những thời khắc lịch sử (Trần Văn Giàu. 1980).
Công trình nghiên cứu tiếp theo về “Các giá trị truyền thống của con
người Việt Nam hiện nay” do nhóm tác giả Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang
tiến hành năm 1994. Từ góc độ sử học, các tác giả đã tổng quan và phân tích
về quá trình hình thành, phát triển và biến đổi các giá trị truyền thống của
người Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của dân tộc, đánh giá ý
nghĩa của các giá trị này đối với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của
nước ta (Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang, 1994).
Có thể nói, nghiên cứu từ góc độ lịch sử văn hóa đã cho thấy các giá trị
xu thế định hướng giá trị nghề nghiệp hiện nay của người Việt Nam, nổi bật ở
hai điểm: nghề có thu nhập cao và phù hợp với điều kiện cá nhân. Tuy nhiên,
do phạm vi nghiên cứu quá rộng, đề tài mới chỉ dừng lại ở những đặc điểm
chung mang tính khái quát.
Trong công trình “ Định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình
của nữ trí thức” của Nguyễn Thị Khoa (1996). Dựa trên mẫu khảo sát 125 nữ
trí thức thuộc các chuyên ngành khác nhau đang làm việc tại các trường đại
học và viện nghiên cứu. Tác giả đã phân tích thực trạng hệ thống định hướng
giá trị về chất lượng cuộc sống gia đình của nữ trí thức Việt Nam, làm rõ đặc
trưng hệ thống định hướng giá trị của họ. So sánh sự khác nhau trong hệ
thống định hướng giá trị của nữ trí thức. Nghiên cứu này không quan tâm đến
định hướng giá trị nghề nghiệp của nhóm đối tượng khảo sát.
Công trình “ Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của Dương Tự Đam (1996) đã phân tích quá
14
trình biến đổi kinh tế, xã hội của đất nước ảnh hưởng đến nhu cầu, lợi ích và
định hướng giá trị của thanh niên sinh viên. Nghiêncứu đã chỉ ra những đặc
trưng nổi bật trong định hướng giá trị của thanh niên sinh viên khi chuyển
sang nền kinh tế thị trường, biểu hiện xu hướng lựa chọn các giá trị. Định
hướng giá trị về việc làm và lập nghiệp được sinh viên lựa chọn và xếp hạng
ở thang bậc cao. Có thể nói, nghiên cứu mới chỉ dừng lại tìm hiểu đặc trưng,
xu hướng biến đổi định hướng giá trị của thanh niên sinh viên nói chung,
chưa tìm ra định hướng giá trị trong đó có nghề nghiệp của thanh niên sinh
viên các trường, chuyên ngành khác nhau.
Công trình nghiên cứu “Xu hướng biến đổi định hướng giá trị của
thanh niên sinh viên” do tác giả Đỗ Ngọc Hà thực hiện năm 2000. Kết quả
nghiên cứu đã cho thấy tác động của kinh tế thị trường đến các giá trị (bao
sinh viên hiện nay đang có xu hướng hướng đến cái “tôi” biểu hiện trong xu
hướng cá nhân. Nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong định hướng giá
trị của sinh viên hiện nay là thái độ thiếu tích cực với cuộc sống, sự băn
khoăn, lo lắng về nghề nghiệp, việc làm tương lai và những tiêu cực, bất công
trong xã hội. Một số giá trị cơ bản, mang ý nghĩa xã hội vẫn bị sinh viên xem
nhẹ, khuynh hướng cá nhân có xu hướng nổi trội trong một bộ phận sinh viên
Công trình nghiên cứu “Thanh niên Việt Nam với việc giữ gìn và phát
huy các giá trị gia đình” của Nguyễn Minh Tâm (2003) đã đi sâu phân tích
một số giá trị của gia đình như giá trị đạo đức (tình, hiếu, nghĩa), giá trị kinh tế
(coi trọng giá trị vật chất chỉ là phương tiện đảm bảo cuộc sống gia đình chứ
không thể trở thành mục tiêu của gia đình) và giá trị con cái. Nghiên cứu này
cũng đi sâu tìm hiểu sự biến đổi của giá trị đối với thanh niên hiện nay, song
chỉ dừng lại ở việc phân tích những giá trị gia đình và sự biến đổi của nó trong
thanh niên chứ không phân tích các giá trị khác (Nguyễn Minh tâm, 2003).
16
Nghiên cứu “Tổng quan tình hình sinh viên công tác Hội và phong
trào sinh viên” do Bộ Khoa học và công nghệ và Trung ương Đoàn Thanh
niên cộng sản Hô Chí Minh tiến hành 2003. Dựa trên nguồn tài liệu thứ cấp,
số liệu bao quát trên phạm vi cả nước, nghiên cứu đã đưa ra nhận định là định
hướng giá trị được sinh viên coi trọng nhất là có kiến thức, có ý chí tự lập và
lòng yêu nước, sống đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân (Dẫn theo Phạm
Tất Thắng, 2009:13).
