ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGỌC THIỆN
C¸C T×NH TIÕT GI¶M NHÑ TR¸CH NHIÖM H×NH Sù
§èI VíI NG¦êI CH¦A THµNH NI£N PH¹M TéI
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGỌC THIỆN
C¸C T×NH TIÕT GI¶M NHÑ TR¸CH NHIÖM H×NH Sù
§èI VíI NG¦êI CH¦A THµNH NI£N PH¹M TéI
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ NGỌC QUANG
HÀ NỘI - 2016
1.1.3. Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người
chưa thành niên phạm tội ................................................................... 15
1.2.
Chính sách xử lý hình sự của Nhà nước đối với người chưa
thành niên phạm tội ......................................................................... 15
1.3.
Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội ............................................................................................. 21
1.3.1. Giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 ......... 21
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 ................................................... 24
1.3.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1999 đến nay .................. 26
1.4.
Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự......................................................... 27
1.4.1. Quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 1999 ......................................... 27
1.4.2. Quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 ................................. 42
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN PHẠM TỘI GIAI ĐOẠN TỪ 2011 ĐẾN 2015 VÀ CÁC
KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP .........................................................................47
Trang
Bảng 2.1. Thống kê số người chưa thành niên phạm tội trong
tổng số người phạm tội từ năm 2011 đến năm 2015
47
Bảng 2.2. Thống kê số lượng bị cáo là người chưa thành niên trong
tổng số bị cáo bị xét xử từ năm 2011 đến năm 2015
48
Bảng 2.3. Cơ cấu loại tội phạm do người chưa thành niên thực
hiện từ năm 2011 đến năm 2015
49
Bảng 2.4. Bảng thống kê tỷ lệ các vụ án có áp dụng các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở nghiên cứu
xác suất 100 vụ án, tại một số địa phương
53
Bảng 2.5. Bảng thống kê tỷ lệ các vụ án do người chưa thành niên
phạm tội có áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự trên cơ sở nghiên cứu xác suất 100 vụ án do
người chưa thành niên thực hiện tại một số địa phương
53
. Điều này đặt ra yêu cầu về
việc xem xét lại cách thức xử lý người chưa thành niên phạm tội ở nước ta
để bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Bên cạnh đó, những bất cập
trong công tác giáo dục, cải tạo người bị kết án phạt tù cũng gây nhiề u tác
đô ̣ng tiêu cực đế n khả năng phu ̣c hồ i của người chưa thành niên
ly khỏi xã hô ̣i cũng ảnh hưởng tiêu cực
1
. Viê ̣c cách
, khiế n các em có cảm giác bi ̣bỏ
rơi, bị đẩy ra lề xã hội , đồ ng thời có thể gây ra sự kỳ thi ̣ , xa lánh của cô ̣ng
đồ ng đố i với các em . Đây chiń h là những trở nga ̣i đố i với quá triǹ h phu ̣c
hồ i và tái hoà nhâ ̣p của người chưa thành niên pha ̣m tô ̣i
. Thực tiễn đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên ở Việt Nam
cũng như ở các nước trên thế giới cho thấy các chế tài giam giữ trong nhiều
trường hợp tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất lợi cho quá trình phục hồi, tái hòa
nhập cộng đồng của người chưa thành niên.
Từ vấn đề lý luận và thực tiễn trên thì ta thấy vấn đề đặt ra đó là có nên
áp dụng nhiều hơn nữa các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội không; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự đối với người chưa thành niên phạm tội có áp dụng với người đã thành niên
phạm tội không và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với
những đề tài đã được nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý
luận nội dung cơ bản của những quy định của pháp luật về các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật
hình sự Việt Nam, xác định những bất cập để đề xuất những giải pháp cụ thể,
góp phần tiếp tục hoàn thiện những quy định này trong thời gian tới.
Để đạt mục đích nêu trên, Luận văn đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận
và cơ sở pháp lý của việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đối với người chưa thành niên phạm tội. Trong đó đi sâu vào nghiên cứu các
vấn đề: khái quát về người chưa thành niên, tâm lý của lứa tuổi chưa thành
niên, đặc điểm khả năng nhận thức và điều khiển hành vi cũng như sự tác
động của đời sống xã hội với tâm lý và hành vi phạm tội của lứa tuổi chưa
thành niên; chính sách hình sự của Nhà nước xử lý đối với người chưa thành
niên phạm tội; quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về áp dụng các
tình tiết giảm nhẹ đối với người chưa thành niên phạm tội; những quy định
3
của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cùng với
các quy định của các văn bản pháp luật khác có liên quan đến việc áp dụng
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và thực tiễn việc áp dụng đối với người
chưa thành niên phạm tội.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là quy định của pháp luật hình sự
Việt Nam và các văn bản liên quan khác về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự nói chung và vấn đề áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng; các nguyên tắc về xử lý
người chưa thành niên phạm tội, cũng như các quy định trong việc áp dụng
- Luận văn làm sáng tỏ về chính sách xử lý hình sự đối với người chưa
thành niên phạm tội và cũng làm sáng tỏ quá trình phát triển của pháp luật Việt
Nam về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Luận văn xây dựng được cơ sở của việc áp dụng các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn
việc áp dụng các tình tiết này trên thực tế xét xử.
