ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG PHẠM THANH NGA
T×NH TIÕT GI¶M NHÑ TR¸CH NHIÖM H×NH Sù
“NG¦êI PH¹M TéI Tù NGUYÖN SöA CH÷A, BåI TH-êng THIÖT H¹I,
KH¾C PHôC HËU QU¶” TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG PHẠM THANH NGA
T×NH TIÕT GI¶M NHÑ TR¸CH NHIÖM H×NH Sù
“NG¦êI PH¹M TéI Tù NGUYÖN SöA CH÷A, BåI TH-êng THIÖT H¹I,
KH¾C PHôC HËU QU¶” TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRỊNH TIẾN VIỆT
HÀ NỘI - 2015
CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ............................................ 11
1.1.1. Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ............................. 11
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của tình tiết giảm trách nhiệm hình sự ............ 14
1.1.3. Phân loại tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ............................... 17
1.2.
KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TÌNH TIẾT
GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ NGƢỜI PHẠM TỘI TỰ
NGUYỆN SỬA CHỮA, BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI, KHẮC
PHỤC HẬU QUẢ VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI VIỆC QUYẾT
ĐỊNH HÌNH PHẠT............................................................................. 19
1.2.1. Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ngƣời phạm
tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả...... 20
1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc
phục hậu quả....................................................................................... 22
1.2.3. Mối quan hệ giữa tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ngƣời
phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục
hậu quả với việc quyết định hình phạt ............................................... 26
1.3.
TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ NGƢỜI
PHẠM TỘI TỰ NGUYỆN SỬA CHỮA, BỒI THƢỜNG
THIỆT HẠI, KHẮC PHỤC HẬU QUẢ TRONG BỘ LUẬT
HÌNH SỰ MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI ................................. 30
TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ NGƯỜI PHẠM TỘI TỰ
NGUYỆN, SỬA CHỮA, BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI, KHẮC
PHỤC HẬU QUẢ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM........ 64
3.1.
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH
NHIỆM HÌNH SỰ NGƢỜI PHẠM TỘI TỰ NGUYỆN, SỬA
CHỮA, BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI VÀ NHỮNG TỒN TẠI,
VƢỚNG MẮC ................................................................................... 64
3.1.1. Thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ngƣời phạm
tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả............... 64
3.1.2. Một số tồn tại, vƣớng mắc trong lập pháp và thực tiễn áp dụng
tình tiết giảm nhẹ TNHS ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa,
bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả ............................................ 79
3.1.3. Các nguyên nhân cơ bản .................................................................... 83
3.2.
SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
NGƢỜI PHẠM TỘI TỰ NGUYỆN, SỬA CHỮA, BỒI
THƢỜNG THIỆT HẠI ...................................................................... 87
3.2.1. Về mặt thực tiễn ................................................................................. 88
3.2.2. Về mặt lập pháp.................................................................................. 90
3.2.3. Về mặt lý luận .................................................................................... 90
3.3.
