I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN HI Lấ
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN VÊ ĐịA Vị PHáP Lý
CủABị CáO TRONG LUậTTố TụNG HìNH Sự VIệT
NAM
- Trên cơ sở các số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
LUN VN THC S LUT
HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN HI Lấ
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN VÊ ĐịA Vị PHáP Lý
CủABị CáO TRONG LUậTTố TụNG HìNH Sự VIệT
NAM
- Trên cơ sở các số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT
HC
.........
.........
.........
.........
.........
.........
.........
.........
.........
.........
.........
.......
1
C
h
ư
ơ
n
g
1
:
M
Ộ
T
S
Ố
V
Ấ
N
Đ
14
A
SỰ............................... 9
1.2.
B
1.1.
KHÁI
Ị
NIỆM, CƠ SỞ VÀ
SỰ
C
Ý NGHĨA CỦA
HÌNH
Á
VIỆC QUY ĐỊNH
CÁC
G
LUẬT TỐ
QUY
L
TỤNG
PHẠM
U
HÌNH
V
Ậ
SỰ.....................
Ề
T
..........................
Ị
H
1.1.2. Cơ sở và ý
Ì
nghĩa của việc quy
P
N
định địa vị pháp lý
H
H
của bị cáo
Á
S
P
Ự
phạm của pháp luật
dân chủ
tố tụng hình sự Việt
nhân dân
Nam trƣớc năm
Trung
2003 về địa vị
Hoa .. 29
pháp lý của bị
1.3.3.
cáo..................................
Trong Bộ
..................... 16
luật tố tụng
1.2.2. Các quy
1.3.1. Trong Bộ luật tố
tụng hình sự Liên bang
Nga................................
........ 32
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA VỊ
PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ............................ 35
2.1.
THỰC TRẠNG CỦA CÁC QUY PHẠM CỦA PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP
LÝ CỦA BỊ CÁO............................................................................... 35
2.1.1. Các quy định về địa vị pháp lý của bị cáo trong Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 ............................................................................... 35
2.1.2. Nhận xét các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về
địa vị pháp lý của bị cáo..................................................................... 46
2.2.
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP
LÝ CỦA BỊ CÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ............. 50
2.3.
NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP
TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
3.2.1. Bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự ........................ 69
3.2.2. Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc "không ai bị coi là có tội khi chƣa có
bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật"............................ 70
3.2.3. Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.................... 71
3.2.4. Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa ..................... 72
3.3.
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ NHẰM ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN CÁC
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO ........................................... 73
3.3.1. Hoàn thiện các quy định về cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời
tiến hành tố tụng ................................................................................ 73
3.3.2. Hoàn thiện các quy định về ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự ... 75
3.3.3. Hoàn thiện các quy phạm khác trong Bộ luật tố tụng hình sự
nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo .................... 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 80
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
HĐXX:
Hội đồng xét xử
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Số lƣợng vụ án hình sự và số lƣợng các bị cáo từ năm
2010 đến năm 2014
50
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua
Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khẳng định xây dựng
Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đề cao quyền con ngƣời, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều đầu tiên ở bản Hiến pháp mới đó là việc sửa
tên chƣơng từ "quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" thành "quyền con
ngƣời, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" và việc sắp xếp chƣơng này
tại chƣơng II, sau chƣơng I về chế độ chính trị đã thể hiện sự nhận thức lý luận,
tƣ duy lập hiến, là sự khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con
ngƣời, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đề cao nguyên tắc Nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chủ quyền
tối cao thuộc về nhân dân, thể hiện nhất quán đƣờng lối của Đảng và nhà
nƣớc ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con ngƣời,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân [50].
