MỤC LỤC
MỞ Đ Ầ U .................................................................................................... 1
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ
SỬ DỤNG NHÂN T À I........................................................................... 12
1.1. CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN T À I.............12
1.2 KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI
CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI......................................................... 32
Chương 2 THựC TRẠNG QUÁ TRÌNH THựC HIỆN CHÍNH SÁCH
NHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Ở VIỆT NAM............................40
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI
Ở NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI................................................. 40
2.2 NHỮNG THÀNH
Tựu
VÀ HẠN CHẾ TRONG TRIỂN KHAI
THUC HIÊN CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DUNG NHÂN TÀI Ở
•
•
•
NƯỚC TA HIỆN NAY............................................................................... 62
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC THựC HIỆN CHÍNH SÁCH
NHÂN TÀI VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI....................................................... 71
?
f
dân tộc, bởi “hiền tài là nguyên khỉ của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế
nước mạnh và hưng thịnh, nguyên khí yếu thi thế nước kém và suy vong”
[49, tr 15].
Truyền thống coi trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, coi nhân tài là
cái gốc của sự phát triển đất nước đã được cha ông ta khẳng định từ hàng
ngàn năm trước, kế thừa truyền thống đó, Đảng, Nhà nước ta hiện nay
luôn đề cao và tôn trọng nhân tài, nhưng chính sách nhân tài và sử dụng
nhân tài hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hơn nữa, thời
đại hiện nay được coi là thời đại thông tin quyết định sự thành bại, nhân
tài quyết định sự hưng vong thì chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài
càng được coi trọng hơn bao giờ hết. Chính vi lẽ đó, việc đào tạo và kén
chọn nhân tài trở thành một yêu cầu cho chính sự tồn tại và phát triển của đất
nước và mãi mãi là phương châm xuyên suốt quá trình hình thành và phát
triển của dân tộc ta.
Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học và kỹ thuật phát triển vô
cùng nhanh chóng thì việc đào tạo nhân tài không chỉ là yêu cầu trước mắt mà
chính là yếu tố quyết định đến sự phát triển và rút ngắn khoảng cách giữa Việt
Nam với thế giới.
Sở dĩ đặt vấn đề như vậy chính là xuất phát từ chỗ, tri thức cần được coi
là tài nguyên lớn nhất, quan trọng nhất, không có bất ki tài nguyên nào có thể
so sánh được trong thời đại ngày nay. Khi ta nhận thức được rằng tài nguyên
2
thiên nhiên dù phong phú đên đâu cũng không phải là vô hạn, trong khi đó
nguồn lực về nhân tài lại là nguồn lực không giới hạn.
Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đó đòi phải bồi dưỡng
hàng loạt nhân tài đủ tiêu chuẩn. Ke từ sau Đại hội VI sự nghiệp đổi mới
Đại hội VIII Đảng ta (1986) đã đề ra chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước nhưng thế chưa đủ mà cần phải giáo dục đào tạo ra những
con người thực hiện chiến lược ấy. Trước thực tế ấy đòi hởi cần phải có
một số lượng lớn nhân tài. Chúng ta cần phải bồi dưỡng nên hàng loạt
nhà khoa học và chuyên gia kỹ thuật công trình hàng đầu thế giới. Sự
3
nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá không những đòi hỏi hiện
đại hoá cơ sở vật chất xã hội mà còn đòi hỏi hiện đại hoá cả con người với
tư cách là chủ thể của sự nghiệp đó. Đặc biệt là khi tiến vào thế kỷ 21
quốc tế hoá, hiện đại hoá nhân tài sẽ là một xã hội thế tất yếu. De thích
ứng với xu thể phát triển này Đảng ta không những phải đào tạo những
nhân tài khoa học kỹ thuật mà còn cần bồi dưỡng những người lao động
có trình độ văn hoá khoa học cao, tạo ra năng xuất lao động tốt.