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
Tòa án nhân dân tối cao
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1: Bảng so sánh sơ bộ về quy định bồi thƣờng thiệt hại,
khắc phục hậu quả trong BLHS Việt Nam và BLHS
Liên bang Nga
32
Bảng 3.1: Thống kê xét xử và các vụ án áp dụng các tình tiết tại
điểm b, khoản 1, Điều 46 BLHS tại TAND thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến năm 2014
65
Bảng 3.2: Thống kê xét xử và các vụ án áp dụng các tình tiết tại
điểm b, khoản 1, Điều 46 BLHS tại TAND thành phố
Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến năm 2014
Tên biểu đồ
Trang
Tƣơng quan giữa số vụ án đã xét xử và số vụ án xét xử áp
Biểu đồ 3.1: dụng điểm b, khoản 1, điều 46 BLHS tại TAND thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến năm 2014
65
Tƣơng quan giữa số bị cáo đã xét xử và số bị cáo xét xử áp
Biểu đồ 3.2: dụng điểm b, khoản 1, điều 46 BLHS tại TAND thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến năm 2014
66
Tƣơng quan giữa số vụ án đã xét xử và số vụ án xét xử áp
Biểu đồ 3.3: dụng điểm b, khoản 1, Điều 46 BLHS tại TAND thành phố
Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến năm 2014
67
Tƣơng quan giữa số bị cáo đã xét xử và số bị cáo xét xử áp
Biểu đồ 3.4: dụng điểm b, khoản 1, Điều 46 BLHS tại TAND thành phố
Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến năm 2014
67
Tƣơng quan giữa số vụ án đã xét xử và số vụ án xét xử áp
Biểu đồ 3.5: dụng điểm b, khoản 1, Điều 46 BLHS tại TAND huyện
74
Biểu đồ 3.10: Cơ cấu số vụ án theo Chƣơng điều luật thuộc BLHS
Biểu đồ 3.11:
Thực trạng việc bị hại chấp nhận việc ngƣời phạm tội tự
nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả
75
76
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là một nhiệm vụ trọng tâm
của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay. Khi nền kinh tế, chính trị của đất nƣớc
tiến tới giao lƣu mở rộng, tình hình tội phạm phát triển với nhiều diễn biến
mới rất đa dạng, do đó cùng với tiến trình đổi mới đất nƣớc về kinh tế, văn
hóa, giáo dục và cải cách hành chính thì cải cách tƣ pháp cũng là một đòi hỏi
khách quan, cấp thiết, mang tính quy luật để kịp thời đáp ứng đƣợc những đổi
mới về văn hóa, kinh tế, chính trị… Nhận thức đƣợc điều này, tại các kì Đại
hội và các văn bản của Đảng nhƣ: Nghị quyết 8 Trung ƣơng khóa VII, Nghị
quyết 3 và 7 Trung ƣơng khóa VIII, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02-01-2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời
gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về
“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, yêu cầu cải cách tƣ pháp đã
chính thức đƣợc đặt ra nghiên cứu, bàn luận. Tiến tới hoàn thành nhiệm vụ
này, đòi hỏi hệ thống pháp luật nói chung, trong đó có PLHS nói riêng phải
ngày càng hoàn thiện, thực sự là công cụ hữu hiệu của Nhà nƣớc ta để bảo vệ
một cách tối đa và đầy đủ nhất các quyền, tự do của con ngƣời.
12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC)
song các hƣớng dẫn này vẫn còn hạn chế, chƣa cụ thể cho từng trƣờng hợp.
Đối với tình tiết giảm nhẹ TNHS "ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi
thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả" vẫn bị các cơ quan áp dụng pháp luật
đánh giá rất tùy tiện, thiếu sự nhất quán. Trƣờng hợp ngƣời phạm tội tự
nguyện sửa chữa hoặc bồi thƣờng thiệt hại hay chủ động khắc phục hậu quả
không đƣợc xem xét tách bạch nhƣ những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự riêng lẻ mà đều đƣợc gộp vào trong cùng một tình tiết giảm nhẹ TNHS nói
chung nên phần nào ảnh hƣởng tới việc xác định đúng và chính xác mức độ
2
TNHS đối với từng trƣờng hợp cụ thể… Bên cạnh đó, về mặt lý luận hiện nay
vẫn chƣa có nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, do vậy đây là
một đề tài hẹp nhƣng rất đáng quan tâm.