- Luận văn đánh giá, và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát
triển, đổi mới những quy định của pháp luật để hoàn thiện hơn nữa chế định này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự đối với người chưa thành niên phạm tội giai đoạn từ 2011 đến 2015 và các
kiến nghị giải pháp.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT
GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì khi quyết
định hình phạt, Toà án không chỉ căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình
sự, căn cứ vào mức nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân
người phạm tội mà còn phải căn cứ vào các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ
pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản
án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách
nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng
giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt.
Qua khái niệm đã nêu ra ở trên và phân tích các quy định của Bộ luật
Hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 có liên quan đến các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng chúng, có thể chỉ ra một số
đặc điểm cơ bản của các tình tiết này:
Thứ nhất, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể
trong Bộ luật hình sự (bao gồm 18 tình tiết được quy định tại Khoản 1 Điều
46 BLHS 1999 và 22 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
2015). Ngoài ra, nó còn được ghi nhận trong Nghị quyết số 01/2000/NQHĐTP ngày 04/08/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn áp dụng một số quy định về Phần chung của Bộ luật hình sự năm
1999. Thậm chí, trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tự mình xem xét, cân
nhắc coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ghi
rõ lý do trong bản án. Đặc điểm này có hai vấn đề cần lưu ý: trước hết, những
7
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào được Bộ luật hình sự quy định với
tính cách là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt đối với một
tội phạm được nêu tại phần các tội phạm cụ thể thì trong quá trình xét xử, Tòa
án không được xem xét nó như là tình tiết giảm nhẹ chung được quy định tại
Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999. Nghĩa là một tình tiết giảm nhẹ cho
dù biểu hiện dưới hình thức nào thì cũng không thể được áp dụng hai lần cho
một trường hợp phạm tội cụ thể. Tiếp đó, việc cho phép Toà án có thể coi các
tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong từng vụ án đối
với từng bị cáo cụ thể nhằm mở rộng tính linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động
xét xử của Toà án, bảo đảm cho hoạt động xét xử được công bằng, chính xác,
Cuối cùng, ảnh hưởng của từng tình tiết đến mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội không giống nhau. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự khá phong phú về mặt số lượng và ảnh hưởng của chúng đối với tính chất,
mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội là khác nhau và do đó, mức độ ảnh
hưởng của chúng đến việc quyết định hình phạt là không giống nhau. Có tình
tiết thì ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt và đối với mọi trường
hợp phạm tội, nhưng có tình tiết thì ảnh hưởng ít hơn. Có tình tiết chỉ có ý
nghĩa đáng kể với một số tội phạm, còn đối với những tội phạm khác thì chỉ
có ý nghĩa rất hạn chế. Mặt khác, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:
Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1
Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định
nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật;
trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung
hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án
có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc
chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn [26, Điều 47].
Theo đó, khả năng “có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp
9
nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định” chỉ có thể thực hiện “khi
có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46”. Logic này cho
phép suy đoán rằng, theo quan điểm của nhà làm luật, các tình tiết được quy
định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự 2015, có vị trí cao hơn, ảnh hưởng nhiều hơn đến mức độ ít nguy
hiểm của hành vi phạm tội so với các tình tiết được hướng dẫn trong điểm c
mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP và các tình tiết khác mà Tòa án
xem xét, cân nhắc quyết định cho bị cáo được hưởng trong quá trình xét xử.
Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành
niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” [31, Điều 18]. Bộ luật
Lao động cũng quy định “Người lao động thành niên là người đủ 18 tuổi”.
Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự
phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng
giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo đó,
người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên.
Như vậy, người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn
thiện về thể chất và tinh thần, chưa có được đầy đủ các quyền chủ thể và
nghĩa vụ pháp lý như những người đã thành niên [11].
Người chưa thành niên phạm tội là người thực hiện hành vi bị coi là tội
phạm và được quy định trong bộ luật hình sự, có đủ điều kiện phải chịu trách
nhiệm hình sự và có thể bị xử lý theo pháp luật hình sự [22, tr. 25]. Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999 chỉ ra khái niệm tội phạm:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật hình sự, do người có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý
thực hiện một cách cố ý và vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng an ninh, trật tự, an toàn xã
hội, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và
11
lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [26, Điều 8, Khoản 1].