Công trình “Nhận thức của sinh viên sư phạm về các giá trị truyền
thống trong học tập” của Nguyễn Văn Bắc (2006), đã quan tâm tìm hiểu các
giá trị truyền thống như lòng thân ái, đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập. Kết
quả khảo sát chỉ thực hiện ở khối ngành sư phạm (Đại học Sư phạm Huế)
nhưng cũng cho thấy được nhận thức cơ bản của sinh viên đối với giá trị
do Nguyễn Như Chiến và cộng sự (2004) đã quan tâm đến định hướng giá trị
của sinh viên công an nhân dân: phần lớn sinh viên công an nhân dân có ý
thức bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước, coi trọng giá trị hòa bình, tự do
và gắn kết với giá trị đó là có niềm tin và sự trung thành với Đảng và Nhà
nước, coi trọng giá trị gia đình, động cơ chọn ngành nghề về cơ bản phù hợp
với nội dung định hướng giá trị của người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và những giá trị có tỉ lệ đánh giá thấp hơn những giá trị trên:
sống có tình nghĩa, có trách nhiệm và kỷ luật. Việc xác định sự giàu có về của
cải, ngành nghề có thu nhập cao, được nhà nước cung cấp, lựa chọn ngành
nghề theo ý muốn của bố mẹ là những giá trị rất ít sinh viên lựa chọn. Tuyệt
đại đa số sinh viên yêu ngành CAND….
Nhìn chung, nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị rất được quan
tâm ở nước ta trong những thập kỷ vửa qua. Điều đáng quan tâm là các
nghiên cứu này khá phong phú, được tiếp cận từ các góc độ khác nhau lịch sử,
triết học, tâm lý học. Từ tiếp cận lịch sử, các nghiên cứu đã chỉ ra các đặc
18
trưng của các giá trị truyền thống, vai trò của các giá trị này trong các thời kỳ
lịch sử khác nhau của dân tộc. Các nghiên cứu từ hướng tiếp cận triết học, đặc
biệt là tiếp cận tâm lý học đã có những đóng góp quan trọng, chỉ ra định
hướng giá trị của nhóm thanh niên, một số yếu tố chi phối định hướng nghề
nghiệp của thanh niên. Do hạn chế cách tiếp cận nên các nghiêncứu này chưa
cho thấy rõ các nhân tố xã hội chi phối định hướng giá trị của thanh niên, sinh
viên.
Nghiên cứu định hướng giá trị từ góc độ xã hội học
Mặc dù, đề tài nghiên cứu về định hướng giá trị thu hút nhiều sự quan
tâm từ góc độ triết học, lịch sử và tâm lý học, nhưng cho đến nay nghiên cứu
về định hướng giá trị từ góc độ xã hội học vẫn còn thiếu vắng. Có thể kể ra
một số nghiên cứu, chẳng hạn nghiên cứu “Định hướng giá trị của sinh viên
quê hương đất nước, gắn bó mật thiết với nhân dân, tình đồng chí đồng đội
thủy chung, tinh thần quốc tế cao cả; ý thức xây dựng quân đội cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tự hào được là sỹ quan quân đội anh
hùng của dân tộc anh hùng; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập và rèn
luyện tại trường; sãn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ; phẩm chất đạo
đức, lối sống trong sang
Nghiên cứu “Định hướng giá trị của sinh viên (Qua nghiên cứu trường
hợp sinh viên của 11 đơn vị đào tạo trên địa bàn Hà Nội) của Phạm Tất Thắng
năm 2009. Nghiên cứu đã quan tâm tìm hiểu định hướng giá trị về nghề
nghiệp, thăng tiến xã hội và tình yêu, hôn nhân,… Dựa trên những bằng
chứng khảo sát thực nghiệm nghiên cứu đã chỉ ra sinh viên chọn ngành học
mà họ yêu thích, mang tính chủ quan mà ít quan tâm đến chọn ngành học phù
hợp với thực tế và khả năng có việc làm sau khi ra trường. Phần lớn sinh viên
mong muốn sau khi ra trường có việc làm đúng chuyên ngành đào tạo, được
làm việc gần nhà có thu nhập ổn định. Đáng chú ý là nghiên cứu cũng chỉ ra
20
khác biệt giới tính, nơi ở và nghề nghiệp của cha mẹ có ảnh hưởng đến việc
chọn nơi làm việc sau khi ra trường. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đi sâu giải
thích mối quan hệ yếu tố năm học, ngành học và trường học với định hướng
giá trị nghề nghiệp… (Phạm Tất Thắng, 2009:131).