Tất cả những điều nói trên là lý do chúng tôi chọn đề tài "Tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sư “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi
thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” trong luật hình sự Việt Nam" làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Thuộc hệ thống các tình tiết giảm nhẹ TNHS có tác động tới việc quyết
định hình phạt, tình tiết giảm nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa,
bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả” đã phần nào nhận đƣợc nhiều sự
quan tâm của các nhà làm luật cũng nhƣ giới chuyên môn nghiên cứu PLHS,
bao gồm các công trình nghiên cứu sau:
* Về mặt khoa học pháp lý hình sự
Tình tiết giảm nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi
thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả” phần nào đã đƣợc quan tâm nghiên cứu
và đề cập trong hệ thống sách chuyên ngành luật học dùng trong các trƣờng
khái niệm, phân loại các tình tiết giảm nhẹ, ảnh hƣởng của nó tới việc quyết
định hình phạt... Tuy nhiên thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, việc đƣa các
tình tiết giảm nhẹ TNHS đó đi vào đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn, mỗi
tình tiết lại có những vƣớng mắc riêng cần đƣợc quan tâm nghiên cứu. Đối
với tình tiết giảm nhẹ TNHS “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường
thiệt hại, khắc phục hậu quả” vẫn ít gây đƣợc sự chú ý của giới nghiên cứu và
cho đến nay vẫn chƣa có một giáo trình hay một tài liệu tham khảo nào phân
tích chuyên sâu về nó. Bởi vậy, việc nghiên cứu về đề tài vẫn thực sự cần
thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt chính xác.
* Dưới góc độ đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ luật học: Cho đến
thời điểm hiện nay chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu tình tiết giảm
4
nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc
phục hậu quả” một cách độc lập, hầu nhƣ chỉ xem xét trong tổng thể các tình
tiết giảm nhẹ TNHS nói chung. Tiêu biểu nhƣ: Các tình tiết giảm nhẹ TNHS
trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Thị
Quang Vinh bảo vệ năm 2002 tại Viện Nhà nƣớc và pháp luật) và Tình tiết
giảm nhẹ TNHS trong việc định tội danh và quyết định hình phạt, Luận văn
thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Thanh Nga bảo vệ năm 2004 tại Trƣờng Đại học
Luật Hà Nội.
* Dưới góc độ bài viết trên các tạp chí khoa học: Tƣơng tự dƣới các
góc độ trên, tình tiết giảm nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa,
bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả” hầu nhƣ chỉ đƣợc phân tích khái
quát trong các bài viết nghiên cứu về các tình tiết giảm nhẹ TNHS nói chung
nhƣ sau: 1) Đặng Xuân Đào, Một số nội dung mới của các quy định về các
tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS trong BLHS Việt Nam (năm 1999), Tạp
chí TAND, số 8/2000; 2) PGS.TS. Dƣơng Tuyết Miên, Các tình tiết giảm nhẹ,
Nguyễn Cƣờng, Về tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa,
bồi thường thiệt hại”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10/1997; 2) Bùi Quang
Thạch, Về tình tiết giảm nhẹ TNHS người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi
thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2003. Nhƣ vậy,
có thể nói, dƣới nhiều góc độ nghiên cứu đây là nhóm bài viết duy nhất đã có
sự quan tâm sâu sắc đến tình tiết giảm nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự nguyện
sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả” thông qua việc phân tích
thực tiễn áp dụng nó trong quá trình tiến hành tố tụng nói chung và trong hoạt
động xét xử nói riêng. Tuy nhiên, vì chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu của một
bài viết trên tạp chí chuyên ngành nên chúng thƣờng phân tích, lý giải nhiều
hơn về thực tiễn mà ít đề cập tới mặt lý luận và thiếu đi sự trọn vẹn khi nhìn
nhận đánh giá điều luật.
Tóm lại, thông qua việc hệ thống các tài liệu trên đây nhận thấy ở
6
những góc độ nghiên cứu khác nhau, các tác giả đã đƣa ra bàn luận và giải
quyết đƣợc nhiều vấn đề của các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong đó có cả việc
áp dụng tình tiết “ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại,
khắc phục hậu quả”. Nhƣng vì tình tiết giảm nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự
nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả” chỉ đƣợc xem xét
ở một mức độ hạn chế trong nội dung nghiên cứu của các tác giả nên chƣa
đảm bảo đƣợc tính sâu sắc về lý luận và thực tiễn, chƣa đƣa ra đƣợc hƣớng
hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS này. Đặc biệt,
dƣới góc độ luận văn thạc sĩ luật học, cho đến nay vẫn chƣa có công trình nào
nghiên cứu tình tiết giảm nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa bồi
thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả” nhƣ một đề tài độc lập. Do vậy, việc tác
giả nghiên cứu đề tài “ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người
phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”
trong luật hình sự Việt Nam” là cấp thiết và phù hợp với định hƣớng sửa đổi,
cũng nhƣ đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hạ Long, thành
phố Móng Cái và huyện Hoành Bồ của tỉnh Quảng Ninh, từ đó rút ra một số
tồn tại, bất cập để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết
giảm nhẹ ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục
hậu quả trong luật hình sự Việt Nam
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu nhƣ sau:
Về lý luận: Luận văn phân tích khái niệm, các đặc điểm, nội dung cùng
lịch sử hình thành, phát triển và điều kiện áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS
“ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu
quả” trong luật hình sự Việt Nam từ trƣớc khi pháp điển hóa lần thứ nhất từ
năm 1985 đến nay; đồng thời so sánh với PLHS một số nƣớc trên thế giới nhƣ
Liên bang Nga, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Trung Hoa để làm sáng rõ bản
8
chất pháp lý và các nội dung cơ bản của tình tiết giảm nhẹ TNHS này.
