ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ BÍCH HẠNH
TéI GIAO CÊU VíI TRÎ EM
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ BÍCH HẠNH
TéI GIAO CÊU VíI TRÎ EM
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRƯƠNG QUANG VINH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước
pháp điển hóa lần thứ nhất- Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985.... 15
1.2.2. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến
trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1986 .............................. 18
1.2.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 cho đến
trước khi ban hành Bộ luật Hình sự 1999 ......................................... 21
1.2.4. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự 1999 đến nay ................ 22
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
NĂM 1999 VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI TRẺ EM........................... 24
2.1.
Dấu hiệu pháp lý của tội giao cấu với trẻ em ............................... 24
2.1.1. Khách thể của tội giao cấu với trẻ em .............................................. 24
2.1.2. Mặt khách quan của tội giao cấu với trẻ em ..................................... 27
2.1.3. Chủ thể của tội giao cấu với trẻ em .................................................. 32
2.1.4. Mặt chủ quan của tội giao cấu với trẻ em ......................................... 34
2.2.
Đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em ....... 42
2.2.1. Đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em theo
quy định tại Khoản 1 Điều 115 ........................................................ 42
2.2.2. Đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em theo
quy định tại Khoản 2 Điều 115 ........................................................ 45
2.2.3. Đường lối xử lý đối với người phạm tội giao cấu với trẻ em theo
quy định tại Khoản 3 Điều 115 ........................................................ 49
2.3.
sự đối với tội giao cấu với trẻ em ..................................................... 85
KẾT LUẬN ................................................................................................. 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 90
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
CQĐT:
Cơ quan điều tra
ĐH:
Đại học
HĐXX:
Hội đồng xét xử
TAND:
Tòa án nhân dân
THCS:
Trung học cơ sở
khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Điểm khác biệt của tội giao cấu với
trẻ em so với các tội xâm phạm tình dục khác được quy định trong cùng
chương này là hành vi giao cấu được sự thuận tình từ phía bị hại. Như vậy có
thể hiểu các nhà lập pháp quy định điều luật này nhằm bảo vệ người bị hại là
trẻ em khi các em còn chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý để quyết định về
hành vi tình dục của mình. Cũng chính vì đặc trưng trên của tội danh này mà
trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án giao cấu với trẻ em còn
nhiều vướng mắc. Nhiều vụ án giao cấu với trẻ em rất khó chứng minh trên
thực tế cũng như có những vụ án trong quá trình tố tụng đã phải đình chỉ hoặc
thay đổi tội danh do những biến chuyển xuất phát từ chính lời khai của các
bên đương sự, do sự xung đột kết quả giám định…
1
Chính vì những nguyên nhân trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề
tài “Tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự Việt Nam” bằng cách phân
tích sâu những dấu hiệu pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng khi tiến hành
điều tra, truy tố, xét xử tội giao cấu với trẻ em, trên cơ sở đó tìm ra những vấn
đề còn vướng mắc, bất cập cả về lý luận và thực tiễn, để từ đó đề xuất một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu
với trẻ em và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với loại tội
phạm này trên thực tế.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
người là nhóm tội phạm được quan tâm nghiên cứu rất nhiều vì đây là nhóm tội
gây nguy hại cao cho xã hội, nó xâm hại trực tiếp đến con người là khách thể
được pháp luật hình sự đặc biệt bảo vệ. Vì vậy cho tới nay đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về nhóm tội danh này như: công trình khoa học
“Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự của con người”
truy tố và xét xử. Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi phát hiện ra những quan
điểm còn mâu thuẫn, chưa thống nhất cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
áp dụng pháp luật về tội danh này từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn
thiện những quy định của Bộ luật hình sự về tội giao cấu với trẻ em.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ thực tiễn công việc cùng với việc nghiên cứu, tham khảo các thông
