I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
O PHNG
THANH
PHÂN HóATRáCH NHIệM HìNH Sự
TRONG CáC QUY ĐịNH CủAQUốC TRIềU HìNH LUậT BàI HọC LịCH Sử CHO HOàN THIệN CáC QUY ĐịNH
CủABộ LUậT HìNH Sự VIệT NAM HIệN HàNH
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
O PHNG
THANH
PHÂN HóATRáCH NHIệM HìNH Sự
TRONG CáC QUY ĐịNH CủAQUốC TRIềU HìNH LUậT BàI HọC LịCH Sử CHO HOàN THIệN CáC QUY ĐịNH
CủABộ LUậT HìNH Sự VIệT NAM HIệN HàNH
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. HONG VN HNG
trách nhiệm hình sự........................................................................... 9
1.2.
Căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự .......................................... 16
1.3.
Những yêu cầu của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình
sự trong việc quy định tội phạm và hình phạt.............................. 20
1.3.1.
Yêu cầu của phân hóa trách nhiệm hình sự đối với các quy định
về phân loại tội phạm ........................................................................ 20
1.3.2.
Yêu cầu của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với quy
định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm
hình sự................................................................................................ 21
1.3.3.
Yêu cầu của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với
quy định về hệ thống hình phạt ......................................................... 23
1.3.4.
Yêu cầu của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với
2.2.
Biểu hiện của phân hóa trách nhiệm hình sự trong Quốc
triều Hình luật.................................................................................. 45
2.2.1.
Phân hóa trách nhiệm hình sự qua phân loại tội phạm ..................... 45
2.2.2.
Phân hóa trách nhiệm hình sự trong các biện pháp tha miễn............ 51
2.2.3.
Phân hóa trách nhiệm hình sự qua phân loại hình phạt..................... 55
2.2.4.
Phân hóa trách nhiệm hình sự qua các quy định về quyết định
hình phạt ............................................................................................ 64
2.2.5.
Phân hóa trách nhiệm hình sự trong việc xây dựng cấu thành tội
phạm và quy định chế tài đối với các tội phạm cụ thể ...................... 79
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 85
Chƣơng 3: BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ PHÂN HÓA TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT........................ 88
3.8.
Bài học thứ tám, về tăng mức phạt tiền đối với các tội phạm
về chức vụ ......................................................................................... 97
3.9.
Bài học thứ chín, về quy định bồi thƣờng thiệt hại...................... 98
3.10.
Bài học thứ mƣời, về trách nhiệm hình sự của pháp nhân ......... 98
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................... 102
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
BLHS
Bộ luật hình sự
LHS
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
"Quốc triều Hình luật" ra đời trong triều đại Hậu Lê - thời kì phát triển
cực thịnh của nhà nƣớc phong kiến ở Việt Nam. Do nhu cầu phát triển của
chế độ Trung ƣơng tập quyền, các vua triều Lê sớm đã ban hành những quy
định và luật lệ để quản lí đất nƣớc.
Ngay từ lúc mới lên ngôi, vua Lê Lợi đã giao cho một số đại thần soạn
luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất, về hình phạt, ân xá,… Đến thời Lê
Thái Tông đã xây dựng những nguyên tắc xử các vụ án kiện cáo, hối lộ và về
những giao dịch với ngƣời nƣớc ngoài. Đời vua Lê Nhân Tông đã ban hành 14
điều luật về quyền tƣ hữu ruộng đất [22, tr. 28]. Và đỉnh cao của quá trình xây
dựng hệ thống luật pháp của nhà Lê chính là việc ban hành "Quốc triều Hình
luật" (còn gọi là "Bộ luật Hồng Đức" hoặc "Lê triều Hình luật") dƣới triều vua
Lê Thánh Tông năm 1483. Điều đáng nói là Quốc triều Hình luật cũng chính là
bộ luật cổ xƣa nhất còn lƣu giữ đƣợc đầy đủ cho tới nay. Văn bản gốc của
Bộ luật này hiện nay không còn. Bản "Quốc triều Hình luật" đƣợc giữ lại cho
đến ngày nay đã đƣợc các vua thời Lê mạt bổ sung ít nhiều, ban hành năm
1777 (Cảnh Hƣng thứ 38). Bộ Quốc triều Hình luật bao gồm 6 quyển, 722 điều.
