“Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
cho cán bộ cấp cơ sở từ năm 2008 đến năm 2015”
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ nói chung và CBCCS nói
riêng là công tác thường xuyên, quan trọng của Đảng nhằm xây dựng đội ngũ
cán bộ có phẩm chất, năng lực trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giai
đoạn cách mạng. Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là
khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, gắn liền với vận mệnh của Đảng,
của đất nước và chế độ. Trong quá trình lãnh đạo, nhất là thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH và hội nhập quốc tế, việc đào tạo, bồi dưỡng LLCT, xây dựng đội ngũ cán
bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt là một trong những
khâu quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt trong công tác cán bộ của Đảng.
Thủ đô Hà Nội là Trung tâm chính trị - Hành chính quốc gia, nơi đặt trụ
sở của các cơ quan Trung ương Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội,
cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế, là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa,
giáo dục, khoa học và công nghệ và giao dịch quốc tế của các nước. Nhận thức rõ
vị thế của Thủ đô và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho
cán bộ, Đảng bộ thành phố Hà Nội thường xuyên quan tâm chỉ đạo các cấp ủy
Đảng, các cơ quan chức năng không ngừng bồi dưỡng về chính trị, tư tưởng và
năng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ CBCCS. Tuy nhiên, do nhiều
nguyên nhân, đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ CBCCS nói riêng vẫn còn nhiều
bất cập chưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao. Một trong những nguyên nhân là
do trình độ LLCT của CBCCS còn hạn chế, công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT
chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa được đổi mới toàn diện. Vì vậy, nghiên cứu,
làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng
về LLCT cho CBCCS là vấn đề có ý nghĩa quan trọng
.
Lê Văn Minh (2007), Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo công tác đào
tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở miền
núi từ năm 1996 đến năm 2006, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Bùi
Đức Lý (2010), Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm
2006, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Cầm Thị Lai (2012),
Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị - hành chính cho đội ngũ cán bộ
chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ
khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
Nguyễn Thanh Xuân (2014), Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo công tác đào
tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở từ năm 2006 đến
năm 2014, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đây là các đề tài đi sâu
nghiên cứu vấn đề đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS ở các địa
phương. Tùy theo góc độ tiếp cận vấn đề của mỗi đề tài, trên từng địa
phương cụ thể, các tác giả đã luận giải vị trí, vai trò, tầm quan trọng của
công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS; phân tích thực
trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS ở địa
phương, trên cơ sở đó làm rõ các chủ trương, biện pháp và tổng kết một số
kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng LLCT ở các địa phương đó .
Tổng quan khoa học đề tài cấp Bộ của Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội (2004), Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay (qua khảo
3
4
của Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong”, Tạp chí Lý luận chính trị, số
11; Hoàng Chung Hiếu (2014), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về huấn
luyện cán bộ trong bồi dưỡng năng lực và phương pháp huấn luyện cho đội ngũ
cán bộ ở các đơn vị cơ sở”, Tạp chí Giáo dục Lý luận chính trị quân sự, số 6; Trần
Văn Dũng (2015), “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thật sự là công bộc của
dân- mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”, Tạp chí Giáo dục Lý luận
chính trị quân sự, số 4. Các bài báo khoa học trên đã phác họa một bức tranh tổng
thể về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung,
đào tạo, bồi dưỡng, LLCT cho đội ngũ CBCCS nói riêng.
Các công trình khoa học trên đã đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khác
nhau của của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ CBCCS nói riêng. Một số công trình đã phân tích rõ thực trạng, đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức; đặc biệt là có một số bài nghiên cứu phân tích thực
trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của thành phố Hà Nội và bước đầu khái
quát các kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của
thành phố. Các công trình tuy đa dạng, phong phú, phản ánh nhiều mặt, nhiều góc
độ khác nhau của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức song không phải
là công trình nghiên cứu chuyên sâu về đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán
bộ. Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, có tính hệ
thống về quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội đối với công
tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS từ năm 2008 đến năm 2015,
dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, những công
trình trên là những tài liệu tham khảo có giá trị để tác giả kế thừa có chọn lọc
trong quá trình thực hiện đề tài của mình.
trình thực hiện luận văn, tác giả có sử dụng một số vấn đề có liên quan giai
đoạn trước năm 2008.
- Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin; phương pháp luận sử học mácxít.
6
* Phương pháp nghiên cứu
Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và kết
hợp hai phương pháp đó. Ngoài ra, sử dụng một số phương pháp khác: so sánh,
đồng đại, lịch đại, thống kê, phân tích, tổng hợp, và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống hóa chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ
thành phố Hà Nội về công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS. Khẳng
định tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong lãnh đạo
công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS; cung cấp cơ sở lý luận và
thực tiễn để tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ thành
phố Hà Nội về công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ CBCCS trong
những năm tiếp theo.
Đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu,
giảng dạy Lịch sử Đảng ở Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố
Hà Nội và trung tâm bồi dưỡng chính trị các quận, huyện trên địa bàn thành
phố Hà Nội. Ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng cho các tổ chức, cá nhân của
Đảng bộ thành phố Hà Nội, hệ thống chính trị ở cơ sở và những ai quan tâm.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm: Mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, cán bộ cơ sở:
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 khẳng định: Cán bộ xã, phường, thị
trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ
theo nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, bí thư, phó
bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là
công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ
thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.
Đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn là những cán bộ trong
bộ máy lãnh đạo và quản lý ở cấp cơ sở. Theo Nghị định số 92/2009/NĐ CP, ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ, Về chức danh, số lượng, một
số chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và
những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã bao gồm “cán bộ
chuyên trách, công chức và những người hoạt động không chuyên trách” [3 3,
tr.0l].
Cán bộ chuyên trách là những người giữ chức vụ bầu cử theo nhiệm kỳ
ở cấp xã (gọi chung là cán bộ cấp xã) bao gồm: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban
phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã nêu rõ: “Bồi dưỡng là hoạt động
trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [3 4, tr.2].
Như vậy, bồi dưỡng cán bộ cũng là quá trình tác động đến tâm lý, nhân
cách của người cán bộ, làm cho họ tốt hơn về đạo đức và giỏi hơn về năng lực
chuyên môn nghiệp vụ. Xét một cách tổng quát thì khái niệm “đào tạo cán bộ” bao
hàm cả ý nghĩa “bồi dưỡng cán bộ”; vì vậy cụm từ “đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”
thường được sử dụng trong thực tế.
10
Tuy nhiên, bồi dưỡng cán bộ có những đặc điểm cơ bản khác với đào
tạo là: Bồi dưỡng cán bộ chủ yếu là bổ sung, cập nhật kiến thức, thông tin vào
những tri thức mà cán bộ đã có. Nội dung bồi dưỡng LLCT, hành chính hướng
vào những quan điểm, chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, cập
nhật những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý hành chính. Hình thức
của bồi dưỡng đa dạng, linh hoạt: có bồi dưỡng nâng cao, cập nhật, chuyên sâu
theo chức danh; có bồi dưỡng nhiều lần, hàng năm và được ghi nhận hoàn
thành bằng chứng nhận, chứng chỉ. Thời gian bồi dưỡng cán bộ trong thực tế
thường trong khoảng một vài tuần đến một vài tháng. Hình thức bồi dưỡng cán
bộ có thể được tổ chức một cách “mềm dẻo” hơn, thậm chí trong một số hoàn cảnh
không nhất thiết phải tập trung (ví dụ như thông qua việc cung cấp tài liệu, sách vở
hoặc những lời chỉ dẫn... cho người được bồi dưỡng).
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần được tiến hành trên cơ sở khoa
học, trước hết là khoa học tâm lý và giáo dục. Bồi dưỡng có thể áp dụng đối với
mọi đối tượng cán bộ, còn đào tạo diễn ra thuận lợi, hiệu quả khi cán bộ ở độ tuổi
dưới 40.
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, là trung tâm kinh
tế, văn hóa - xã hội. Đặc điểm lớn nhất về điều kiện tự nhiên và KT - XH
của thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2008 - 2015 đó là việc điều chỉnh địa
giới hành chính. Ngày 29 tháng 5 năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 15/2008/NQ - QH12 về việc
điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên
quan, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 08 năm 2008. Theo Nghị quyết, thành
phố Hà Nội được mở rộng với toàn bộ diện tích tỉnh Hà Tây, huyện Mê
Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình); có diện tích
3.344,7 km 2 với dân số khoảng 6,23 triệu người. Hà Nội hiện nay có 29
quận, huyện và 01 thị xã, có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và
105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh Thái
12
Nguyên, Vĩnh Phúc; phía Nam tiếp giáp Hà Nam , Hòa Bình; phía Đông
tiếp giáp Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Tây tiếp giáp Hòa Bình, Phú Thọ.
Đảng bộ Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính có 58 đảng bộ
trực thuộc (l0 đảng bộ quận; 19 đảng bộ huyện, thị xã; 5 đảng bộ khối; 21
đảng bộ cấp trên cơ sở và 03 đảng bộ cơ sở trực thuộc Thành ủy); có 2.955
tổ chức cơ sở đảng; 17.432 đảng bộ bộ phận, chi bộ trực thuộc cơ sở với
367.340 đảng viên. Đến nay, Đảng bộ thành phố Hà Nội có 59 đảng bộ trực
thuộc (12 đảng bộ quận, 18 đảng bộ huyện, thị xã; 5 đảng bộ khối; 21 đảng
bộ trên cơ sở, 03 đảng bộ cơ sở trực thuộc Thành ủy); có 2.920 tổ chức cơ sở
đảng, 375.058 đảng viên.
Việc mở rộng Hà Nội là công việc khó khăn, phức tạp với khối lượng
công việc phải thực hiện rất lớn (diện tích, dân số, đơn vị hành chính tăng; tỷ
thực tiễn” là những người định hướng, dẫn dắt hành động cho giai cấp vô sản
và quần chúng, đó là những đại biểu ưu tú nhất, lãnh tụ của phong trào công
nhân đã được giác ngộ lý luận của CNXH khoa học và là những người cộng
sản đầu tiên của giai cấp vô sản. Mác và Ăngghen đã nhận thức rõ vai trò của
cán bộ và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, (1848) C.Mác, Ph.Ăngghen đã
nêu lên hai đặc điểm cơ bản của người cộng sản, đó là lòng trung thành với sự
nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và sự hiểu biết về lý luận. Các ông đã chỉ
rõ: giáo dục, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ là một trong những nhiệm vụ
hàng đầu của mỗi Đảng Cộng sản, đồng thời coi đây là điều kiện dẫn đến mọi thắng
lợi của các phong trào cách mạng. Nhờ được đào tạo, bồi dưỡng về LL cách mạng
mà giai cấp vô sản tất yếu sẽ đảm nhận vai trò lãnh đạo nhờ sự hơn hẳn về lý luận
và kinh nghiệm thực tiễn của mình.
Kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề cán
bộ, V.I.Lênin cho rằng: Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành
được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình
những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và
14
lãnh đạo phong trào. Theo V.I.Lênin, mỗi giai cấp muốn giành được quyền
thống trị thì trong hàng ngũ của mình phải có những nhà lãnh đạo có khả năng
dẫn dắt phong trào và khi đã có đường lối đúng thì cán bộ là khâu quyết định
để biến đường lối đó thành hiện thực cách mạng. Khi đã giành được chính
quyền, lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH, V.I.Lênin khẳng định: Nghiên
cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh, hiện nay đó là then chốt; nếu
không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn.
Theo người: Nhiệm vụ chính của cách mạng lúc này không chỉ là ra nghị
không có bàn chỉ nam; “Đối với công việc kháng chiến và kiến quốc, lý luận là
rất quan trọng. Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm” [76, tr.276]. Có chủ
nghĩa Mác - Lênin soi đường thì quần chúng nhân dân hành động mới đúng đắn, mới
phát triển tài năng và lực lượng vô tận của họ.
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn mà không có lý luận hướng dẫn thì thành
thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận
suông. Người chỉ rõ: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho
chúng ta trong công việc thực tế” [ 74, tr.273]. Theo Người, giáo dục LLCT
góp phần nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn, học tập lý luận không
phải là để thuộc làu sách Mác - Lênin, không phải học một cách giáo điều mà
là học cái tinh thần xử trí đối với mọi việc, đối với mọi người và đối với bản
thân mình. Hồ Chí Minh cho rằng đào tạo, bồi dưỡng LLCT là góp phần nâng
cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân; làm cho chủ
nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần
xã hội, giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân xây dựng thế giới quan và phương
pháp luận đúng đắn. Tháng 05 năm 1966, tại lớp huấn luyện đảng viên mới do
Thành uỷ Hà Nội tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có lý luận về
chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thế có lập trường giai cấp vững vàng. Vì vậy,
các cô, các chú phải chịu khó học tập lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối, chính
sách của Đảng; đồng thời phải học tập văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ” [77, tr.113].
Người chỉ rõ: “Mỗi đảng viên phải tích cực học tập. Phải thực hiện lời dạy của Lênin là
học, học nữa, học mãi. Học phải đi đôi với hành. Học để hành ngày càng tốt hơn; phải
coi việc học tập lý luận chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình” [77, tr.113].
16
Đồng thời, Người cũng chỉ rõ là phải chống thói xem nhẹ học tập LLCT, vì “không
Trong hệ thống chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay thì cấp cơ
sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền
17
nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở.
CBCCS là những người gần dân nhất, sát dân nhất, mọi chủ trương, đường
lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với nhân dân
hay không; đến đúng, đến đủ, công khai minh bạch hay không, được nhân dân
tiếp thu đúng đắn hay không đều thông qua đội ngũ CBCCS. Đội ngũ CBCCS
góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụ
chính trị của Đảng và Nhà nước. Không có đội ngũ CBCCS vững mạnh thì dù
đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực.
CBCCS vừa là người trực tiếp đem các chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là người
phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước để
có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn. CBCCS
có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở.
Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất
của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc
hàng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương. Họ còn có vai trò
trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ,
quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thông qua hoạt động
của đội ngũ CBCCS, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực
hiện quyền tự quản của mình. Đội ngũ CBCCS có vai trò hết sức quan trọng
trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi
hành nhiệm vụ, công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp cơ sở
nói riêng và hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, xét đến cùng được quyết định
bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCCS.
của Đảng nhấn mạnh cần phải “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong
sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” [50, tr.252].
1.1.4. Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho
cán bộ cấp cơ sở ở thành phố Hà Nội trước năm 2008
Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS của thành phố Hà Nội
trước năm 2008 do Đảng bộ thành phố Hà Nội và Đảng bộ tỉnh Hà Tây trước
đây lãnh đạo. Đảng bộ tỉnh Hà Tây và Đảng bộ thành phố Hà Nội đều nhận
thức rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, nhất
19
là CBCCS đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, chú trọng quan
tâm lãnh đạo chặt chẽ, thường xuyên đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng
LLCT cho cán bộ, công chức, viên chức. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp
của Tỉnh ủy Hà Tây và Thành ủy Hà Nội, công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT
cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung, CBCCS nói riêng đã được
quan tâm và đạt được kết quả có ý nghĩa quan trọng.
Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS của trung
tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện
Nhằm thống nhất về tổ chức các đơn vị làm công tác bồi dưỡng, đào
tạo chính trị ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu cấp bách về nâng cao nhận thức chính
trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở trong tình hình mới, ngày 03 tháng
06 năm 1995, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã ban hành Quyết
định số 100 - QĐ/TW, Về tổ chức trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp
huyện. Thực hiện Quyết định của Trung ương, Tỉnh ủy Hà Tây và Thành
ủy Hà Nội đã có hướng dẫn cụ thể, triển khai thực hiện một cách nghiêm
túc, kịp thời. Ngày 05 tháng 10 năm 1995, UBND thành phố Hà Nội ban
hành Quyết định 3954/QĐ - UB, Về đổi tên Trường Đảng thành Trung
Tâm bồi dưỡng chính trị và chuyển giao về UBND quận, huyện quản lý.
trường chính trị tỉnh, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, Đại học Quốc
gia, Cao đẳng Văn thư - Lưu trữ (nay là Đại học Nội vụ), Học viện Tài
chính; Học viện Hành chính quốc gia… tổ chức và quản lý các lớp trung cấp
chính trị - hành chính, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước ngạch
chuyên viên, các lớp đại học theo hình thức vừa học vừa làm cho cán bộ,
lãnh đạo, nguồn lãnh đạo ở các phòng, ban, ngành của các quận, huyện và cán
bộ chủ chốt ở cơ sở. Những lớp này đã đáp ứng được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
cho số lượng đông đảo CBCCS ở các quận, huyện, mang lại hiệu quả thiết thực,
góp phần nâng cao trình độ LLCT, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ công
chức, nhất là CBCCS của các quận, huyện. Đây chính là tiền đề, là cơ sở quan
21
trọng để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển KT - XH ở các quận, huyện
và thành phố, góp phần đáng kể vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS của Trường
Chính trị tỉnh Hà Tây và Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong: Các nhà
trường đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi
dưỡng LLCT cho CBCCS, trong đó chú trọng làm tốt việc xây dựng kế
hoạch, chương trình, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng; xây
dựng và kiện toàn đội ngũ giáo viên, báo cáo viên đảm bảo đủ phẩm chất và
năng lực; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác
đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho CBCCS… Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT
của các nhà trường đã đạt được những kết quả có ý nghĩa quan trọng: Theo
thống kê trong thời gian 5 năm (từ năm 2004 đến năm 2008), Trường chính
trị tỉnh Hà Tây đã mở được 18 loại hình lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, với
391 lớp, 38.482 học viên; Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong có tới 24
loại hình lớp các loại với 396 lớp, 35.334 học viên [92, tr.230 - 231]. Công
tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ
cấp của thành phố, trong đó có CBCCS, “Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các
cấp của thành phố nhìn chung đủ tiêu chuẩn theo quy định, nhiều đồng chí có
trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm thực tiễn” [94, tr.6].
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT
cho CBCCS ở thành phố Hà Nội trước năm 2008 còn tồn tại những hạn chế,
bất cập như: Chưa có hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức toàn diện, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức. Còn thiếu
những nội dung bồi dưỡng về kỹ năng nghiệp vụ, xử lý tình huống thực tiễn
cho cán bộ, công chức; phương pháp và hình thức đào tạo, bồi dưỡng chưa theo
kịp quá trình đổi mới, hiệu quả thấp. Một số giảng viên, báo cáo viên còn hạn
chế về phương pháp, kỹ năng chuyên môn, kiến thức thực tiễn và những tri
thức tổng hợp nên ảnh hưởng đến chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng
LLCT, từ đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác tư tưởng, lý
luận cũng như năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở. Đánh
23
giá về vấn đề này, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ
thành phố Hà Nội nhấn mạnh: “Công tác tư tưởng, lý luận chưa đủ sức lý giải,
chưa kịp thời giải quyết một số vấn đề thực tiễn đặt ra” [91, tr.48]. Không ít nơi
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên chưa ngang
tầm nhiệm vụ, vai trò lãnh đạo còn mờ nhạt, chất lượng sinh hoạt, tự phê bình
và phê bình yếu, kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm, chưa thực hiện đúng nguyên
tắc tập trung, dân chủ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện mơ hồ, mất
cảnh giác, chưa tiên phong, gương mẫu, thiếu tu dưỡng, rèn luyện; trong đó
một số cán bộ, đảng viên suy thoái phẩm chất đạo đức, tham nhũng, tiêu cực.
Vai trò lãnh đạo của một số cấp ủy cơ sở còn yếu. Năng lực điều hành, quản lý
của bộ máy chính quyền trên một số lĩnh vực như quản lý đất đai, xây dựng cơ
bản ở một số địa phương, đơn vị còn bị buông lỏng, đùn đẩy hoặc né tránh.
năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Để nâng cao phẩm chất,
năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp, Đảng đặc biệt chú
trọng lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện về tư tưởng, chính
trị, chuyên môn, nghiệp vụ, và thể chất… Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng LLCT
là một trong những nội dung trọng tâm, ưu tiên hàng đầu của Đảng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã đề ra chủ
trương: Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu đánh giá, quy hoạch,
ĐTBD, luân chuyển, bố trí sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ. Đồng
thời, “kiện toàn, tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các trường chính trị
tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các trường dân tộc nội trú để
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở cơ sở” [46, tr.300].
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) ra Nghị
quyết số 16 - NQ/TW, ngày 01 tháng 8 năm 2007, Về công tác tư tưởng, lý
luận và báo chí trước yêu cầu mới, đã nhấn mạnh chủ trương: “Đổi mới và
nâng cao chất lượng giáo dục lý luận trong hệ thống các trường chính trị, các
trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước; khắc phục sự lạc
hậu của chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, bảo đảm tính cơ bản, hệ
thống, hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam” [47, tr.8]. Đây là một chủ trương
25