Về thực tiễn: Luận văn nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng tình tiết giảm
nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc
phục hậu quả” trong thực tiễn xét xử tại địa bàn thành phố Hạ Long, thành
phố Móng Cái và huyện Hoành Bồ của tỉnh Quảng Ninh nơi tác giả đang
công tác qua số liệu 05 năm (2010-2014), đồng thời phân tích những tồn tại
xung quanh việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS này, từ đó đề xuất những
kiến nghị hoàn thiện BLHS Việt Nam về tình tiết giảm nhẹ TNHS này.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phƣơng pháp luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối, chính sách của Đảng về Nhà nƣớc, pháp luật,
về tội phạm, hình phạt; kết hợp với việc vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa
thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu
cầu của thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1: Các vấn đề chung về tình tiết giảm nhẹ TNHS ngƣời phạm
tội tự nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục
hậu quả.
Chương 2: Tình tiết giảm nhẹ TNHS ngƣời phạm tội tự nguyện sửa
chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả trong bộ luật
hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và những giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS ngƣời phạm tội tự
nguyện sửa chữa, bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả
trong Bộ luật hình sự Việt Nam.
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ “NGƯỜI PHẠM TỘI TỰ NGUYỆN
SỬA CHỮA, BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI, KHẮC PHỤC HẬU QUẢ”
1.1. KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ PHÂN LOẠI CÁC
TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Mỗi con ngƣời khi sinh ra đều có quyền tự do, đó là những quyền
không ai có thể tƣớc đoạt đƣợc. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội,
sự tự do của con ngƣời không còn phát triển một cách tùy tiện mà đƣợc đặt
trong quá trình xử lý vụ án hình sự. Với cách hiểu này, các tình tiết giảm nhẹ
TNHS gồm nhiều loại tình tiết nhƣ: tình tiết định tội, tình tiết định khung
giảm nhẹ, tình tiết giảm nhẹ TNHS đƣợc quy định tại Điều 46 BLHS, các tình
tiết đƣợc quy định ở các điều khác thuộc Phần chung BLHS mà sự hiện diện
của chúng cũng có ý nghĩa làm giảm mức độ TNHS. Tuy nhiên, với phạm vi
nghiên cứu tình tiết giảm nhẹ TNHS “ngƣời phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi
thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 nên
tác giả chỉ dừng lại xem xét tình tiết giảm nhẹ đƣợc ghi nhận trong Phần
chung BLHS.
Qua những lần pháp điển hóa luật hình sự, các nhà làm luật không đƣa
ra định nghĩa cụ thể tình tiết giảm nhẹ TNHS nhƣng trong khoa học pháp lý
hiện đang tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau:
Có tác giả cho rằng: “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là các tình tiết
trong một vụ án cụ thể nó sẽ làm giảm TNHS của người phạm tội trong một
khung hình phạt" [28, tr.240].