Việc giáo dục bồi dưỡng nhân tài có can hệ tới sự on định phát triển
lâu dài của đất nước. Với mục tiêu đề ra là tiến tới “Dân giàu nước mạnh
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh ”, Đảng ta đang ra sức lãnh đạo nhân
dân phau đấu vi mục tiêu đó. Nhưng việc thực hiện được mục tiêu đó là
quá trình lâu dài, gian khổ, phấn đấu không phải ngày mốt ngày hai, cần
có nhiều thế hệ người cùng góp sức chung tay thì mới làm việc được.
Chính vi vậy phải ra sức đào tạo nhân tài lớp lớp kế tiếp nhau để hoàn
thảnh mục tiêu đó. Đó chính là chiến lược lớn đảm bảo sự phát triển và ổn
định lâu dài của đất nước.
De đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh” thì điều kiện tiên quyết là phải có chính sách nhân tài và
sử dung nhân tài đúng đắn, khoa học và phải xây dựng được một đội ngũ
nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ nhân tài, trí thức khoa
học. Trước tình hình mới đang đặt ra nhiều thời cơ và thách thức, để đât
Nguyễn Đắc Hưng, Nxb CTQG, H, 2004.
Công trình này đã phân tích một cách có hệ thống về nhân tài, vai
trò, khảo lược vai trò của nhân tài đối với sự hưng vong của quốc gia, dân
tộc trong lịch sử; phân tích tầm quan trọng của nhân tài trong chiến lược
phát triển đất nước. Những tố chất quan trọng của nhân tài, con đường
hình thành nhân tài, tính chất quyết định của nhân tài trong chiến lược và
chính sách phát triển của đất nước.
5
- “Tìm kiêm nhân tài trong một phili” của tác giả Song Kim, Nxb
Thế Giới, 2005.
Công trình đã giới thiệu một cách hệ thống toàn diện và sát thực
về những sách lược nhận biết nhân tài, đồng thời tác giả đã dùng cách tiếp
cận mới mẻ để làm thế nào nhận biết được nhân tài và làm thế nào giữ
được nhân tài, làm thế nào để thử thách và sử dụng được nhân tài...
- “Những biện pháp lưu giữ nhân tài” của tác giả Trọng Kiên, Nxb
LĐXH, 2007.
Công trình này đã phân tích khái quát về phương pháp sử dụng
nhân tài, trong đó di sâu phân tích các biện pháp để lưu giữ nhân tài trong
các cơ quan doanh nghiệp. Công trình đã làm rõ tình hình thực tiễn bối
cảnh xã hội hiện đại và phân tích dòng chảy của nhân tài từ các vùng, đơn
vi, doanh nghiệp, tập đoàn...này sang chỗ khác, kinh nghiệm lưu giữ nhân
tài của các doanh nghiệp, tập đoàn; trong đó tập trung phân tích và chỉ ra
các biện pháp thích hợp nhằm thu hút lưu giữ nhân tài.
2.2
Những công trình nghiên cứu về chính sách nhân tài và sử dụng
nội dung cuốn sách còn đề cập đến những vấn đề cơ bản về nhân tài: nhân
tài là then chốt của phát triển; đường loi tổ chức và việc xây dựng đội ngũ
cán bộ; về tuyển chọn nhân tài uu tú; về sử dụng và bố trí nhân tài; về tạo
môi trường cho nhân tài phát triển; về cải cách chế độ nhân sự cho nhân
tài phát triển...
- “Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phat hiện tuyển chọn, đào
tạo bồi dưỡng và sử dụng nhân tài” của tác giả Nguyễn Trọng Bảo, nhà
xuất bản Giáo dục Hà nội, 1996.
Cong trình đã phân tích quá trình bồi dưỡng nhân tài, sử dụng nhân
tài; làm rõ vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phát hiện
bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. Trong đó tác giả đã phân tích mối quan hệ
biện chứng, mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội như những
môi trường không thể thiếu để phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài.
- “Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đấy mạnh công
nghiệp hỏa, hiện đại hóa đất nước”, của tác giả Nguyễn Văn Sơn, nhà
xuất bản Hà Nội, 2002.
7
Công trình này đã phân tích khái quát tình hình đội ngũ trí thức của
nước ta, phân tích thực trạng của giáo dục đại học, phân tích vai trò của
đội ngũ trí thức đối với giáo dục đại học trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa. Tác giả cũng đã phân tích yêu cầu đòi hỏi phải
đổi mới giáo dục đại học và nâng cao chất lượng, số lượng của đội ngũ trí
thức trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới.
- “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa
đât nước” của tác giả Nguyễn Thanh, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà
Nội, 2002.
Công trình đã phân tích rõ thực trạng nguồn nhân lực nước ta, chỉ rõ
Công trình này đã tập trung phân tích thục trạng đội ngũ trí thức
nuớc ta, làm rõ nhung mặt tích cực và hạn chế của đội ngũ trí thức; phân
tích vai trò của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tác giả của công trình cũng đã đề xuất một
số giải pháp, kiến nghị để phát triển đội ngũ trí thức nuớc nhà, đặc biệt là
tác giả cũng đã đề xuất các định huớng lớn trong công tác phát triển đội
ngũ trí thức.
- “Tài năng trẻ phat triển và sử dụng’’'’ của tác giả Hồ Bá Thâm, nhà
xuất bản Tổng hợp, thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
Công trình đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn, nhất là tu góc
độ triết học, xã hội, nhân văn và tâm lý, giáo dục học...cho việc phát hiện,
đánh giá, lựa chọn, đào tạo, bồi duỡng và sử dụng tài năng, phát triển tài
năng; tập trung làm rõ cơ sở lý luận và khoa học của vấn đề nhân tài và
nhân tài trẻ, trong đó phân tích sâu hơn vấn đề cơ chế sinh học - xã hội chủ thể - môi truong và nhận thức - tâm lý của vấn đề đối với việc đánh
giá, su dụng và phát triển tài năng trẻ.
- “Lược khảo về kỉnh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân
tài trong lịch sử Việt Nam ”, của tác giả Phạm Hồng Tung, nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2008.
9
Đây là công trình công phu và có giá trị, đánh giá một cách tương
đối toàn diện và súc tích về những mặt tốt và những hạn chế của thực tiễn
đào tạo và sử dụng nhân tài của cha ông trong lịch sử. Từ đó rút ra những
bài học kinh nghiệm hữu ích, góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho
việc hoạch định chiến lược phát triển nhân tài ở nước ta hiện nay...
- “Đảnh giả, quy hoạch, luân chuyển cản bộ lãnh đạo quản lý thời
kỳ đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Trần
Đình Hoan, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2008.
r p l
r
- Thứ
1
r
A j
/v
il
/v
r
_ 1
_
'
_\
1 >
1
f
t
nhat:Hệ thông hoa va lam ro một so van đê 1y luận ve chính
x x
sánh nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam.
- Thứ hai: Phân tích quá trình triển khai thực hiện chính sách nhân
tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
- Thứ ba: De xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
thực hiện chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng quá trình thực hiện chính sách nhân
tài và sử dụng nhân tài ở Việt Nam trong thời kỳ đồi mới.
4.2 Giới hạn nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn việc thực hiện
chính sách nhân tài và sử dụng nhân tài ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
(từ 1986 đến 2013).
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận : De tài dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chúng và duy vật lịch sử.
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thế: luận văn sử dụng các
phương pháp liên ngành và chuyên ngành như: lịch sử, logic, phân tích phân tích hệ thống, phân tích chính sách, tổng hợp, điều tra khảo sát,
thống kê, v.v, đặc biệt là phương pháp phân tích chính sách với tính cách
là sản phẩm hay “đầu ra” của hệ thống chính trị
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VÈ CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ
SỬ DỤNG NHÂN TÀI
1.1. CHÍNH SÁCH NHÂN TÀI VÀ s ử DỤNG NHÂN TÀI
1.1.1 Mot số khái niêm cơ bản
•
•
De hiểu khái niệm nhân tài, chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm
gần với nó như tài năng, thiên tài. Trên thực tế chúng ta có thể thấy rằng
thiên tài thì hết sức hiếm nhưng nhân tài thì nhiều hơn.