Quốc hội, Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổ
chức triển khai thi hành Hiến pháp, đƣa vào chƣơng trình xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003. Vấn đề đặt ra là, cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, xây dựng
mới các văn bản pháp luật hình sự, tố tụng hình sự vừa đảm bảo tính răn đe,
những quyền con ngƣời tối thiếu nói riêng. Một câu hỏi lớn đƣợc đặt ra là làm
thế nào để quyền lợi và nghĩa vụ của bị cáo đƣợc đảm bảo, làm thế nào để
những quyền công dân tối thiểu đƣợc đáp ứng. Và câu hỏi này vẫn còn khiến
nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả, nhiều nhà làm luật phải suy ngẫm
Nhƣ vậy, xuất phát từ chủ trƣơng, chính sách cải cách tƣ pháp; từ công
cuộc xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, thống nhất; từ tầm quan trọng
của việc nghiên cứu chế định địa vị pháp lý của bị cáo, từ ý nghĩa tích cực cả
2
về mặt chính trị, kinh tế, xã hội của chế định này, tôi đã lựa chọn: "Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam - Số liệu dựa trên thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh" là đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Địa vị pháp lý của bị cáo là một vấn đề quan trọng trong pháp luật
TTHS Việt Nam. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở các mức độ,
khía cạnh và phƣơng diện khác nhau về địa vị pháp lý của bị cáo. Có công
trình nghiên cứu địa vị pháp lý của bị cáo trong tổng thể mối liên hệ với địa vị
pháp lý của ngƣời bị tạm giữ, bị can. Có công trình lại nghiên cứu một quyền
nào đó của bị cáo trong tổng thể các quyền của bị cáo. Trong các công trình
nghiên cứu này, đáng chú ý là một số công trình sau:
2.1. Các sách và các giáo trình
Ở góc độ sách và giáo trình, có các ấn phẩm của các tác giả: Trần
Quang Tiệp (2009), Về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo trong TTHS, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn
Ngọc Chí (chủ biên) (2013), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Võ Thị Kim Oanh (2013), Giáo trình luật tố
tụng hình sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội; Võ Khánh Vinh(2012), Bình
Bình Sơn (2014), Quyền im lặng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 11;
Hồ Sỹ Sơn (2010), Quyền kháng cáo của người bị buộc tội trong tố tụng hình
sự Viêṭ Nam - thực trạng và các giải pháp đảm bảo, Tạp chí TAND số 6; Chu
Thị Trang Vân (2009), Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về
quyền, nghĩa vụ của bị can, bị cáo và cơ chế bảo đảm thực hiện, Tạp chí
Nghiên cứu luật pháp số 5.
2.3. Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ
2.3.1. Các luận án tiến sĩ
Nghiên cứu chuyên sâu về các quyền của bị cáo cũng nhƣ việc bảo đảm
4
các quyền của bị cáo phải kể đến: Lại Văn Trình (năm 2011), Bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam, Luận án
tiến sĩ luật học, Đại học Luật tp Hồ Chí Minh,tp Hồ Chí Minh; Nguyễn Sơn
Hà (2015), Hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS về quyền của bị can, bị
cáo, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
2.3.2 Các luận văn thạc sĩ
Ở góc độ luận văn thạc sĩ, đáng chú ý là: Phan Thị Hƣơng Giang (năm
2014), Bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội; Đoàn Thị Phƣơng Thảo (năm 2012), Địa vị pháp lý của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Luận văn thạc sĩ luật
học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội;Bùi Bảo Trâm (năm
2008), Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội;
Đỗ Thị Hƣờng (năm 2011), Quyền con người và vấn đề bảo đảm quyền bào
chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học,Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Nguyễn Thị Hồng Nhung (2014) Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của bị cáo trong
pháp luật TTHS Việt Nam. Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và tình
hình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị cáo trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh, luận văn đã đƣa ra những phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm khắc phục
những hạn chế và hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
địa vị pháp lý của bị cáo
Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp của
một số nƣớc trên thế giới nhƣ Nhật Bản, Liên Bang Nga…
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luật chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác - xít, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng nhà nƣớc pháp quyền, về
6
chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tƣ pháp đƣợc thể hiện trong các Nghị
quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày
24/5/2005 về "Chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam đến năm 2010, định hƣớng đến năm 2020", Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày
02/6/2005 về "Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020".
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phƣơng pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự nhƣ: Phƣơng pháp
phân tích và tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, đối chiếu; phƣơng pháp quy nạp,
diễn dịch; phƣơng pháp thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học và luận
chứng các vấn đề tƣơng ứng đƣợc nghiên cứu trong luận văn
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý kiến quan trọng về phƣơng diện
lý luận và thực tiễn
Về mặt lập pháp: Chƣa có một công trình khoa học cụ thể nào nghiên
dung của luận văn gồm ba chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề chung về địa vị pháp lý của bị cáo trong luật
tố tụng hình sự
Chương 2: Thực trạng của các quy phạm về địa vị pháp lý của bị cáo
trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Hoàn thiện một số vấn đề có liên quan đến địa vị pháp lý
của bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH ĐỊA VỊ
PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự
Địa vị pháp lý của bị cáo là một khái niệm rất tổng hợp. Để hiểu đƣợc
chính xác địa vị pháp lý của bị cáo là gì cần phải nghiên cứu một hệ thống các
phạm trù có liên quan nhƣ bị cáo là gì, địa vị pháp lý là gì, quyền và nghĩa vụ
của bị cáo là gì và các đặc điểm của chúng.