Tác giả khác định nghĩa:
12
Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết đƣợc quy định trong
Phần chung BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc
tình tiết đƣợc ghi nhận trong văn bản hƣớng dẫn áp dụng pháp luật
hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án đồng
thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa TNHS và hình
phạt đối với ngƣời phạm tội theo hƣớng giảm nhẹ hơn trong phạm
vi một khung hình phạt [41, tr.93].
Hay có tác giả lại đƣa ra khái niệm:
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết của vụ án
hình sự, liên quan đến việc giải quyết TNHS, có ý nghĩa làm giảm
nhắc quyết định áp dụng một mức hình phạt hợp lý, tương xứng với mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Nhƣ vậy, theo quan điểm của chúng tôi, khái niệm này đã thể hiện
đƣợc phạm vi quy định, phạm vi áp dụng, bản chất và hậu quả pháp lý của
việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với ngƣời phạm tội.
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của tình tiết giảm trách nhiệm hình sự
Từ những phân tích trên cho thấy, tình tiết giảm nhẹ TNHS phải có các
đặc điểm cơ bản nhƣ sau:
Thứ nhất, tình tiết giảm nhẹ TNHS đƣợc quy định cụ thể trong BLHS
(bao gồm 18 tình tiết đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 46) và ghi nhận trong
Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC hƣớng dẫn áp dụng một số quy định về Phần chung của BLHS năm
1999). Ngoài ra, trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tự mình xem xét, cân
nhắc coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS và ghi rõ lý do trong
bản án. Đặc điểm này có hai vấn đề cần chú ý: trƣớc hết, những tình tiết giảm
nhẹ TNHS nào đƣợc BLHS quy định với tính cách là yếu tố định tội hoặc là
yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm đƣợc nêu tại Phần các tội
phạm cụ thể thì trong quá trình xét xử Tòa án không đƣợc xem xét nó nhƣ là
14
tình tiết giảm nhẹ chung đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS. Nghĩa là,
một tình tiết giảm nhẹ cho dù biểu hiện dƣới hình thức nào thì cũng không thể
đƣợc áp dụng hai lần cho một trƣờng hợp phạm tội cụ thể. Tiếp đó, việc cho
phép Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS trong
từng vụ án đối với từng bị cáo cụ thể nhằm mở rộng tính linh hoạt, sáng tạo
trong hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm cho hoạt động xét xử đƣợc công
bằng, chính xác, khách quan. Nó giúp Tòa án tính toán đƣợc sự tƣơng xứng
giữa mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội với chế tài hình sự. Quy định
tiết nào thì đƣợc giảm TNHS đến đâu, điều đó phụ thuộc vào sự xem xét và
cân nhắc của Tòa án.
Thứ tư, các tình tiết giảm nhẹ TNHS rất phong phú, không xác định về
mặt số lƣợng. Chúng ta có thể xác định các tình tiết đƣợc quy định trong
Khoản 1 Điều 46 BLHS và các tình tiết đƣợc quy định tại điểm c, mục 5 Nghị
quyết số 01/2000/NQ-HĐTP (đã nêu). Ngoài các tình tiết nói trên thì trong
quá trình xét xử từng vụ án cụ thể, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là
tình tiết giảm nhẹ.
Thứ năm, ảnh hƣởng của từng tình tiết đến mức độ nguy hiểm của hành
vi phạm tội không giống nhau. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS khá phong phú
về mặt số lƣợng và ảnh hƣởng của chúng đối với tính chất, mức độ nguy hiểm
của hành vi phạm tội là khác nhau nên mức độ ảnh hƣởng của chúng đến việc
quyết định hình phạt là không giống nhau. Do đó, có thể nói, các tình tiết
giảm nhẹ TNHS cũng không hoàn toàn đồng đều nhau về ý nghĩa pháp lý, xã
hội, chính trị. Có tình tiết thì ảnh hƣởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt
và đối với mọi trƣờng hợp phạm tội, nhƣng có tình tiết thì ảnh hƣởng ít hơn.
Có tình tiết chỉ có ý nghĩa đáng kể với một số tội phạm, còn đối với những tội
phạm khác thì chỉ có ý nghĩa rất hạn chế. Mặt khác, Điều 47 BLHS quy định:
Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1
16