Quốc triều Hình luật là một trong những bộ luật quan trọng và giá trị
nhất trong thời kì phong kiến. Nói đến Quốc triều Hình luật ngƣời ta nghĩ
ngay đến một bộ cổ luật có kĩ thuật lập pháp cao, nội dung phong phú, toàn
diện với nhiều giá trị nổi bật trong lịch sử pháp luật Việt Nam nói chung và pháp
luật về hình sự nói riêng. Quốc triều Hình luật không những đƣợc đánh giá
cao hơn hẳn so với những thành tựu pháp luật của các triều đại trƣớc đó mà
còn chứa đựng nhiều ý nghĩa quan trọng đối với việc biên soạn những bộ
1
luật khác của các triều đại phong kiến sau này cũng nhƣ đối với pháp luật
hình sự Việt Nam thời hiện đại. Một trong những giá trị nổi bật của Quốc triều
(2013), Tội phạm và TNHS, Nxb. Chính trị quốc gia; Võ Khánh Vinh (1990),
Nguyên tắc cá thể hóa việc quyết định hình phạt, tạp chí TAND, số 8… Nhìn
chung, các công trình này đã nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về
nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng nhƣ những biểu hiện của
nguyên tắc này trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1999. Trong các công trình
nghiên cứu đã liệt kê, luận án tiến sĩ luật học "Nguyên tắc phân hóa TNHS
trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả Cao Thị Oanh là một công trình khoa
học có giá trị tham khảo lớn, luận án đã làm rõ các nội dung cơ bản của nguyên
tắc phân hóa trách nhiệm hình sự: lịch sử, cơ sở phân hóa, nội dung, yêu cầu
của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với các quy định trong Bộ
luật hình sự, đồng thời, luận văn cũng làm rõ mỗi quan hệ giữa nguyên tắc
phân hóa trách nhiệm hình sự và một số nguyên tắc cơ bản khác của luật hình
sự.
Nhóm các công trình nghiên cứu về Luật hình sự Việt Nam thời phong
kiến mà chủ yếu là thông qua 2 bộ cổ luật Quốc triều Hình luật (còn gọi là Bộ
luật Hồng Đức, Lê triều Hình luật) và Hoàng Việt luật lệ, về lịch sử pháp luật
hình sự Việt Nam qua các thời kì nhƣ: Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Vấn đề tội
phạm trong Quốc triều Hình luật, sách Quốc triều Hình luật - lịch sử hình
thành, nội dung và giá trị, chủ biên TS. Lê Thị Sơn, Nxb. Khoa học - Xã hội; Cao
Thị Oanh (2007), Sự thể hiện của nguyên tắc phân hóa TNHS trong các tội
xâm phạm tính mạng con người trong Hoàng Việt luật lệ, tạp chí NN và PL,
số 3; Lê Thị Sơn (2004), Quốc triều hình luật - lịch sử hình thành, nội dung
và giá trị, Nxb. Khoa học - xã hội, Hà Nội; Lê Thị Sơn (2010), Quốc triều
hình luật và các nguyên tắc của Luật hình sự hiện đại, tạp chí NN và PL; Trần
Quang Tiệp (2003), Lịch sử luật hình sự Việt Nam, Nxb. Trong đó, sách Quốc
triều hình luật - lịch sử hình thành, nội dung và giá trị của tác giả Lê Thị Sơn
(2010) là một công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về
5
của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện đại. Từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
hình sự dựa trên việc kế thừa và phát huy thành tựu phân hóa TNHS của Quốc
triều Hình luật.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm khoa học về
nguyên tắc phân hóa TNHS, các quy định của Quốc triều Hình luật, các quy
định của Bộ luật hình sự 1999 và của luật hình sự một số nƣớc trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu: hiện nay có rất nhiều vấn đề liên quan đến Quốc
triều Hình luật đang đƣợc quan tâm, tuy nhiên, tác giả chỉ thực hiện luận văn
trong phạm vi những vấn đề đƣợc nhìn nhận từ góc độ luật hình sự.