Người tài giỏi là người có tài, người tài năng. Tài năng là tổng hợp
các phẩm chất ý chí, trí tuệ, cảm xúc, ý chí và hành động ở mức cao hơn
nhiều so với trình độ trung bình của xã hội và đạt hiệu quả công tác cao,
có ý nghĩa xã hội lâu dài. Người có tài năng như vậy là nhân tài.
Có thể phân biệt một cách đơn giản cho dễ hiểu như sau:
Thứ nhất, người giỏi là người thành thạo công việc đạt hiệu quả cao
hơn so với người khác;
Thứ hai, người tài là có phát hiện sáng tạo mới, có sáng kiến lớn
nhưng trong phạm vi khuôn khổ xã hội đương thời đã đạt được, tức là cao
hơn người giỏi, vi phải có năng khiếu cao, còn giỏi thì không nhất thiết có
năng khiếu cao, từ đó đạt được kết quả rất cao;
Thứ ba, người được gọi là thiên tài là người có năng lực cao siêu
việt, đạt được thành tựu khác người, có tầm vượt thời đại, vạch ra khuynh
hướng mới, đạt kết quả phi thường vô song (trong lĩnh vực khoa học,
nghệ thuật, quân sự, chính tri...)
Nhân tài như đã nói là một thuật ngữ khoa học, đồng thời cũng là
ngôn ngữ được dùng trong đời thường, trong cuộc sống ngày nay một
người được coi là có tài khi họ hoàn thành công việc tốt đẹp, nhanh chóng
và học thức để đánh giá nhân tài. Thành tlch luận căn cứ chủ yếu vào
14
cống hiến thực tế của con người đó cho xã hội để nhận định nhân tài,
mang yếu tố bên ngoài, mang tính khách quan trong việc đánh giá nhân
tài. Học thức luận chủ yếu dựa vào thành tích học tập trong vốn tri thức mà
con người tích lũy được để nhận định nhân tài, nhấn mạnh tố chất nội tại của
nhân tài. Tuy nhiên trên thực tế cả hai quan điểm đó đều có những hạn chế
nhất định đối với việc xác định nhân tài.. Đặc biệt trong tình trạng tiêu
chuẩn đánh giá nhân tài còn thiếu tính xác thực khoa học thì xác định như
vậy thường dẫn đến việc không thể giải thích được việc dự đoán những tài
năng tiềm tàng và việc mất di tài năng của nhân tài.[43,tr 26]
Phi thường luận và đại chúng luận là quan điểm nhấn mạnh tính
kiệt xuất của nhân tài, quan điểm này cho rằng nhân tài là người có tố
chất phi thường, là nhân vật uu tú nổi bật. Phần lớn các học giả đều cho
rằng sáng tạo là tố chất đặc trưng của nhân tài. Phỉ thường luận còn xác
định
• nhân tài ở mức độ• cao của việc
• thể hiện
• cá nhân so với mức độ• thể
hiện của phần còn lại dân chúng. Đại chủng luận cho rằng, ai cũng có tài
sáng tạo. Do quá nhấn mạnh tính phổ biến của nhân tài, đại chúng luận
dường như đã bỏ quên tính đặc thù - tính sáng tạo của nhân tài, nhưng
nhìn chung đây là quan niệm nhân tài cần thiết của chính sách nhân tài hiện
đại. Dựa trên tính tích cực của thuyết này, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất sử
dụng cách tiếp cận và mở rộng phạm vi nhân tài trong việc thể hiện tài năng.
Theo đó, một nhân tài là người khi ở trong điều kiện thuận lợi thể hiện một cách
xuất sắc và rõ ràng tài năng của mình. Tài năng của con người là tiềm năng thể
nghệ sĩ, nhân tài thể thao... .Nhu vậy tính cụ thể và tính da phương diện của năng
lực con người quyết định tính rộng lớn của con người.