Nghiên cứu về đạo đức, lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay của
hai tác giả Nguyễn Thị Hoa và Đỗ Thị Lệ Hằng (2012) xem xét các giá trị của
thanh niên qua vấn đề đạo đức và lối sống. Nghiên cứu này đưa ra 9 giá trị mà
các nghiên cứu trong nước thường đề cập như gia đình, sức khỏe, sự nghiệp,
tình yêu, thu nhập, bằng cấp, danh dự cá nhân, các mối quan hệ xã hội và địa
vị xã hội để thanh niên lựa chọn. Nguyễn Thị Hoa và Đỗ Thị Lệ Hằng chỉ ra
rằng có 5 giá trị được thanh niên xếp vào hàng quan trọng hơn cả lần lượt là:
gia đình, sức khỏe, sự nghiệp, bằng cấp và danh dự bản thân. Thu nhập không
bước đầu thu được những kết quả nhất định. Các tác giả đã quan tâm tìm hiểu
xem các thành viên trong nhóm xã hội, đặc biệt là nhóm thanh niên nói
chung, sinh viên nói riêng đã định hướng mạnh vào giá trị vật chất, giá trị
nàythực sự điều chỉnh hành vi, hoạt động của họ trong cuộc sống hiện tại
cũng như tương lai. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa cho thấy rõ các nhân tố
xã hội/nhân tố xã hội mới đang chi phối định hướng nghề nghiệp tương lai
của sinh viên; hơn nữa, mảng nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp
của nhóm sinh viên sỹ quan công an nhân dân chưa được quan tâm từ góc độ
khảo sát xã hội học. Đây chính là khoảng trống về nhận thức mà ngành công
an cần quan tâm nghiên cứu.
3. Khái niệm và lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu định hướng giá trị
nghề nghiệp
3.1 Khái niệm chủ chốt:
Như đã nêu, trên thế giới, vào thập niên 1950 của thế kỷ 20 đã phát
triển mạnh nghiên cứu giá trị về mặt thực nghiệm. Thời điểm đó nói chung
22
giá trị được coi là đại lượng xác định quan niệm, hy vọng và khả năng hành
động xã hội. Đại lượng này ổn định, ít biến đổi, hoặc nếu thay đổi cũng trong
khoảng thời gian dài. Nhưng đầu những năm 1970, nghiên cứu giá trị đã
chuyển sang một hệ khái niệm hoàn toàn khác nếu không muốn nói là đối lập.
Đó chính là khái niệm “biến đổi giá trị” hay “biến đổi các giá trị”.
Ngày nay, khái niệm về biến đổi giá trị (không chỉ là biến đổi tuyến
tính) vẫn tiếp tục có hiệu lực. Nhiều khả năng tồn tại các lớp “định hướng giá
trị” ít nhiều rất cơ bản. Các lớp giá trị này có thể bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh
theo nhiều cách khác nhau (Helmut Klages, 2002). Cơ cấu giá trị có ý nghĩa
quan trọng đối với việc giải thích những xu hướng, ứng xử và bản sắc xã hội.
Các giá trị hướng dẫn hành động và đem lại sự ảnh hưởng đối với bản sắc.
Ngô Đức Thịnh (Ngô Đức Thịnh, 2010).
Theo Đoàn Văn Chúc, hệ giá trị bao gồm: 1/ Giá trị thuộc về phẩm chất
tự nhiên; 2/ Giá trị thuộc về trật tự kinh tế; 3/ Giá trị thuộc về trật tự tâm linh;
4/ Giá trị thuộc về trật tự đạo đức; 5/ Giá trị thuộc về trật tự thẩm mỹ. Theo
Hoàng Vinh, hệ giá trị bao gồm: 1/ Giá trị thuộc về lĩnh vực tự nhiên; 2/ Giá
trị thuộc về lĩnh vực kinh tế; 3/ Giá trị thuộc về lĩnh vực tri thức; 4/ Giá trị
thuộc về lĩnh vực chính trị; 5/ Giá trị thuộc về lĩnh vực thẩm mỹ; 6/ Giá trị
thuộc về lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng.
Theo Ngô Đức Thịnh, hệ giá trị bao gồm: 1/ Những giá trị rút ra từ
khóa cạnh con người ứng xử với môi trường tự nhiên, nhất là trong hoạt động
sinh tồn; 2/ Trong sinh hoạt vật chất như ăn ở, mặc, đi lại, trị bệnh,…; 3/
Trong ứng xử và quản lý xã hội (gia đình, dòng họ, làng xã quốc gia); 4/
Trong sáng tạo văn học nghệ thuật; 5/ Trong giáo dục, đào tạo, trong phẩm
chất, nhân cách của các danh nhân; 6/ Trong thực hành đời sống tâm linh, tôn
24