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp luận: Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng
và Nhà nƣớc ta về phòng ngừa và chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Phƣơng pháp nghiên cứu: phƣơng pháp hệ thống, phƣơng pháp lịch
sử cụ thể, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp
thống kê…
6. Những đóng góp mới của đề tài
Đây là luận văn thạc sĩ luật học đầu tiên trong khoa học luật hình sự
nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về phân hóa trách nhiệm hình sự trong
Quốc triều Hình luật. Luận văn có một số đóng góp mới sau:
Thứ nhất, chứng minh Phân hóa TNHS đƣợc thể hiện nhƣ một nguyên
tắc trong Quốc triều hình luật;
Thứ hai, phân tích, so sánh và chỉ ra những điểm mang tính kế thừa từ
Quốc triều hình luật trong phân hóa TNHS của Luật hình sự Việt Nam hiện đại;
Thứ ba, kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam 1999 trên cơ sở
thực tiễn cũng nhƣ truyền thống pháp lí của đất nƣớc.
nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình
sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cƣỡng chế của trách nhiệm hình sự
(hình phạt, biện pháp tƣ pháp) và chịu mang án tích [44, tr.21]; …
Các quan điểm đó tuy có sự khác nhau về một số nội dung nhƣ thời
điểm bắt đầu trách nhiệm hình sự, các yếu tố của trách nhiệm hình sự…
nhƣng tựu chung lại, đa số các quan điểm đều phản ánh thống nhất một số
đặc điểm của trách nhiệm hình sự nhƣ sau: 1) Trách nhiệm hình sự là hậu quả
pháp lí của việc thực hiện hành vi phạm tội; 2) Trách nhiệm hình sự chỉ có thể
đƣợc xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ
quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện; 3) Trách nhiệm
9
hình sự đƣợc biểu hiện tập trung nhất ở việc ngƣời phạm tội phải chịu biện
pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc là hình phạt; 4) Trách
nhiệm hình sự mà ngƣời phạm tội phải gánh chịu là trách nhiệm trƣớc nhà
nƣớc; 5) Trách nhiệm hình sự phải đƣợc phản ánh trong bản án hay quyết
định có hiệu lực pháp luật.
Nhƣ vậy, hình phạt là yếu tố thể hiện tập trung nhất trách nhiệm hình
sự của ngƣời phạm tội. Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất
của nhà nƣớc đối với một ngƣời có hành vi vi phạm pháp luật. Việc áp dụng
hình phạt đối với ngƣời phạm tội là:
Không chỉ nhằm trừng trị ngƣời phạm tội mà còn giáo dục họ
trở thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và
các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội
mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục ngƣời khác tôn trọng pháp luật,
đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm [37, Điều 27].
Vì vậy, hình phạt vừa có tác động tới chính bản thân ngƣời bị áp dụng,
vừa có ảnh hƣởng răn đe đối với xã hội, qua đó có ý nghĩa trong công cuộc đấu
có thể phản ánh khả năng giáo dục khác nhau hoặc phản ánh hoàn cảnh đặc biệt
của ngƣời phạm tội nhƣ tuổi của ngƣời phạm tội, ngƣời phạm tội là phụ nữ có
thai, ngƣời phạm tội là ngƣời chƣa thành niên,… Những đặc điểm khác biệt
này cũng cần đƣợc xem xét khi áp dụng trách nhiệm hình sự, vì hiệu quả của
biện pháp xử lí hình sự đƣợc áp dụng phần nào phụ thuộc vào mức độ phù hợp
của biện pháp đó với các đặc điểm nhân thân ngƣời phạm tội.
Nhƣ vậy, sự đa dạng về tính nguy hiểm cho xã hội tội phạm
và nhân thân ngƣời phạm tội đặt ra yêu cầu xử lí tội phạm theo
hƣớng phân hóa để đảm bảo biện pháp xử lí đối với mỗi trƣờng hợp
phạm tội tƣơng xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và
phù hợp với nhân thân ngƣời phạm tội. Đó chính là điều kiện để
những ngƣời bị xử lí tự giáo dục ý thức tự giác chấp hành pháp luật
cũng nhƣ để mọi ngƣời tin tƣởng vào sự nghiêm minh của pháp luật
13
và nhờ đó lợi ích của nhà nƣớc, của xã hội, của cá nhân đƣợc đảm
bảo ở mức độ tốt nhất. Ngƣợc lại, nếu phân hóa trách nhiệm hình sự
không trở thành một nguyên tắc của luật hình sự thì việc quy định và
áp dụng trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội có thể không
tƣơng xứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm hoặc
không phù hợp với các đặc điểm nhân thân ngƣời phạm tội. Khi đó,
các chế tài hình sự không phát huy đƣợc hết khả năng răn đe, giáo
dục, lòng tin vào sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật bị xói
mòn, thậm chí có thể phát sinh tƣ tƣởng bất mãn, khinh nhờn pháp
luật. Tất cả các hiện tƣợng đó đều ảnh hƣởng tiêu cực đối với trật tự
pháp luật. Nói cách khác, phân hóa trách nhiệm hình sự cần phải trở
thành tƣ tƣởng chỉ đạo, định hƣớng đối với toàn bộ quá trình quy
định tội phạm và trách nhiệm hình sự và việc phân hóa trách nhiệm
chế tài khác nhau đối với các tội phạm khác nhau về tính nguy hiểm cho xã
hội… Đây chính là cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong những trƣờng hợp
phạm tội cụ thể. Khi tiến hành xác định trách nhiệm hình sự cho từng trƣờng
hợp phạm tội, các cơ quan áp dụng luật vận dụng đƣờng lối phân hóa trách
nhiệm hình sự vào từng trƣờng hợp cụ thể để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình
sự cho từng ngƣời phạm tội cụ thể.
