ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÙNG TRUNG THẮNG TỘI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN NGỌC ANH
HÀ NỘI - 2014
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GÂY Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG 8
1.1. Cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi
trường trong Việt Nam 8
1.1.1. Cơ sở lý luận của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường
trong Bộ luật hình sự Việt Nam 8
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ
luật hình sự 14
1.2. Khái niệm ô nhiễm môi trường, tội gây ô nhiễm môi trường 18
1.2.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường 18
1.2.2. Khái niệm tội gây ô nhiễm môi trường 19
1.3. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự
Việt Nam về tội gây ô nhiễm môi trường 21
1.3.1. Giai đoạn sau khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ nhất –
Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật
hình sự lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999 21
1.3.2. Giai đoạn từ sau khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ hai –
Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật
hình sự năm 1999 23 1.3.3. Giai đoạn từ sau khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999
(Bộ luật hình sự hiện hành) đến nay 25
1.4. Quan điểm của cộng đồng quốc tế và quy định của một số nước
về tội gây ô nhiễm môi trường 28
1.4.1. Quan điểm của cộng đồng quốc tế về tội gây ô nhiễm môi trường 28
1.4.2. Quy định về tội gây ô nhiễm môi trường trong pháp luật hình sự
của một số nước 34
3.2.2. Tích cực phối hợp trong việc phát hiện, điều tra, xác định thiệt
hại xảy ra đối với tội phạm gây ô nhiễm môi trường 103
3.2.3. Nghiên cứu, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường với chính sách
ưu đãi hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh của địa phương,
đồng thời, tăng cường kiểm tra, thanh tra và kiên quyết xử lý các cơ
sở, doanh nghiệp gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường 103
3.2.4. Tăng cường trang bị cơ sở vật chất, đào tạo chuyên môn, bảo
đảm phục vụ tốt cho việc xác minh thiệt hại 105
3.2.5. Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong việc phòng chống tội
phạm gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam 107
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự
TNHS trách nhiệm hình sự DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1:
Tỷ lệ xử phạt vi phạm hành chính hành vi gây ô nhiễm
Sau gần ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên nhiều phương diện. Đất nước đã thoát
khỏi tình trạng khủng hoảng, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, chính trị xã hội
ổn định, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế trên trường quốc
tế không ngừng nâng cao. Chúng ta đang có cả thế và lực mới để đẩy nhanh
quá trình hội nhập, đồng thời, tạo đà cho sự phát triển mọi mặt của đất nước
trong thiên niên kỉ mới. Tuy vậy, để hướng tới một sự phát triển bền vững
khi đất nước ta đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đã đặt ra không ít những khó khăn, thách thức mà điển hình của một trong số
đó là vấn đề về ô nhiễm môi trường. Hiện nay, ô nhiễm môi trường vẫn luôn
là vấn đề nóng của tất cả các quốc gia trên thế giới dù cho quốc gia đó là
quốc gia đã phát triển hay đang phát triển. Đối với một đất nước đang phát
triển chủ yếu dựa vào quá trình khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên tự
nhiên như Việt Nam thì sự tác động, ảnh hưởng của con người đối với môi
trường là rất lớn. Nhận thức được tầm quan trọng sống còn của việc gìn giữ
môi trường, Nhà nước ta đã áp dụng đồng thời nhiều biện pháp bảo vệ môi
trường, trong đó rất chú trọng ban hành văn bản quy phạm pháp luật để xử
lý tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường. Thực hiện các văn
bản quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến môi trường như xử lý
tội phạm về môi trường đã đạt được một số hiệu quả nhất định. Tuy nhiên,
thực tế hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đã tới mức báo
động và đang trở thành vấn nạn tại nhiều địa phương trên cả nước. Tại các
thành phố lớn hay ngay cả nhiều vùng nông thôn, hàng trăm cơ sở sản xuất
công nghiệp đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh do
không có công trình, thiết bị xử lý chất thải hoặc những thiết bị này hoạt
2
động không hiệu quả. Nguy hiểm hơn, chính là việc các cơ sở này cố tình xả
trộm trực tiếp ra môi trường xung quanh các chất thải mà không qua bất kỳ
một khâu xử lý nào. Điều này sẽ tiết kiệm một khoản tiền lớn khi mà các cơ
Trung tướng Đặng Văn Hiếu, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ
Công an năm 2007; Đề tài khoa học Tội phạm về môi trường - một số vấn đề
lý luận và thực tiễn năm 2003 do tiến sĩ Phạm Văn Lợi, Phó viện trưởng viện
Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm; luận án tiến sĩ TNHS đối với
các tội phạm về môi trường năm 2011 của tác giả Dương Thanh An; luận văn
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm môi trường theo Luật hình
sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Trí Chinh năm 2010, Khoa luật – Đại học
quốc gia Hà Nội.v.v Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các đề
tài này mới chỉ đề cập nghiên cứu ở những góc độ nhất định về tội phạm môi
trường nói chung mà chưa nghiên cứu một cách chi tiết về từng loại tội phạm
môi trường. Theo những nghiên cứu như trên cho thấy, tính cho tới thời điểm
hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về tội gây ô
nhiễm môi trường ở nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về tội gây ô
nhiễm môi trường; thực trạng quy định và nội dung tội gây ô nhiễm môi
trường theo BLHS Việt Nam hiện hành; qua đó đề xuất các giải pháp hoàn
thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS đối với tội phạm
gây ô nhiễm môi trường trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đảm bảo đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra
và giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
4
- Tổng hợp, phân tích và làm rõ một số khía cạnh về tội gây ô nhiễm
môi trường như: Khái niệm, cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội
gây ô nhiễm môi trường;
- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam
về tội gây ô nhiễm môi trường và đưa ra một số nhận định đánh giá;
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng tội gây ô nhiễm
môi trường từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh, phòng ngừa, chống tội phạm được thể hiện
trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX)
về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá
đất nước, Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục
thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng phương pháp
nghiên cứu của chuyên ngành luật hình sự và các phương pháp nghiên cứu cụ
thể là: phương pháp hệ thống; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích
và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp điều tra xã hội học.
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Là công trình nghiên cứu khoa học có hệ thống và tương đối toàn diện
về tội gây ô nhiễm môi trường trong Luật hình sự Việt Nam nên kết quả
nghiên cứu của luận văn có một số điểm mới cụ thể là:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tội gây ô nhiễm môi trường
được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành;
6
- Chỉ ra được những vướng mắc, bất cập của các quy định hiện hành
liên quan đến tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS Việt Nam hiện hành;
- Tổng hợp chi tiết những nguyên nhân chính khó khăn cho việc áp
dụng quy định về tội gây ô nhiễm môi trường trên thực tế của BLHS Việt
Nam hiện hành;
- Đưa ra được hệ thống các kiến nghị, nâng cao hiệu quả áp dụng quy
định về Tội gây ô nhiễm môi trường của BLHS;
- Với kết quả nêu trên, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI
GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1.1. Cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi
trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Cơ sở lý luận của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường
trong Bộ luật hình sự Việt Nam
Trong những thập kỷ gần đây, ô nhiễm môi trường luôn là vấn đề
nghiêm trọng mà nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt. Các vấn đề
về ô nhiễm đã khiến người dân trên khắp trái đất phải đương đầu với nhiều
bệnh dịch có sức tàn phá khủng khiếp. Theo một báo cáo của Tổ chức Phát
triển và Hợp tác kinh tế (OECD), tới năm 2050, ô nhiễm môi trường sẽ trở
thành “kẻ sát nhân” khiến 3,6 triệu người chết mỗi năm. Bên cạnh đó, những
thiệt hại do ô nhiễm môi trường đã tàn phá nặng nề nền kinh tế như các chi
phí khám, chữa bệnh, tổn thất sức lao động, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng
phẩm. Mặc dù vậy, không phải sản phẩm nào cũng có thể tái chế hoặc trong
quá trình sản xuất không có những sản phẩm dư thừa thải ra môi trường sống
của con người gây những tác động tiêu cực đến sức khỏe, sinh hoạt, thực
phẩm v.v… mà không bị kiểm soát triệt để. Những hành vi thải vào không
khí, nguồn nước, đất đai những chất gây ô nhiễm môi trường ngày càng diễn
ra phổ biến ở nước ta tại những nơi tập chung các khu công nghiệp, khu chế
xuất, làng nghề v.v… đã ngày càng đặt ra yêu cầu phải có một chế tài đủ
mạnh không chỉ đơn giản là xử lý vi phạm hành chính mà phải được tội phạm
hóa đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường thực sự nguy hiểm cho xã
hội. Trong xu hướng của chính sách hình sự nước ta, việc sử dụng vai trò của
pháp luật hình sự trong việc bảo vệ môi trường trước các hành vi gây ô nhiễm
10
môi trường ngày càng được sử dụng nhiều hơn với mức độ quyết liệt hơn.
Việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS hiện hành được dựa
trên những cơ sở lý luận sau:
Thứ nhất, yêu cầu khách quan của việc tội phạm hóa các hành vi nguy
hiểm cho xã hội gây ô nhiễm môi trường xuất phát từ tính nguy hiểm ngày
càng cao của các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Tại Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế nhằm đẩy nhanh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện lực lượng sản xuất
thấp kém, nền kinh tế thị trường chưa hoàn thiện và việc khai thác, sử dụng
các nguồn tài nguyên thiên nhiên không được kiểm soát chặt chẽ đã làm cho
môi trường nông thôn bị suy thoái nghiêm trọng. Việc phát triển kinh tế đô thị
cũng làm cho môi trường tại chính các đô thị này ngày càng ô nhiễm nặng nề.
Những hành vi gây ô nhiễm môi trường không chỉ tập chung tại các khu công
nghiệp, làng nghề hay xuất nhập khẩu mà hiện nay lan rộng sang cả lĩnh vực
y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo tồn thiên nhiên v.v… Tính chất và mức
độ của các hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, phức
tạp, tinh vi và khó phát hiện. Ví dụ, năm 2008, Công ty Vedan bị phát hiện đã
bị áp dụng nếu thực hiện hành vi đó. Chính vì vậy, những biện pháp hình sự
chính là cơ sở để tăng cường công tác phòng ngừa và đấu tranh các hành vi vi
phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường và tạo ra những điều kiện cần thiết
cho việc tội phạm hóa những hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Thứ ba, việc tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm gây ô nhiễm môi
trường còn xuất phát từ yêu cầu của chính sách bảo vệ môi trường mà Đảng
và Nhà nước ta đã đề ra cũng như việc bảo đảm, thực hiện các cam kết quốc
tế của đất nước.
Bảo vệ môi trường trước các nguy cơ ô nhiễm khi đất nước bước vào
12
thời kỳ hội nhập từ lâu đã là một trong những chính sách ưu tiên của Đảng và
Nhà nước ta. Điều này được thể hiện thông qua một số văn bản như Nghị
quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về bảo vệ
môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước,
Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện
Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị.v.v… Đặc biệt, Hiến pháp của
nước ta cũng dành những quy định quan trọng về vấn đề bảo vệ môi trường.
Ví dụ, khoản 5, Điều 112 Hiến pháp năm 1992 quy định, Chính phủ có nhiệm
vụ: “Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân…; bảo vệ môi
trường” [46, Điều 112]; Điều 44 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người
có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi
trường” [47, Điều 44]. Với việc thừa nhận quyền được sống trong môi trường
trong lành của mọi công dân, Nhà nước ta cũng khẳng định nhiệm vụ của
mình trong việc bảo vệ môi trường khỏi các hệ lụy của những hành vi gây ô
nhiễm môi trường gây ra đối với nhân dân, đồng thời, đây cũng chính là một
trong những cơ sở cho các nhà lập pháp nước ta, tội phạm hóa các hành vi này
trong pháp luật hình sự.
Hiện nay, Việt Nam đã tham gia một số lượng lớn các công ước, văn
bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường. Tại các công ước và văn bản pháp
tại một thời điểm nhất định, không chỉ của chúng ta mà các lớp thế hệ mai sau
vẫn tiếp tục phải thực hiện. Chúng ta không thể hoàn thành nhiệm vụ này nếu
như một cá nhân không ý thức được việc bảo vệ môi trường. Sức mạnh to lớn
nhất đó chính là sự đồng lòng, chung tay và quyết tâm vì một hành tinh xanh,
ngôi nhà chung của nhân loại. Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ tham gia
hành trình này, không phân biệt giai cấp địa vị trong xã hội, trai gái, giàu
nghèo, già trẻ, chủng tộc, màu da. Từ thành thị đến nông thôn, người giàu hay
14
người vô gia cư đều bình đẳng trong hành trình cứu lấy ngôi nhà chung.