tin, tài liệu trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác, tôi nhận thấy
tình hình tội giao cấu với trẻ em đang diễn biến phức tạp. Tuy nhiên vẫn còn
tồn tại một số vấn đề bất cập trong công tác điều tra, truy tố và xét xử đối với
tội danh này. Vì vậy với những nghiên cứu và kết quả thu thập được, chúng tôi
hy vọng làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với tội giao cấu với
trẻ em. Trên cơ sở phân tích một số vụ án điển hình, chúng tôi tìm ra những
điểm bất cập và vướng mắc xuất phát từ các quy định của Bộ luật hình sự từ đó
3
đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về tội
giao cấu với trẻ em theo điều 115 Bộ luật hình sự. Đồng thời, chúng tôi cũng
đưa ra một số giải pháp cho công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm này.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi nghiên cứu tội giao cấu với
trẻ em dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, trong đó đi sâu nghiên cứu các
vấn đề: Khái niệm và lịch sử lập pháp của nước ta về tội giao cấu với trẻ em;
các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội giao cấu với trẻ em được thể hiện trong
bốn yếu tố cấu thành tội phạm; đường lối xử lý đối với người phạm tội giao
cấu với trẻ em theo pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nghiên
cứu một số vụ án giao cấu với trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm
minh họa cho các vấn đề được đưa ra đồng thời phân tích những vướng mắc
trong quá trình tố tụng của các vụ án từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội giao cấu với trẻ em.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tội
giao cấu với trẻ em.
Chương 3: Một số bất cập về lý luận, thực tiễn áp dụng và giải pháp
nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự cũng như
nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội giao cấu với trẻ em.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI TRẺ
1.1. Khái niệm tội giao cấu với trẻ em
Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam cũng như trên thế giới, tội giao
cấu với trẻ em là loại tội được quy định từ rất sớm. Tuy nhiên tại mỗi thời kỳ
các quy định cụ thể về loại tội này là khác nhau.
Trước hết cần làm rõ về khái niệm “trẻ em”. Trong pháp luật quốc tế,
độ tuổi trẻ em được hiểu tương đối thống nhất là người dưới 18 tuổi. Tuy
nhiên, trong các Công ước quốc tế như Tuyên bố của Hội quốc liên về quyền
trẻ em năm 1924, Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959,
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968, Công ước 138 của tổ
chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1976 về tuổi tối thiểu được làm việc, Công
ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989… đã khẳng định việc áp dụng
độ tuổi trẻ em của mỗi quốc gia có thể khác nhau, tùy thuộc tình hình thực tế
của của mỗi nước có thể áp dụng về độ tuổi trẻ em trong nội luật.
Ở Việt Nam, pháp luật quy định về độ tuổi trẻ em chính thức được đề
cập trong một văn bản pháp quy sau khi Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành
Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 14 tháng 11 năm 1979,
trong đó quy định: “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh
khoa học, trẻ em được định nghĩa tùy theo góc độ tiếp cận của từng khoa học
cụ thể. Trong triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng
với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tương lai của quốc gia, dân tộc đều
tùy thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đối với chuyên
ngành xã hội học, trẻ em được xác định là người có vị thế, vai trò xã hội khác
với người lớn, do đó cần được toàn xã hội quan tâm, tạo điều kiện sinh thành,
nuôi dưỡng, bảo vệ và chăm sóc để trẻ em phát triển tốt nhất. Trong tâm lý
học, khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm
7
lý, nhân cách con người. Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường
được tiếp cận theo độ tuổi. Điều này có nghĩa là một cá nhân có thể được coi
là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào tuổi của người đó tại thời điểm xác
định. Theo từ điển bách khoa Wikipedia thì trẻ em là một con người phát triển
ở giai đoạn từ lúc sinh ra cho đến tuổi dậy thì. Mặc dù còn nhiều cách gọi tên
hay vận dụng khác nhau nhưng tổng hợp lại chúng ta có thể thống nhất khái
niệm về trẻ em như sau: Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội
thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con
người. Từ cách tiếp cận này, chúng ta có thể hiểu khái niệm về độ tuổi của trẻ
em là con người trong khoảng thời từ khi được sinh ra cho đến năm 16 tuổi
(theo pháp luật Việt Nam) hoặc năm 18 tuổi (theo Công ước quốc tế về quyền
trẻ em của Liên hiệp quốc).
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 không đưa ra định nghĩa về trẻ em
một cách cụ thể mà lại mô tả ngay trong các điều luật về độ tuổi của trẻ em.
Ví dụ: Tội Hiếp dâm trẻ em quy định “Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ mười
ba tuổi đến dưới mười sáu tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”
[18, Điều 112], tội Cưỡng dâm trẻ em quy định “người nào cưỡng dâm trẻ em
từ đủ mười ba tuổi đến dưới mười sáu tuổi thì bị phạt tù từ năm năm đến
định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên. Tham khảo thêm các văn bản
pháp luật quốc tế liên quan đến người chưa thành niên gồm: Công ước về
Quyền trẻ em (United Nations Convention on the Rights of the Child) được Đại
hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11-1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối
thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên
(United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile
Justice /Beijing Rules) ngày 29-11-1985; Hướng dẫn của Liên hợp quốc về
phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (United Nations Guidelines
for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14-121990. Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người
9
chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là
người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người
chưa thành niên và thanh niên. Tại điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em
được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong
phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp
luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [8].
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất
trong Hiến Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản
pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và
quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong
từng lĩnh vực cụ thể. Cụ thể, Tại Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì
“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo
những quy định khác của Phần chung Bộ luật…” [18]. Như vậy, độ tuổi của
người chưa thành niên là dưới 18 tuổi còn trẻ em là dưới 16 tuổi. Hai khái
trách nhiệm hình sự là tình trạng của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Tiêu chuẩn (dấu
hiệu) để xác định một người không có năng lực trách nhiệm hình sự là mắc
bệnh (tiêu chuẩn y học) và tâm lý (mất khả năng nhận thức hoặc khả năng
điều khiển). Cả hai dấu hiệu này có mối liên quan chặt chẽ với nhau, cái này
là tiền đề của cái kia và ngược lại. Một người vì mắc bệnh nên mất khả năng
điều khiển và bị mất khả năng điều khiển vì họ mắc bệnh. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 13 Bộ luật Hình sự thì người bị mắc bệnh là bệnh tâm thần hoặc
bệnh khác. Cho đến nay chưa có giải thích chính thức nào về trường hợp
không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 13 bộ luật hình
11
sự. Tuy nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đã thừa nhận một người
không có năng lực trách nhiệm hình sự khi họ mắc một trong các bệnh sau:
bệnh tâm thần kinh niên, bệnh loạn thần, bệnh si ngốc, các bệnh gây rối loạn
tinh thần tạm thời. Thực tiễn xét xử cho thấy có trường hợp một người bị mắc
bệnh tâm thần nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bởi vì khi thực
hiện hành vi phạm tội họ không mắc bệnh. Pháp luật nước ta cũng như một số
nước trên thế giới đều quy định: chỉ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội trong tình trạng họ đang bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức thì mới không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (loại
trừ trách nhiệm hình sự). Chỉ khi nào người mắc bệnh tâm thần tới mức làm
mất khả năng nhận thức hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra
mới được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự. Nếu bệnh của họ
chưa tới mức làm mất khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi của mình thì tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, họ phải chịu toàn
bộ hoặc một phần trách nhiệm hình sự. Luật hình sự nước ta cũng như nhiều
Như vậy, người phạm tội - chủ thể của tội giao cấu với trẻ em phải là
người từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, ta cần làm rõ về hành vi giao cấu. Có một số định nghĩa khác
nhau về giao cấu được phổ biến trong các sách từ điển hiện nay ở nước ta:
Giao cấu là từ Hán Việt, được Đào Duy Anh định nghĩa là âm và dương giao
hợp với nhau = trai gái làm tính giao với nhau (relations sexuelles). Lê Văn
Đức định nghĩa giao hợp = giao cấu và giao cấu là ăn nằm, đi lại, lấy nhau
giữa một nam một nữ hay một đực một cái. Nguyễn Kim Thản định nghĩa
giao cấu là giao nhau giữa bộ phận sinh dục ngoài của giống đực và của giống
cái (ở động vật). Giao hợp là giao cấu (chỉ nói về người). Theo Đại từ điển
tiếng Việt thì giao cấu là “cùng thực hiện chức năng sinh sản” [28]. Theo Bản
tổng kết 329/HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao thì khái niệm
về thuật ngữ “Giao cấu” hiện nay vẫn được hiểu là “sự cọ sát dương vật vào
13
bộ phận sinh dục người phụ nữ…”. Tức là, chủ thể phạm tội giao cấu chỉ có
thể thuộc giới tính nam và nạn nhân thuộc giới tính nữ. Điều này đối với thực
tiễn hiện nay nên chăng cần có phạm vi rộng hơn. Bởi, thực tế trong xã hội
phát triển, hiện đại hôm nay, sự xuất hiện tràn lan của “sex toys” (đồ chơi tình
dục: với những công cụ, thiết bị, đồ vật được sản xuất có kết cấu giống bộ
phận sinh dục nam hoặc nữ nhằm kích thích khoái cảm về tình dục), thuốc
kích dục, quan hệ đồng giới (đồng giới nam hoặc đồng giới nữ)...khiến cho
việc quan điểm như nói trên trở nên không bao quát được hết phạm vi của tội
danh này, dẫn đến bỏ lọt tội phạm.
Vụ việc sau đây là một ví dụ cho sự bối rối của cơ quan chức năng khi
gặp phải vấn đề này trên thực tế: Anh T. là Việt kiều (28 tuổi) có quan hệ
quen biết với cháu H. là trẻ em chưa đủ 16 tuổi. Hai bên cũng đã nhắn tin qua
lại và có nảy sinh tình cảm yêu đương. Ngày 2-8, Cảnh sát Quản lý hành
coi như thực hiện với lỗi cố ý.
Từ ba điểm cần làm rõ ở trên, có thể đưa ra khái niệm chung về tội giao
cấu với trẻ em là “Tội giao cấu với trẻ em là hành vi giao cấu do người có
năng lực trách nhiệm hình sự từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một cách cố ý
nhằm thỏa mãn nhu cầu về sinh lý với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
với sự hoàn toàn đồng ý của họ, xâm hại quyền được bảo vệ về sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm của trẻ em”.
1.2. Lịch sử lập pháp về tội giao cấu với trẻ em trong pháp luật
hình sự Việt Nam
1.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước
pháp điển hóa lần thứ nhất- Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985
Pháp luật là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội. Các
bộ luật của nhà nước phong kiến ra đời trên cơ sở kinh tế và kết cấu giai tầng
của xã hội này. Vì thế, pháp luật phong kiến là phương tiện để bảo vệ trật tự
xã hội phong kiến mà trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến. Trong lịch sử
15
tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, các nhà nước quân chủ và phong kiến ở
Việt Nam đã nhận thức được vai trò của luật pháp và quan tâm, đầu tư cho
việc ban hành pháp luật. Hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này gồm các
bộ luật tổng hợp và các văn bản pháp luật khác như: Chiếu, Chỉ, Lệ, Lệnh,
Dụ, Sắc… Trong đó, các bộ luật: Hình thư (thời Lý), Quốc triều Hình luật
(còn gọi là bộ luật Hồng Đức - thời Lê), và Hoàng Việt Luật lệ (gòn gọi là bộ
luật Gia Long - Thời Nguyễn) [1] là những bộ luật cổ tiêu biểu nhất được xây
dựng và ban hành trong lịch sử pháp luật xã hội phong kiến (từ thế kỷ XI đến
thế kỷ XIX). Mặc dù như đã nói ở trên, việc xây dựng hệ thống luật lệ nói
chung được quan tâm từ rất sớm nhưng chỉ tới thế kỉ XV thì các nhà lập pháp
mới sớm xem xét về hành vi giao cấu với trẻ em.
Tư tưởng đặc biệt và tiến bộ đi trước thời đại của bộ luật này cũng
được các nhà cầm quyền phong kiến sau đó tiếp thu và áp dụng trong các bộ
luật như Bộ luật Gia Long năm 1815 (Hoàng Việt luật lệ), Hình luật An Nam.
Cả Bộ luật Hồng Đức [1] và Bộ luật Gia Long đều xử rất nặng tội gian dâm,
đặc biệt là tội thông dâm đối với trẻ em gái (Điều 404 - Bộ luật Hồng Đức và
Điều 1, quyển 18 – Bộ luật Gia Long).Có thể nói, bên cạnh những quy định
quá khắt khe đối với người phụ nữ, thì việc nghiêm cấm và trừng phạt nặng
đối với các tội thông dâm, cưỡng dâm đã phần nào gián tiếp bảo vệ thân thể
và nhân phẩm của người phụ nữ.
Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã chia nước ta làm 3 xứ là Bắc
Kì, Trung Kì, Nam Kì với chế độ chính trị cũng như pháp luật khác nhau để
dễ bề cai trị. Về góc độ pháp luật, luật hình sự được áp dụng tại Bắc Kì là Bộ
hình luật Bắc Kì 1918, tại Trung Kì là Hoàng Việt hình luật 1933, tại Nam kì
là Hình luật Canh cải 1912. Chính quyền ở Nam Kì áp dụng bộ Hình luật
Canh cải trong đó quy định về “sự xâm phạm tiết hạnh không có bạo hành” có
chứa đựng nội dung cấm quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi (Điều 333 –
Hình luật Canh cải, thuộc quyển 3 (từ Điều 75 đến Điều 463) quy định các
17
trọng tội, khinh tội xâm phạm tới tài sản, an ninh công cộng, xâm phạm tới
thân thể và tài sản của công dân.
Cho đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng:
trong những quy định của các bộ luật cổ thời quân chủ, địa vị của người phụ
nữ về cơ bản là thấp kém. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, nhân phẩm của
người phụ nữ vẫn được các bộ luật cổ đề cao và tôn trọng. Có thể nói, bên
cạnh những quy định quá khắt khe đối với người phụ nữ, thì việc nghiêm cấm
và trừng phạt nặng đối với các tội thông dâm, cưỡng dâm đã phần nào gián
tiếp bảo vệ thân thể và nhân phẩm của người phụ nữ.
Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, các tòa án vẫn xử theo Luật
hình cũ được tạm thời giữ lại. Tuy nhiên, sau chiến thắng Điện Biên Phủ,
miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam còn
tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ nên các điều kiện về kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa ở miền Bắc đã có sự thay đổi mạnh mẽ, các luật lệ
của chế độ cũ không còn phù hợp. Để phù hợp với tình hình mới từ năm
1955, toàn bộ các luật lệ cũ không còn được áp dụng nữa và các tòa án bắt
đầu xử theo án lệ, theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước nên tới
thời điểm này Nhà nước ta vẫn chưa ban hành một văn bản pháp luật hình sự
mới quy định về tội giao cấu với trẻ em.
Để cho các quy định của pháp luật được đầy đủ và toàn diện hơn đồng
thời giúp cho việc xét xử trên thực tế được dễ dàng và thuận lợi, năm 1976,
trên cơ sở kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã
thông qua bản tổng kết 329/HS2 ngày 11/5/1967 hướng dẫn đường lối xét xử
tội giao cấu với trẻ em và các tội phạm khác xâm hại về tình dục.
Bản tổng kết này đã đề cập một cách toàn diện đến bốn hình thức phạm
tội: giao cấu với người dưới 16 tuổi, cưỡng dâm (trong đó có cưỡng dâm trẻ
em), hiếp dâm (bao gồm cả hiếp dâm trẻ em), dâm ô (trong đó có dâm ô với
trẻ em). Như vậy, giao cấu với trẻ em được ghi nhận là thuộc nhóm tội xâm
phạm tình dục trẻ em.
19