Giáo trình Miễn dịch học - chương 1 - Pdf 40

CHƯƠNG I
LỊCH SỬ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA MIỄN DỊCH HỌC
I. LỊCH SỬ VÀ CÁC GIAI ĐOẠN – XU THẾ
Người ta có thể chia miễn dòch học thành nhiều giai đoạn để lấy được Từ cổ xưa, con
người đã có một số hiễu biết về miễn dòch học,đã biết ứng dụng miễn dòch trong việc
phòng một số bònh nhiễm khuẩn. Nhưng phải tới cuối thế kỷ XIX, miễn dòch học mơí có
hoàn cảnh và điều kiện trở thành một môn riêng biệt. Ngày nay, miễn dòch hoc là một
môn còn ‘’non trẻ’’ mhưng có một vò trí quan trọng trong y sinh học. Nói là môn ‘non
trẻ’’ vì kể từ khi Pasteur tìm ra vacxin đầu tiên (1881) tới nay mới có hơn 100 năm, còn
nếu tính từ khi người ta có được những khái niệm tương đối rõ về vai trò chủ chốt của tế
bào trong đáp ứng miễn dòch thì chỉ mới có mấy chục năm.
Điểm qua lòch sử phát triển của miễn dòch học, chúng ta thấy quan điểm về đáp ứng
miễn dòch thay đổi theo tiến bộ của khoa học để đi từ những hiểu biết cụ thể, tách biệt
tớí thống nhứt chúng trong một quan niệm,một tổng thể. Mặt khác, chúng ta cũng thấy
được mốt liên quan khăng khít giữa miễn dòch học và một số ngành khoa học khác như:
sinh học phân tử, hoá học phân tử, gien học phân tử. Sự phát triển của miễn dòch học
không những làm cho nó trở thành một môn khoa học cơ sở riêng biệt mà những kỹ thuật
miễn dòch đã được dùng rộng rãi trong các môn khoa học khác, giúp cho chúng phát triển
mạnh mẽ những thành tựu lớn nhứt trong từng thời kỳ, nhưng phải hiểu là sự chia giai
đoạn này chỉ là tương đối vì những vấn đề lớn của mỗi thời kỳ đã qua vẫn còn được tiếp
tục phát triển đến nay.
Thời kỳ sơ khai
Từ xa xưa con người đãõ nhận thấy một số bònh chỉ gặp ở một số loài, hoặc trong cùng
một vụ dòch, trong cùng một điều kiện có cá thể này bò nặng, cá thể khác bò nhẹ, với một
số bònh ở người thì một khi đã mắc rồi khỏi thì sau vónh viễn không mắc lại nữa (ví dụ
đậu mùa), tức là họ đã biết tớí những gì mà ngày nay chúng ta gọi là miễn dòch. Trong y
học cổ truyền phương Đông, người ta đã biết lấy vẩy mụn đậu mùa phơi khô, tán nhỏ cho
người lành hít để gây bònh đó ở thể nhẹ tạo nên một tình trạng miễn dòch. Tại Trung Cận
Đông, người ta thay vẩy đậu khô bằng mủ trong mụn đậu mùa. Những cách làm này có
thể tạo ra cho người lành một tình trạng miễn dòch chống đậu mùa, nhưng nguy hiểm là
không kiểm soát được liều lượng nên có thể gây bònh làm chết người hoặc tạo thành dòch