Bằng việc quy định TNHS đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường bị coi là
tội phạm, pháp luật hình sự không những có tác dụng răn đe, giáo dục người
phạm tội, mà còn tác động lên ý thức của mọi thành viên của xã hội (giáo dục
chung) về ý thức tuân thủ pháp luật, cũng như nâng cao tinh thần chủ động
tham gia phòng chống loại tội phạm này.
Tóm lại, những cơ sở lý luận trên, chính là những yếu tố quan trọng để
các nhà làm luật dựa vào đó tiến hành việc quy định tội gây ô nhiễm môi
trường trong BLHS hiện hành.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ
luật hình sự
1.1.2.1. Củng cố lòng tin của nhân dân trong cuộc chiến chống ô nhiễm
môi trường và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Sau những vụ việc các cơ sở gây ô nhiễm môi trường bị phanh phui
trên các phương tiện truyền thông, nhiều người đã đặt câu hỏi về trách nhiệm
của các cơ quan chức năng của nhà nước ở đâu trong các vụ việc đó. Đối với
những người dân sống trong khu vực bị ô nhiễm, tâm lý hụt hẫng, thất vọng
tại nhiều địa phương đã lên tới đỉnh điểm bởi cơ quan chức năng, quản lý,
chính quyền địa phương chưa thực sự đứng về phía người dân, dù những gì
nhiễm môi trường của toàn thể quần chúng nhân dân
Bác Hồ đã từng nói:
Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu
cũng xong [40, tr.212] hay Công an có bao nhiêu người, dù có vài
ba vạn, hay năm nghìn, bảy vạn đi nữa, thì lực lượng ấy cũng còn
ít lắm. Bên cạnh là lực lượng nhân dân, năm vạn người thì chỉ có
5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay, phải làm sao cho có hàng triệu
16
cặp mắt, hàng triệu đôi bàn tay mới được. Muốn như vậy thì phải
dựa vào nhân dân, không được xa rời dân, nếu không sẽ thất bại.
Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì ta thành công nhiều, giúp đỡ ta
ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn,
dân ta rất tốt [41, tr.406].
Những lời dạy đó của Bác trong cuộc sống hôm nay vẫn muôn phần ý
nghĩa. Vì vậy, trong sự nghiệp bảo vệ trật tự an toàn xã hội trong những năm
trước đây, hôm nay, và mãi về sau, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân là
vô cùng to lớn. Từ lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến
việc phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, tất cả vì mục tiêu phục vụ
cho bình yên cuộc sống của nhân dân. Tinh thần này đã được ghi nhận tại
khoản 4, Điều 3 BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009): “Mọi công
dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”
[49, Điều 3]. Việc BLHS hiện hành quy định tội gây ô nhiễm môi trường
chính là cơ sở để nhân dân nhận thức về trách nhiệm, nghĩa vụ cũng như quyền
lợi trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, công tác phổ biến, tuyên
truyền các quy định của pháp luật hình sự về đấu tranh, phòng chống các tội
phạm về môi trường tới các tầng lớp nhân dân có vai trò rất quan trọng. Khi
người dân hiểu rõ được những lợi ích của việc bảo vệ môi trường cũng chính là
bảo vệ sức khỏe, sinh hoạt, thực phẩm, kinh tế v.v cho bản thân, gia đình và
đã xảy ra ô nhiễm để lên phương án khắc phục, ngăn chặn; sở Nội vụ chủ trì,
phối hợp với sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu với ủy ban nhân dân
tỉnh tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi
trường và tập trung đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ thanh tra, kiểm
tra, chủ động phát hiện và xử lý kịp thời các cơ sở vi phạm gây ô nhiễm môi
trường; sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các ngành liên quan nghiên cứu,
tham mưu với ủy ban nhân dân tỉnh về cơ chế ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích