Giáo trình Miễn dịch học - chương 2 - Pdf 42

CHƯƠNG II
KHÁI NIỆ M VỀ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH
ĐẠI CƯƠNG
Trong cộng đồng sinh vật, đấu tranh sinh tồn là một trong các qui luật tự nhiên, cho
nên mọi sinh vật đều có ít nhiều khả năng tự bảo vệ chống lại sự xâm nhập của
bất kỳ vật lạ nào, nhằm bảo toàn tính toàn vẹn của chúng. Khả năng tự bảo vệ
xuất hiện ngay ở cơ thể sống nhỏ bé chưa tiến hoá. Cùng với sự tiến hoá của sinh
vật, các biện pháp bảo vệ ngày càng phong phú và hoàn thiện, trong đó đáp ứng
miễn dòch là một biện pháp quan trọng và phức tạp nhất.
Miễn dòch (immunity) là khả năng của cơ thể nhận ra và loại bỏ các vật lạ (Trong
miễn dòch học gọi là kháng nguyên). Ở cơ thể con người, đáp ứng miễn dòch có thể
tạm chia ra làm hai loại: miễn dòch tự nhiên và miễn đòch thu được, song cấn lưu ý
là hai loại đáp ứng này liên quan với nhau rất chặt chẽ.
1. MIỄN DỊCH TỰ NHIÊN HAY MIỄN DỊCH KHÔNG ĐẶC HIỆU
1.1 Khái niệm
Miễn dòch tự nhiên (native immunity, natural immunity) hay miễn dòch không đặc
hiệu (non-specific immunity) là khả năng tự bảo vệ sẵn có và mang tính di truyền
trong các cơ thể cùng một loài.
Nói cách khác, đó là khả năng tự bảo vệ của một cá thể có ngay từ lúc mới sinh,
không đòi hỏi phải có sự tiếp xúc trước của cơ thể với các kháng nguyên của vật lạ
(tức là không cần phải có giai đoạn mẫn cảm ).
Cơ chế này phát huy tác dụng, dù là kháng nguyên xâm nhập lần đầu hay các lần
sau, nhưng nó có vai trò quan trọng ở lần đầu tiên, vì lúc này đáp ứng miễn dòch
thu được chưa phát huy tác dụng. Trong nhiều trường hợp, miễn dòch tự nhiên là
giai đoạn mở đầu cho miẽn dòch thu được.
1.2 Các hàng rào của đáp ứng miễn dòch tựï nhiên:
1.2.1 - Hàng rào vật lý:
Đó là da và niêm mạc có tác dụng ngăn cách nội môi của cơ thể với ngoại môi
xung quanh.
Da lành lặn, không bò sây sát sẽ cản trở sự xâm nhập của kháng nguyên. Da gồm
rất nhiễu lớp tế bào, lớp tế bào ngoài cùng đă sừng hoá, luôn dược bong ra và đổi

hàng rào hoá học ngay bên trong cơ thể, đó là huyết thanh có chứa lysozym,
protein phản ứng C (CRF: C reactive protein), các thành phần của bổ thể,
interferon, …
Tại ổ viêm, nồng độ protein phản ứng C tăng cao, cùng với sự có mặt của ion Ca
++
,
có tác dụng đối với phế cầu trùng và có thể cố đònh cả bổ thể nữa. Bổ thể có thể
được hoạt hoá bởi các chất hydrat cacbon, lypopolysaccarit, ... của vi khuẩn, do đó
chọc thủng vách tế bào và làm dung giải vi khuẩn.
Bổ thể là một hệ thống nhiều thành phần, bản chất protein được hoạt hoá theo một
trình tự nhất đònh. Khi được hoạt hoá, mỗi thành phần được cắt ra ít nhất làm hai
phần, mỗi phần có tác dụng riêng. Một số thành phần bổ thể khi được hoạt hoá,
như C3a, C5a có tác dụng hóa ứng động bạch cầu, gây dãùn mạch, giải phóng các
hoá chất trung gian từ các hạt của bạch cầu ái kiềm. Một số thành phần khác, như
C3b, còn dính vào vi khuẩn, giúp cho các tế bào thực bào dễ tiếp cận và tiêu diệt
2
vi khuẩn, vì trên bể mặt các tế bào này có các receptor đặc hiệu dành cho C3b
(C3R). Đó là tác dụng chuẩn bò của bổ thể.
Interferon là một họ protein được sản xuất bởi nhiều loại tế bào, có hoạt tính đề
kháng không đặc hiệu các virus nhiễm ở tế bào cùng loài. Khi xâm nhập vào trong
tế bào, virus sẽ hướng bộ máy nhân bản của tế bào hoạt động theo chiều hướng có
lợi cho chúng khiến tế bào bò phá huỷ. Nhưng các tế bào bò nhiễm virus lại có khả
năng sinh ra interferon thấm ra các tế bào chung quanh, giúp cho chúng không bò
virus xâm nhập tiếp. Như vậy, interferon cũng có tác dụng như một loại thuốc
kháng sinh tự nhiên giống như lysozym dối với vi khuẩn, nhưng tất nhiên với cơ
chế khác hẳn. Interferon kích thích các tế bào sản sinh ra một protein phong bế
quá trình sao chép của virus ở khâu RNA thông tin (RNAm) nhờ đó mà tế bào
không bò nhiễm virus nữa, kể cả đối với một virus khác.
1.2.3 - Hàng rào tế bào:
Đây là hàng rào quan trọng và phức tạp nhất. Trên niêm mạc có rất nhiều tế bào