thanh điều trò cũng được phát triển đến ngày nay. Các kỹ thuật để phát hiện kháng
nguyên và kháng thể dòch thể liên tục xuất hiện, đó là kỹ thuật ngưng tụ của Gruberb và
Durham (1896), kỹ thuật kết tủa của Kraus (1987). Năm 1898, Bordet phát hiện tác dụng
của bổ thể và được dùng như một chỉ thò của sự kết hợp kháng nguyên-kháng thể. Phát
hiện kháng thể dòch thể dẫn đến việc dùng huyết thanh miễn dòch để xác đònh các loài vi
sinh vật, nhất là để chẩn đoán các bònh do vi sinh vật gây ra. Thời gian gần đây với
những kỹ thuật hiên đại như miễn dòch điện thấm, gắn phóng xạ hay enzyme vào kháng
thể thì độ nhạy để phát hiện kháng nguyên hoặc kháng thể của các kỹ thuật huyết thanh
học đã được nâng cao rát nhiều, cho phép tiến hành những nghiên cứu về huyết thanh
học một cách tinh vi hơn. Hơn nữa, những kỹ thuật này còn chom phép phát hiện những
kháng thể có hàm lượng rất thấp nhưng lại rất đặc hiệu, giúp ích nhiều cho chẩn đoán
bònh. Cùng với những tiến bộ trong lónh vực huyết thanh chẩn đoán liệu pháp huyết thanh
(serotherapy) cũng có những bước tiến đáng kể. Một loại huyết thanh như huyết thanh
chống uốn ván, huyết thanh chống dại, huyết thanh chống rắn cắn…hiện nay vẫn đang
được sử dụng rông rãi.
Những thành tựu về hoá miễn dòch cũng được xếp vào giai đoạn này. Cùng với sự phát
triển của khoa học, việc sử dụng các kỹ thuật hoá học vào phân tích kháng nguyên và
kháng thể là sự phát triển tất yếu của miễn dòch học.
Năm 1917, Landsteiner phát hiện ra những chất có trọng lượng phân tử nhỏ (hapten)
cũng có tính kháng nguyên, điều này đã thúc đẩy hoá miễn dòch rất mạnh. Cũng chính
Landsteinerddax phát hiện ra các nhóm máu trong hệ ABO với các kháng nguyên và
kháng thể tương ứng.
----------------------------------------------------------
/var/www/html/tailieu/data_temp/document/giao-trinh-mien-dich-hoc-chuong-1--13713208304316/kpk1369388063.doc
2
Năm 1929, Heidelberger đề xuất phương pháp huyết thanh học đònh lượng,mô tả cơ sở
hoá sinh về cấu trúc các kháng nguyên polysaccarit.Năm 1938,Kabat đã dùng điện di để
phân tách thành phần của huyết thanh ,qua đó xác đònh được kháng thể nằm ở vùng γ-
globulin. Đó cũng là bước đầu của quá trình xác đònh cấu trúc hoá học của globulin miễn
dòch. Trong suốt gần 30 năm sau đó, nhiều công trình đã tập trung tìm hiểu cấu trúc của

gặp kháng nguyên thì phân tử nào đặ hiệu với kháng nguyên sẽ được nhân lên với số
lượng lớn. Thuyết của Jerne, đã giải thích được một số hiểu biết về miễn dòch học thời đó
như trí nhớ miễn dòch hoặc kháng thể được tổng hợp tăng theo chỉ số logarit. Tuy vậy
thuyết này không phù hợp với các quan điểm mới về sinh học tế bào và phân tử. Trong
vòng 2 năm, hai thuýet mới về sự hình thành kháng thể đã được đề xuất: một của
Talmage-một của Burnet. Cả hai thuyết này khác thuyết của Jerne ở chỗ là:
----------------------------------------------------------
/var/www/html/tailieu/data_temp/document/giao-trinh-mien-dich-hoc-chuong-1--13713208304316/kpk1369388063.doc
3
-Không phải có sẵn các phân tử γ-globulin mà có sẵn các tế bào tạo kháng thể.
-Khi có sự tương tác của kháng nguyên với receptor có trên bề mặt tế bào sẽ kích
thích tế bào sinh sôi nẩy nở và sản xuất ra kháng thể đặc hiệu tương ứng.
Đề cập đến lý thuyết miễn dòch học đương thời, sau 30 năm, thuyết chọn lọc tế bào (được
Burnet đổi là học thuyết chọn lọc clon) đã trở thành một lý thuyết được nhiều người chấp
nhận. Thuyết này đã được chứng minh bởi hàng loạt thí nghiệm và được phát triển cao
độ vào năm 1975 bằng sự đề xướng của Kohler và Milstein về kỹ thuật sản xuất kháng
thể đơn dòng.
Miễn dòch tế bào đạt đến đỉnh cao vào năm 1966 với phát minh của Claman, Chaperon
và Triplett về sự hiện diện và hợp tác của tế bào T và tế bào B. Từ đó đến nay các
nghiên cứu về sự phát triển, tính đặc hiệu và sự hoạt hoá của tế bào T và tế bào B đã thu
hút tâm trí và nghò lực của nhiều nhà miễn dòch học lớn.
Giai đoạn miễn dòch phân tử.
Dựa trên những tiến bộ của sinh học phân tử, miễn dòch học phân tử hay sinh học phân tử
áp dụng trong miễn dòch học là một lónh vực còn rất mới mẻ. Một trong những thành tựu
đàu tiên ở lónh vực này phải kể tới công trình của Portervaf Edelman về cấu trúc phân tử.
Năm 1959, một thành tựu đáng kể trong lónh vực hoá học protein là đã có thể phân tích
chi tiết cấu trúc phân tử kháng thể. Cũng năm đó, Porter đã tách được 3 mảnh của phân
tử globulin miễn dòch, đó là 2 mảnh Fab

và 1 mảnh Fc; elman đã tách riêng được chuỗi

học không những là môn cơ sở của y học, môn khoa học cơ bản cho sinh học mà còn làm
phát triển công nghệ sinh học nữa.
2.1 Miễn dòch học là một môn cơ sở của y học.
Chúng ta đều biết rằng khái niệm về miễn dòch bắt đâøu có trong y học từ thời cổ xưa, do
con người nhận thấy khi đã mắc một bònh (thường là đậu mùa) thì sau suốt đời không
mắc lại bònh ấy nữa. Cơ sở khoa học chỉ bắt đầu có với E.Jenner (1796) rồi với L.Pasteur
(1879). Nhưng cho đến tận giữa thế kỷ thứ XX này thì miễn dòch học chủ yếu vẫn chỉ là
công việc nghiên cứu về vacxin, các kháng thể, dòch thể cũng như việc sản xuất và sử
dụng chúng ra làm sao trong phòng bònh cũng như trong chẩn đoán và phần nào chữa
bònh. Vì thế mới có những viện chế tạo vacxin và huyết thanh, và trong các bònh viện thì
khoa huyết thanh học để chẩn đoán một số bònh nhiễm khuẩn.
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, sự phát triển miễn dòch học tế bào đã đưa vào môn
học này rất nhiều kỹ thuật khác nhau cho phép tìm hiểu sâuvề cơ chế hoạt động của đáp
ứng miễn dòch, đã làm cho nó trở thành một môn khoa học cơ bản. Những tiến bộ kỹ
thuật ấycũng đã mở rộng khả năng ứng dụngcủa miễn dòch trong Y học, không chỉ còn
bó hẹp trong nghiên cứu vacxin và huyết thanh.
Một ngành mới trong miễn dòch Y học xuất hiện: đó là miễn dòch bònh lý để nghiên cứu
những biểu hiện bònh lý do rối loạn quá trình miễn dòch. Hai mục tiêu của miễn dòch
bònh lý là:
• Nhận biết các bònh có cơ chế do rối loạn hoạt động của hệ thống miễn dòch và
tìm hiểu cơ chế bònh sinh của chúng.
• Tìm ra cách điều trò thích hợp với cơ chế bònh sinh ấy
Các kỹ thuật miễn dòch đã cho thấy trong cơ chế bònh sinh ở nhiều bònh có sự tham gia
của đáp ứng miễn dòch. Hiện nay đã phát hiện ra nhiều bònh do rối loạn miễn dòch. Năm
1987 J.F.Bach đã đưa ra một danh sách liệt kê các bệnh do miễn dòch hay có kèm theo
hiện tượng miễn dòch.
Bònh đã được xác minh Bònh đã được xác minh
* Tự mẫn:
Thiếu máu dung huyết
Viêm giáp Hashimoto


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status