1.1.2
Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lenin về nhân tài và sử dụng
nhăn tài
Chủ nghĩa Mác - Lenin về nhân tài là cội nguồn của tu tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về nhân tài. Bởi vậy, khi nghiên cứu
chiến lược sử dụng nhân tài của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhân tài cần
16
phải nắm được tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lenin về nhân tài. Trong
các quan điểm về nhân tài và chính sách sử dụng nhân tài của chủ nghĩa
Mác - Lê nin cần chú ý các luận điểm sau:
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là kho báu nhân tài lớn nhất.
Chủ nghĩa Mác - Lenin cho rằng trong quần chúng nhân dân lao
động tiềm ẩn một nguồn nhân tài vô cùng phong phú, là kho báu nhân tài
lớn nhất. Sau cách mạng tháng Mười, VI. Lenin nhiều lần chỉ ra rằng
trong dân chúng có rất nhiều nhà tổ chức thiên tài. Tháng 3 năm 1920
Lenin chỉ rõ: Những người lao động này trước nay chưa từng sống trong
trạng thái bi mật giả tạo, cách biệt với quần chúng, từ rất sớm họ đã hiểu
rõ mối quan hệ giữa những người trong số họ nhiều hơn nhiều so với bất
kỳ giai cấp nào khác. Rất rõ ràng đối với nhà lãnh tụ cách mạng Mác xít,
nhân tài tuyệt nhiên không chỉ là một số it những nhân vật thiên tài, nhân
vật vĩ đại, mà các nhân tài ở từng lĩnh vực cụ thể và công nhân, nông dân
tiên tiến đều là nhân tài [45, tr22].
Thứ hai, chế độ xã hội quyết định sự phát triển của nhân tri
đấu tranh là cái có khả năng nhất để tạo ra nhân tài. Dù là khởi nghĩa của
nô lệ, phong trào nông dân, đấu tranh của giai cấp tu sản hay là cách
mạng của giai cấp vô sản đều tạo ra trong cuộc đấu tranh cách mạng của
giai cấp hàng loạt những lãnh tụ của giai cấp mình [45, tr 25].
Ba là, bất cứ nhân tài nào cũng đều mang đặc trưng của thời đại, có
tính hạn chế lịch sử. Vi dụ, Xanh Xi Mông là nhà chủ nghĩa xã hội không
tưởng sở dĩ là như vậy là do thời đại của họ nền sản xuất tu bản chủ nghĩa
còn chưa phát triển thì họ chỉ có thể như vậy. Ngay cả những nhân vật vĩ
đại như Mác - Ănghen vốn không thể thoát khỏi sự chế ước của lịch sử.
Nhân tài nảy sinh trong thực tiễn, quần chúng là chủ thể thực tiễn.
Thực tiễn sinh ra nhân tài, nhân dân nuôi dưỡng nhân tài, đó là quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lenin về quan hệ giữa nhân tài và thực tiễn, nhân tài
18
và quần chúng. Trước khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, nhân
tài chính trị, quân sự của giai cấp vô sản được tạo tạo lên trong đấu tranh
cách mạng vĩ đại. Năm 1919, Lenin chỉ ra rằng, nếu nhìn vào con đường
mà vi lãnh tụ đó đi qua, chúng ta lập tức phát hiện rằng tài tổ chức tuyệt
vời của người đó đã được rèn luyện lên trong quá trình lâu dài, rằng tất cả
mọi phẩm chất tốt đẹp của nhà cách mạng có ở vi lãnh tụ cách mạng vô
sản đó đều được điều kiện tự rèn luyện trong môi trường công tác cách
mạng gian khổ nhất qua các thời kỳ.
Sau Cách mạng Tháng Mười thực tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội đã
bồi dưỡng nên hàng loạt chuyên gia trên nhiều lĩnh vực có tri thức kỳ
thuật và kinh nghiệm khác nhau, từ đó đã thực hiện thuận lợi bước quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Tri thức, tài năng của nhân tài bắt nguồn từ thực tiễn
mà quần chúng nhân dân lại là chủ thế của thực tiễn xã hội. Do đó, quần
chúng là co sở để nhân tài ra đời và tồn tại. Sự trưởng thành của nhân tài,
nhân tài trong giai cấp này là lực lượng kiên trung, và có bản lĩnh hơn ở
trong các giai, tầng khác.
Hai là, cần lựa chọn nhân tài từ trong cán bộ đảng viên. VI. Lenin cho
rằng cán bộ cơ sở đều ở tuyến đầu của sản xuất công tác nên họ có thực tế, có tri
thức có năng lực sáng tạo. Chúng ta không thể gạt bỏ những điều kiện đến từ cơ
sở, có tính sáng tạo này mà cần mạnh dạn trong việc đề bạt họ vào đảm nhiệm
các chức vụ lãnh đạo, tạo điều kiện cho họ có khả năng phát huy năng lực tổ
chức của mình, phục vụ cho cách mạng và xây dụng đất nước.
Thứ năm, ra sức bồi dường con người mới phát triển toàn diện
Đây là một trong những nội dung quan trọng trong quan niệm của
chủ nghĩa Mác về nhân tài. Những người sáng lập chủ nghĩa Mác, đã
nghiên cứu ra bản chất của con người và xây dựng học thuyết về sự phát
triển toàn diện của con người. Năm 1845, cuốn Hệ tu tưởng Đức, do Mác
- Ảnghen cùng viết đã lần đầu tiên trình bày tương đối có hệ thống về sự
phát triển toàn diện của con người là sự phát triển toàn diện tài năng của
con người, trong đó có năng lực tu duy; là sự phát triển độc đáo và tự do
của cá nhân. Năm 1847 trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa
cộng sản”, Ănghen đã bàn một cách sâu sức về hàm nghĩa của sự phát
triển toàn diện của con người, ông chỉ ra rằng con người hoàn toàn mới.
Năm 1867, trong tác phẩm “Tu bản”, Mác
công nghiệp đại cơ khí cần thay thể những cá nhân cục bộ chỉ đảm đương
một chức năng xã hội cục bộ bằng thứ cá nhân phát triển toàn diện. Có thể
20
thây con người mới phát triên toàn diện mà những người sáng lập chủ
nghĩa Mác đề ra là trạng thái lý tưởng của sự phát triển của con người
trong xã hội cơ bản. Bởi vậy, con người mới phát triển toàn diện là
phương hướng phát triển của nhân tài chủ nghĩa xã hội.
lai. Người là hiện thân của đạo đức, nhân cách, ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt
Nam. Người là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá, là người đã
sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng
toàn dân ta một tài sản vô giá, đó chính là hệ thống tư tưởng, lý luận của Người.
Hồ chí Minh là một tấm gương sáng trong đạo đức cách mạng, đặc biệt là trong
việc biết người, dung người và quản người. Người là một điển hình mẫu mực
trong tôn trọng và sử dụng nhân tài.
Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, có lòng yêu nước
vô bờ bến, có nhãn quan chính trị nhạy bén và sâu sắc .ngay từ khi lớn lên
Người đã ý thức được việc để đấu tranh,để làm cách mạng, giải phóng dân
tộc, làm cho nước ta thoát khỏi ách áp bức nô lệ vươn lên xây dựng đất
nước giàu mạnh thì cần phải có nhiều người tài giỏi, cần phải có một lực
lượng những con người yêu nước nồng nàn, được trang bi kiến thức, lý
luận cách mạng sâu sắc. Ý thức được điều đó chung như thấm nhuần
truyền thống hiếu học, yêu nước tôn trọng kẻ sĩ người hiền của cha ông,
trong quá trình hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh luôn quan tâm theo
dõi, phát hiện bồi dưỡng người tài đức để thúc đấy cách mạng tiến lên.
- Vị trí, vai trò của nhãn tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan niệm nhất quán về vi trí vai trò của
nhân tài và khẳng định : trong thời đại mới để đánh bại được bọn thực dân,
đế quốc nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng loài
người, nếu chỉ có tinh thần cách mạng và lực lượng đông đảo của quần
chúng thôi thì chưa đủ, cách mạng muốn thành công thì phải có nhiều
người tài giỏi, phải có nhiều trí thức, chuyên gia. Đánh giá cao vai trò và
địa vi của nhân tài, trí thức Hồ Chí Minh khẳng định : "Tri thức là vốn
liếng quỷ báu của dân tộc. Ó nước khác như the ở Việt nam càng thế.
Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức
22
23
tóc ’ Lúc này vô cùng thiếu thốn nhân tài ra giúp nước, ra gánh vác công
việc của quốc dân, Sau ngày độc lập, hơn 90% dân số của nước ta mù
chữ, trong tình thể đó thì làm sao mà có nhân tài được. Ý thức được như
thế Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh lập Nha bình dân học vụ, cả nước xóa mù
chừ nhằm nâng cao trình độ văn hóa, tri thức khoa học của nhân dân. Bởi
vi chỉ trong môi trường được giáo dục và học tập như thế thì sau này mới
có thể nảy sinh hàng loạt nhân tài được. Người khẳng định:“Nhân tài
nước ta dù nhiều lắm nhưng nếu chủng ta khéo lựa chọn, khéo phan phoi,
khéo dùng thì nhân tài ngày càng phat triển càng thêm nhiều ” [ 23, tr,
45] . Người ý thức rằng lúc khó khăn này chúng ta cần có nhiều nhân tài
nhưng nếu được chính phủ khéo lựa chọn, khéo dùng thì nhan tài sẽ nảy
nở ngày càng nhiều thêm. Lời khẳng định này cho đến nay vẫn còn
nguyên tính thời sự sâu sắc.
Trong bài “ Tìm người tài đức “Người đã nêu nên rằng: “Nước nhà
cần phải kiến thiết, kiến thiết cần phải cỏ nhân tài. Trong so 20 triệu
đồng bào chắc không thiểu người có tài có đức. Vi chỉnh phủ nghe không
đến, thấy không khap, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất than.
Khuvết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muon sửa đôi điểu đó và trọng
dụng những kẻ hiền năng, cac địa phương phai lập tức điều tra nơi nào
có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thi phai
báo cáo ngay cho chính phủ biết... ” [23, tr 451]. Trong bối cảnh ấy,
trong lúc con thuyền cách mạng đang phải trải qua muôn ngàn song gió
thử thách thì ta càng thấy rõ hơn về cái tâm cầu hiền của một nhà cách
mạng vĩ đại. Trong Báo Cứu quốc số 91, ra ngày 14/11/1945, Người kêu
gọi: “Đồng bào ta ai có tài năng và sảng kiến vào những công việc lại
sẵn long hăng hải giúp ích nước nhà thì xin gửi kể hoạch cho rõ ràng cho
chỉnh phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ẩy một cach kỹ lưỡng có thể
thực hành được thì sẽ thực hành ngay”[23, tr 452].
trong kháng chiến kiến quốc.
Là một người thức thời, luôn đề cao sự nghiệp cách mạng và xây
dựng đất nước, Người luôn trăn trở, suy nghĩ về vấn đề bồi dưỡng nhân
tài, xây dựng lớp lớp những thế hệ cán bộ tiếp tục sự nghiệp cách mạng
vừa hồng và chuyên. Đối với Hồ Chí Minh nhân tài trước tiên phải là
người có đức, đức và tải phải di đôi với nhau, đức là nền tảng để tài nảy
nở và phát triển. Người cũng chỉ ra rằng nhân tài mà không có đức thì đó
là một điều vô cùng nguy hiểm, Người khẳng định : “Có tài phai có đức.