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định đối với người chưa
thành niên phạm tội ở mỗi quốc gia là không giống nhau vì tùy vào nhiều yếu
tố như học vấn, điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử văn hóa của mỗi dân tộc. Giới
nhất của độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó người chưa thành niên
chưa đủ 14 tuổi trong mọi trường hợp đều không bị coi là người phạm tội vì
không phải chịu trách nhiệm hình sự, kể cả trường hợp đã thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội ở mức độ rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Cá nhân người viết đồng tình với quan điểm cho rằng: Người chưa
thành niên phạm tội chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng
chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
luật hình sự. [22, tr. 26]. Bộ luật hình sự 1999 quy định về áp dụng Bộ luật
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội cũng quy định về độ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên là từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi:
“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định của Chương này, đồng thời theo những
quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với quy định của Chương
này” [26, Điều 68]. Ngoài ra, đối với người chưa thành niên, việc xác định
một trường hợp cụ thể người có hành vi phạm tội có trở thành tội phạm hay
không còn phải căn cứ vào các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành
niên phạm tội được quy định tại Bộ luật Hình sự 1999:
1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm
giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở
thành công dân có ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra,
truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức
của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
13
2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách
nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội
gây ra như sau: “Tội phạm do người chưa thành niên gây ra là những hành vi
nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người dưới 18 tuổi và người đó phải
chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi và lỗi của mình theo phán xét
của cơ quan tiến hành tố tụng”.
1.1.3. Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội
Như trên đã trình bày thì tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là
những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh hưởng đến
việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành
vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu trách nhiệm hình sự ở
mức thấp hơn. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong
Bộ luật hình sự, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Toà
án cân nhắc, xem xét quyết định trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, phản
ảnh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Theo người viết cho rằng, khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội có thể được hiểu là những
biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có ảnh hưởng đến việc thực
hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm
tội và là cơ sở để người chưa thành niên phạm tội có thể chịu trách nhiệm
hình sự ở mức thấp hơn. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy
định trong Bộ luật hình sự, trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật
hoặc do Toà án cân nhắc, xem xét quyết định trong quá trình xét xử các vụ án
cụ thể, phản ảnh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với
người chưa thành niên phạm tội.
1.2. Chính sách xử lý hình sự của Nhà nước đối với người chưa
thành niên phạm tội
Xuất phát từ cơ sở lý luận của chính sách hình sự được ghi nhận trong
15
– Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bộ luật hình sự có quy định nguyên tắc
xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, nhưng không đưa ra nguyên tắc
xử lý đối với bị can là người chưa thành niên.
Chính sách đối với người chưa thành niên trong lĩnh vực hình sự chủ
yếu liên quan đến năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mục đích áp dụng trách
nhiệm hình sự nặng về giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành
mạnh để họ trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội chứ không nặng về trừng
phạt “Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục,
giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có
ích cho xã hội” [26]. Khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự 1999 quy định rõ mục
đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội, đó là giáo dục, giúp đỡ
người chưa thành niên sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành
công dân có ích cho xã hội. Cũng trên tinh thần đó, Bộ luật hình sự 2015
quy định “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt
nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ
sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã
hội” [27, Điều 91, khoản 1]. Khoản 1 Điều 91 này bổ sung thêm nguyên tắc
“phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”. Bộ luật hình sự 2015
sửa đổi theo hướng cụ thể hơn. Đây là nguyên tắc xuyên suốt, cần phải tuân
thủ cho dù áp dụng biện pháp xử lý nào đối với người chưa thành niên.
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của
người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải căn cứ vào
độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Đây là nguyên
tắc mang tính chỉ đạo, thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta
trong quá trình xử lý người chưa thành niên phạm tội. Nguyên tắc này đòi hỏi
người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa
luật này … . [26, Điều 69].
18
Còn trong Bộ Luật hình sự năm 2015 quy định tại Điều 91, vẫn trên tinh
thần kế thừa quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự 1999 về nguyên tắc xử lý đối
với người chưa thành niên phạm tội nhưng quy định chi tiết cụ thể hơn. Cụ thể:
khoản 1 Điều 91 nhấn mạnh thêm về việc đảm bảo lợi ích tốt nhất của người
dưới 18 tuổi; khoản 2 Điều 91 quy định chi tiết hơn về các trường hợp được
miễn trách nhiệm hình sự đối vời người chưa hành niên phạm tội và được áp
dụng các biện pháp quy định tại mục 2 chương này (chương XII những quy
định đối với người dưới 18 tuổi); khoản 4 Điều 91 quy định nguyên tắc:
Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng
một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện
pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này
không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa [27, Điều 91].
thay vì như quy định trước đây là phải đánh giá cân nhắc việc áp dụng
hình phạt trước nếu xét thấy không cần thiết thì mới áp dụng các biện pháp
giáo dục phòng ngừa.
Trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về vấn đề người tiến hành
tố tụng và những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người chưa
thành niên chi tiết và cụ thể hơn trong hai điều luật Điều 415, Điều 416:
Người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới
tuổ i phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm
truy tố , xét xử vụ án liên quan đến người dưới
biết cần thiết về tâm lý học
18