Đầu tiên là khái niệm bị cáo: Thuật ngữ bị cáo lần đầu tiên đƣợc xuất
hiện tại Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 của Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt
Nam nhƣng chƣa có khái niệm và cũng chƣa có quy định gì thể hiện bị cáo là
gì mà đó chỉ là quy định về quyền bào chữa của bị cáo "Bị cáo có thể tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho" [10]. Sau đó thuật ngữ này còn
đƣợc xuất hiện ở trong một số các văn bản pháp luật khác, tuy nhiên vẫn chƣa
có một khái niệm cụ thể. Mãi đến năm 1974, tại bản hƣớng dẫn kèm theo
hệ với chủ thể khác trên cơ sở các quy định pháp luật. Địa vị pháp
lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng nhƣ giới hạn khả
năng của chủ thể trong hoạt động của mình [4, tr. 244].
Theo bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia thì:
Tƣ cách pháp lý là tƣ cách của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hay
các chủ thể khác khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật
nhất định. Tƣ cách pháp lý cũng chính là địa vị pháp lý thể hiện vị trí,
vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật và đi liền với nó là
quyền lợi, nghĩa vụ cũng nhƣ trách nhiệm pháp lý phát sinh. Tƣ cách
10
pháp lý là nền tảng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi ngƣời
và cũng là điểm xuất phát để gỡ rối tranh chấp trong tố tụng.
Trong các khái niệm trên, theo tác giả thì khái niệm địa vị pháp lý của từ
điển Luật học là chính xác, đẩy đủ và ngắn gọn, súc tích hơn hẳn. Nhƣ vậy, có
thể hiểu địa vị pháp lý của một đối tƣợng mang những nét đặc trƣng riêng,
phân biệt giữa nhóm đối tƣợng này với nhóm đối tƣợng khác, có thể hiểu một
cách đơn giản và ngắn gọn về địa vị pháp lý chính là hệ thống các quyền và
nghĩa vụ của một đối tƣợng cụ thể.
Nhƣ vậy, theo tác giả, địa vị pháp lý của bị cáo thể hiện thành một tổng
thể các quyền và nghĩa vụ của ngƣời bị buộc tội đã thực hiện hành vi phạm tội
sau khi họ bị tòa án quyết định đƣa ra xét xử.
Địa vị pháp lý của bị cáo gồm hai phần riêng biệt là quyền của bị cáo và
nghĩa vụ của bị cáo, hai phần này tách biệt nhau nhƣng lại tạo nên một khái
niệm chung là địa vị pháp lý của bị cáo.
Theo sách Thuật ngữ pháp lý: "Quyền là những việc mà một người
được làm hoặc được hưởng không tùy thuộc vào sự lựa chọn của họ và được
hình sự. Một trong những tiêu chí cơ bản để xác định tính dân chủ và hoàn
thiện của hệ thống pháp luật chính là xem quyền con ngƣời, quyền công dân
đƣợc thể hiện trong luật nhƣ thế nào. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của
bị cáo trong luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành đã thể hiện tính dân chủ
sâu sắc, các quy định đều hƣớng tới việc đảm bảo các quyền và lợi ích cơ bản
của con ngƣời
Thứ năm: Là cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự một
cách nhanh chóng và hiệu quả. Chứa đựng các quy định về quyền và nghĩa vụ
của bị cáo nên qua đó các CQTHTT và ngƣời THTT hiểu đƣợc mình đƣợc
làm gì và phải làm gì cho bị cáo, chính vì thế giúp cho việc giải quyết vụ án
nhanh chóng, hiệu quả. Đồng thời các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị
cáo còn cho bị cáo biết mình đƣợc làm gì và phải làm gì góp phần bảo vệ
quyền lợi cho bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo giảm thiểu oan
sai và hiệu quả cao trong giải quyết vụ án.
13
1.1.2. Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo
trong luật tố tụng hình sự
1.1.2.1. Cơ sở của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố
tụng hình sự
Việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự xuất phát
từ nhiều những lý do khác nhau:
Thứ nhất là việc quy định về địa vị pháp lý bắt nguồn từ việc bảo đảm
thực hiện quyền con ngƣời:
Quyền con ngƣời trong TTHS là quyền của nhóm ngƣời dễ bị
tổn thƣơng trong xã hội, những ngƣời này dù tham gia với tƣ cách
là ngƣời bị buộc tội hay là ngƣời bị hại, ngƣời tham gia trong các
vụ án hình sự thì họ vẫn đƣợc pháp luật bảo vệ và tôn trọng những