CHƯƠNG VI
MỘT SỐ HỆ THỐNG HIỆU ỨNG CỦA HUYẾT TƯƠNG
Đại cương
Trong huyết tương có một số hệ thống enzym khi được hoạt hoá có tác dụng bảo vệ
cơ thể mà chủ yếu là tham gia hình thành phản ứng viêm. Ở động vật chưa có bộ máy tuần
hoàn thì viêm chỉ bao gồm hiện tượng thực bào là chính. Các tế bào thực bào di chuyển
không đònh hướng trong các dòch khoang cớ thể sẽ trở thành có đònh hướng khi xuất hiện tác
nhân gây viêm. Do đó chúng qui tụ vào vò trí viêm và thực hiện chức năng thực bào của
mình.
Ở động vật có hệ tuần hoàn, thì tế bào thực bào di chuyển trong dòng máu cùng với
các hệ thống enzym hiệu ứng. Do đó, viêm khởi phát bằng hiện tượng tăng tính thấm vách
mạch, bạch cầu bám vách và ra ngoài, rồi qui tụ vào vò trí có tác nhân gây viêm. Chính sự
hoạt hoá các hệ thống enzym nói trên, đã tạo ra các hiện tượng đó và hầu hết các hiện
tượng khác, quan sát được tại ổ viêm. Ngoài ra, tham gia hình thành ổ viêm còn có các chất
do các tế bào, các bạch cầu tiết ra (cytokin, leukin...)
Nguyên lý hoạt động chung của các hệ thống hiệu ứng là, các phản ứng một khi đã
mở màn sẽ diễn ra tự động, liên tiếp, thành một chuỗi qua nhiều bước để đạt được hiệu ứng
cần thiết. Chuỗi phản ứng được điều chỉnh để khỏi quá yếu hoặc quá mạnh, chủ yếu nhờ
nồng độ các sản phẩm của các phản ứng. Yếu tố (thành phần) đầu tiên của hê thống là
một ''tiền enzym'' khi có tác nhân kích thích phù hợp sẽ trở thành enzym - nghóa là nó được
hoạt hoá, tác động lên yếu tố tiếp sau, biến nó thành enzym thứ hai để tác động lên yếu tố
tiếp nữa.. Như vậy, phản ứng mang tính dây chuyền, tự động, tự điều chỉnh.
Người ta đã chứng minh sự liên quan qua lại và phức tạp của các hệ thống huyết
tương, do vậy chúng hầu như không hoạt động đơn độc. Ở đây, chỉ đi sâu vào hệ thống bổ
thể.
I. HỆ THỐNG ĐÔNG MÁU
Hệ thống đông máu được nghiên cứu sớm nhất. Nhờ các enzym của hệ thống này,
máu có thể tự động đông lại khi mạch máu bò tổn thương, nhờ vậy hạn chế được mức độ
mất máu. Trong viêm, hệ thống này gây đông máu trong vi mạch và tạo ra lưới fibrin có tác
dụng khu trú ổ viêm, hạn chế sự lan truyền của yếu tố gây bệnh.
Khởi đầu là yếu tố Hageman (mang số XII), khi gặp các bề mặt mang điện tích âm
Kininogen cao phân tử (HMW)
120 8-9
Yếu tố ổn đònh fibrin (XIII)
320 1-2
Calci (Ca
++
) (IV)
---------------o0o------------------
/var/www/html/tailieu/data_temp/document/giao-trinh-mien-dich-hoc-chuong-6--13725303844230/yho1367837105.doc
Trang 2
Kallicrenogen
XII XIIa
KallicrenKininogen
XI XIa
IX IXa
Tromboplastin mô
VIII VIIIa VII
Ca
++
Phospholipid Ca
++
X Xa
V Va
Ca
++
Phospholipid
Trombin (II a) Protrombin (II)
Fibrinogen
Fibrin
(Đông máu)
huỷ fibrin (dạng sợi) trong cục máu đông thành dạng hoà tan. Nhờ vậy, cục máu đông bò
tan huỷ.
III. HỆ THỐNG KININ
Tiền enzym đầu tiên của hệ thống này là prekallicrein hoặc còn có tên kallicreinogen
(pre: tiền, trước; nogen: sinh ra). Chất trên sẽ biến thành enzym chính thức, có tên là
kallicrein do tác dụng của các yếu tố sau:
• pH thấp (thường gặp trong ổ viên).
• Có mặt plasnin, trypsin và một số protease khác (dễ gặp chúng trongổ viêm)
• Hoạt hoá bổ thể
• Yếu tố Hageman bò hoạt hoá (XII)
Kallicrein có tác dụng đặc hiệu lên chất bradykininogen (là một peptit gồm 9 axit amin:
arginin – prolin - glyxin – phenyl - alanin - serin - prolin - phenylalanin - arginin) làm tách
arginin ra, thì phần còn lại mang tên brykinin là chất có hoạt tính sinh học. Nhiều
---------------o0o------------------
/var/www/html/tailieu/data_temp/document/giao-trinh-mien-dich-hoc-chuong-6--13725303844230/yho1367837105.doc
Trang 3
proteaza khác cũng tác dụng không đặc hiệu lên bradykininogen để tạo ra bradykinin với
hiệu suất thấp: trypsin, chymotrypsin, carboxypeptidase, enzym của thể tiêu (lysosom)
trong tế bào.
Trong máu còn có một peptit gồm 10 axit amin, chi khác bradykininogen là có thêm
lysin tên là kallidinogen, hoặc lysyl - bradykinin. Bò các men proteinase nói trên (nhất là
kallicrein), phân cắt nó biền thành kallidin (9 axit amin) có hoạt tính. Chất này, dưới tác
dụng tiếp tục của các proteaza, cuối cùng cũng biến thành Bradykinin (hình 49 và 50).
Hình: Sự tạo thành bradykinin từ tiền chất bradykininogen.
Chất tác dụng của hệ thống này là bradykinin, được xem là một kinin chủ yếu gây ra
các hiện tượng cơ bản của ổ viêm. Nó có tác dụng gây co cơ trơn, dãn mạch, tiến tới xung
huyết động mạch và xung huyết tónh mạch. Nó cũng gây tăng mạnh mẽ tính thấm thành
mạch ở vi tuần hoàn (gấp 15 lần histamin), đồng thời có tác dụng thu hút bạch cầu, làm
bạch cầu bám vào vách mạch và ra khỏi mạch máu và tập trung vào nơi có nồng độ
bradykinin cao (ổ viêm). Một tác dụng nổi bật của bradykinin là kích thích đầu tận của thần
nghóa là nó làm tan được tế bào kháng nguyên bò ngưng kết do kháng thể lấy từ các loài
khác. Hoạt tính bổ thể thay đổi giữa các loài, cao nhất lả ở chuột lang, trung bình ở người,
chó..., thấp ờ thỏ, chuột nhắt... Ngoài tác dụng làm tan vi khuẩn (tế bào mang kháng
nguyên nói chung), người ta xếp bổ thể vào miễn dòch không đặc hiệu vì vai trò của nó
trong viêm. Những cơ thể thiếu bổ thể bẩm sinh rát dễ nhiễm khuẩn.
Bổ thể không phải một chất, mà là một hệ thống gồm nhiều thành phần, trong đó có
những thành phần không bền với nhiệt. Khi bảo quản huyết thanh cẩn thận vẫn làm mất bổ
thể nhanh chóng. Điều đó chứng tỏ bổ thể có tốc độ phân huỷ cao. Cho đến năm 1940,
người ta thấy bổ thể gồm 4 thành phần, theo thứ tự phân lập được, có tên Cl, C2, C3 và C4.
Sự kết hợp kháng nguyên - kháng thể chính là tác nhân khởi phát làm cho C1 (tiền enzym)
biến thành enzym - tác động lên C4 và C2, tạo ra enzym mới, tác động lên C3. Như vậy,
thứ tự hoạt hoá của C' trên thực tế không giống với thứ tự phát hiện, phân lập và đặt tên
các thành phần. Các thành phần này tham gia "con đường thứ nhất: hoạt hoá bổ thể. Từ
những năm 1950 đă tách biết thêm được các thành phần mới là C5, 6, 7, 8 và 9.
Còn ''con đường thứ hai" được tìm ra từ năm 1953, khi Pillenler phát hiện trong huyết
thanh, chết properdin (P), chất này mất đi khi trộn huyết thanh với zymosan (là một
polysaccarit từ vách tế bào nấm men), đồng thời làm giảm C3 và các thành phần C5-C9.
Sau đó còn phát hiện ra các yếu tố B và D, phối hợp với P, thực hiện con đường thứ hai của
sự hoạt động của bổ thể mà không cần sự có mặt của kháng thể. Con đường thứ nhất dược
đặt tên là đường cổ điển, vì phát hiện sớm hơn, mặc dù trong quá trình tiến hoá sinh vật nó
xuất hiện muộn hơn (khi đã xuất hiện miễn dòch đặc hiệu) so với con đường thứ hai (nay
gọi là ''đường khác'' - altemative pathway).
4.1.2. Các ký hiệu và quy ước quốc tế :
Bổ thể có chung ký hiệu là C'. Các chất của đường cổ điển được gọi là thành phần
(fraction), ký hiệu là C kèm theo một con số (viết lớn ngang với C): C1, C2, C3,... ,C9.
Riêng C1 gồm 3 bán đơn vò: C1q, C1r và C1s. Các chất của đường thứ hai gọi là yếu tố
(factor), gồm B, D và P.
Các chất điều hoà sự hoạt hoá bổ thể - bằng cách kìm hãm phản ứng - cũng có
những ký hiệu riêng INH (inhibitor = chất ức chế), INA (inactivator = chất bất hoạt), hoặc
thuần tuý là các chữ cái H, S...