có khả năng tiêu diệt không đặc hiệu các tế bào u và các tế bào chứa virus bằng
chất tiết của chúng (perforin).
1.2.4 Hàng rào thể chất
Cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu rõ được hết các yếu tố của hàng rào thể chất,
chỉ biết đó là tổng hợp tất cả các đặc điểm hình thái và chức năng của cơ thể.
Những đặc điểm đó khá bền vững, có tính di truyền, quyết đònh tính phản ứng của
cơ thể trước những yếu tố xâm nhập. Chính hàng rào này đã tạo nên sự khác nhau
giữa loài này với loài khác, cá thể này với cá thể khác, tước sự tấn công của vật lạ.
Nói một cách khác, hàng rào thể chất đã tạo nên tình huống lá cá thể này, loài này
có thể hoàn toàn hay ít nhiều đề kháng với một sự xâm nhập của một loại vi sinh
vật nào đó, hoặc ngược lại nhạy cảm với một số loại khác.
Ngày nay, những thành tựu mới nhất về di truyền miễn dòch học đã xác nhận khái
niệm thể chất trong bệnh sinh (pathogenesis) của một số bệnh, cụ thể là các bệnh
có hệ số liên quan cao đối với một số nhóm hoà hợp mô chủ yếu.
1.2.5 Viêm không đặc hiệu
Tất cả cơ chế bảo vệ trên đây có thể thấy ở một hiện tượng rất thường gặp, đó là
viêm không đặc hiệu. Hiện tượng này đã được đề cập đến từ thời thượng cổ với 4
triệu chứng kinh điển: sưng, nóng, đỏ, đau. Về bản chất, cốt lõi của quá trình viêm
là phản ứng của tế bào, kèm theo hàng loạt các chuỗi phản ứng với mục đích làm
cho phản ứng của tế bào được thuận lợi hơn.
Phản ứng vận mạch, trước tiên do cơ chế thần kinh sau đó là cơ chế hoá học, làm
giãn mạch, tăng tính thấm thành mạch, kết quả là làm tăng sự xuyên mạch của các
bạch cầu. Một khi yếu tố lạ vượt qua được hàng rào vật lý vào được bên trong cơ
thể thì bản thân nó có thể gây ra được nhứng huỷ hoại mô thuỳ thuộc vào sức mạnh
vật lý và hoá học của chính bản thân nó. Huỷ hoại này, trước hết, sẽ gây nên các
phản xạ thần kinh co mạch tức thời của cơ thể vật chủ song không kéo dài được
lâu. Đồng thời, một số tế bào có thể bò phá huỷ và phóng thích histamin sẵn có ra
gian bào gây hoạt hoá bổ thể tạo các hợp chất hoạt hoá thành mạch như C3a, C5a,
… hoặc kích thích chuyển hoá ở màng tế bào như từ axit arachidonic tạo thành các
chất hoạt mạch khác như prostaglandin và leukotrien. Nhiều chất trung gian khác

Như vậy, về cơ bản, phản ứng viêm là phản ứng có lợi cho cơ thể, nó chỉ có hại khi
các phản ứng này mãnh liệt quá mức bình thường.
Tóm lại, khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, chúng sẽ gặp phải hàng loạt các
cơ chế bảo vệ không đặc hiệu trong đáp ứng miễn dòch tự nhiên, với mục đích tiêu
diệt và loại trừ chúng ra khỏi cơ thể. Một số kháng nguyên khi tái xâm nhập, thì
chúng sẽ gặp phải các cơ chế đặc hiệu trong đáp ứng miễn dòch thu được. Như vậy,
đáp ứng miễn dòch tự nhiên có tác dụng khởi động đáp ứng miễn dòch thu được,
ngược lại, một khi đáp ứng miễn dòch thu được sẽ làm đáp ứng miễn dòch tự nhiên
được tăng cường.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status