Nhƣ vậy, phân hóa trách nhiệm hình sự vừa xuất phát từ cơ sở thực tiễn là
sự đa dạng về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, vừa luôn thể hiện vai
trò định hƣớng, chỉ đạo quá trình xây dựng và áp dụng luật hình sự. Phân hóa
trách nhiệm hình sự là "tư tưởng chủ đạo và là định hướng cơ bản được thể
hiện trong pháp luật hình sự, cũng như trong giải thích và trong áp dụng
pháp luật hình sự" [5, tr.201]. Do đó, nó hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu đối với
một nguyên tắc của luật hình sự - nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự,
với nội dung là: trách nhiệm hình sự đƣợc quy định và áp dụng phải mang
tính phân hóa để đảm bảo tƣơng xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm và phù hợp với nhân thân ngƣời phạm tội.
15
1.2. Căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự
Căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự chính là tiêu chí đƣợc nhà làm
luật sử dụng để phân tội phạm thành những nhóm khác nhau. Những tiêu chí
này phải đáp ứng đƣợc yêu cầu là khi đƣợc sử dụng để phân chia các trƣờng
hợp phạm tội thì có thể tạo ra những nhóm trƣờng hợp phạm tội cần đƣơc xử lí
một cách khác biệt. Thực tiễn lập pháp hình sự cho thấy, luật hình sự sử dụng
hai căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự là tính nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm và nhân thân ngƣời phạm tội.
Căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự thứ nhất: tính nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm
chất thực tế, nó phải đƣợc hạn chế bởi nguyên tắc của pháp luật để
trở thành hợp pháp. Vấn đề là ở chỗ làm cho sự trừng phạt trở thành
hậu quả thực tế của việc phạm tội. Dƣới con mắt của kẻ phạm tội,
sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính ngƣời đó do đó phải là hành vi của chính ngƣời đó. Giới hạn của hành vi của
y phải là giới hạn của sự trừng phạt [2, tr.169].
Nhƣ vậy, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đƣợc sử dụng là căn
cứ phân tội phạm thành những nhóm khác nhau là yêu cầu khách quan, bởi: 1)
Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu thể hiện bản chất của tội phạm; 2) Tội
phạm trên thực tế rất khác nhau về tính nguy hiểm cho xã hội.
Với vai trò quan trọng đặc biệt, căn cứ tính nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm phải đƣợc sử dụng trong mọi trƣờng hợp cần tiến hành phân hóa trách
nhiệm hình sự. "Ngay cả trong những trường hợp đặc điểm nhân thân người
phạm tội ảnh hưởng đáng kể đến mức độ trách nhiệm hình sự được quy định và
áp dụng thì căn cứ nhân thân người phạm tội không thể thay thế được vai trò của
tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm" [34, tr.23].
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đƣợc phản ánh qua những yếu tố
khác nhau nhƣ: tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, tính chất của hành
17
vi phạm tội, hình thức của tội phạm, hoàn cảnh, thời gian, địa điểm phạm tội,
mức độ hậu quả của tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra, tính chất và mức độ
lỗi… Do đó, để xác định đúng mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cần
phải đánh giá một cách tổng hợp tất cả các yếu tố có liên quan.
Trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự dựa trên cơ sở tính nguy hiểm
cho xã hội của hành vi, nhà làm luật cần lựa chọn những trƣờng hợp phạm tội
có tính nguy hiểm tƣơng đƣơng nhau để xếp chúng vào cùng một nhóm và
tách những trƣờng hợp có sự khác biệt đáng kể về tính nguy hiểm cho xã hội
thành các nhóm khác nhau. Tuy nhiên, nhà làm luật không nên chia tách các