bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên THPT - Pdf 42

NỘI DUNG I
Những việc đã làm và những sáng tạo của cá nhân trong việc thực hiện nội
dung về Đổi mới phương pháp dạy học và Kiểm tra đánh giá học sinh
I. MỞ ĐẦU
1. Vai trò và tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học, và kiểm tra
đánh giá;
Theo quan điểm giáo dục hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác (GV –
HS, HS – HS, HS - GV, HS với những người hiểu biết hơn…), Việc truyền thụ tri
thức một chiều không còn đáp ứng được trước những đòi hỏi của sự phát triển giáo
dục hiện đại. Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) để học sinh chủ
động, tích cực, sáng tạo trong học tập là một vấn đề cần thiết và không thể thiếu
được. Bởi, chỉ có đổi mới PPDH, chúng ta mới góp phần khắc phục những biểu
hiện trì trệ nghiêm trọng trong giáo dục hiện nay; chỉ có đổi mới PPDH chúng ta
mới góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và chỉ có đổi
mới PPDH chúng ta mới tham gia được vào “sân chơi” quốc tế trong việc nâng cao
chất lượng giáo dục và tiếp cận phương pháp giáo dục mới theo quan điểm giáo
dục hiện đại.
Việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập mang một ý nghĩa vô cùng quan
trọng và có mối liên hệ khăng khít với nhau, trong đó kiểm tra là phương tiện còn
đánh giá là mục đích vì không thế đánh giá mà không dựa vào kiểm tra. Do đó các
phương pháp KT-ĐG cũng là một phương pháp dạy học nhưng chúng được sử
dụng ở giai đoạn giảng dạy khi giáo viên có đầy đủ căn cứ để yêu cầu học sinh báo
cáo sự lĩnh hội tài liệu đã học và đánh giá trình độ lĩnh hội tài liệu của từng em.
Vì những lẽ đó, việc đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá hiện nay không
chỉ là phong trào mà còn là một yêu cầu bắt buộc với mọi giáo viên.
2. Thực tiễn những hạn chế bất cập cần giải quyết về đổi mới phương pháp
dạy học và kiểm tra, đánh giá;
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của giáo dục phổ thông,
hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá đã được quan tâm tổ
chức và thu được những kết quả bước đầu. Từ công tác quản lý đến nhận thức thay
đổi của đội ngũ giáo viên, nhiều giáo viên đã vận dụng tốt quy trình đổi mới

Giáo dục được thực hiện trong những hoàn cảnh kinh tế – xã hội cụ thể và
phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Vì thế những yêu cầu của nền
kinh tế – xã hội đối với giáo dục, đối với đội ngũ lao động là những cơ sở quan
trọng cho việc xác định phương hướng phát triển giáo dục. Sự phát triển kinh tếxã hội đặt ra những yêu cầu đối với giáo dục trên nhiều phương diện.
1.1. Lý do phải đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá;
1.1.1. Mục tiêu giáo dục thay đổi; Đổi mới chương trình SGK; Phương tiện phục
vụ giảng dạy thay đổi;
1.1.2. Đối tượng người dạy và người học khác so với trước đây;
1.1.3. Đánh giá hiệu quả của phương pháp đang làm để tìm ra phương pháp hiệu
quả hơn;
1.1.4. Sự phát triển không ngừng của PPDH;
1.1.5. Động lực bên trong :
+ Tri thức nhân loại không ngừng tăng, nhưng số năm học PT có hạn, do đó phải
nâng cao kĩ năng tự học;
+ Áp lực cạnh tranh, sự đòi hỏi về năng lực của người học khi bước vào cuộc sống;
+ Khuyết điểm của ngày hôm nay có thể là sự duy trì quá lâu những ưu điểm của
ngày hôm qua.
1.2. Hội nhập quốc tế:
Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với
những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hoá tạo ra những cơ hội nhưng
đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao
động. Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng
nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh. Mặt khác thị trường lao động luôn đòi
hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo,
linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các
vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi. Trong xã hội tri thức, việc phát
triển kinh tế - xã hội dựa vào tri thức. Vì vậy giáo dục đóng vai trò then chốt trong


việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và

Quốc gia 1997. tr41).
1.4. Quan điểm dạy học lấy người làm trung tâm là cơ sở để đổi mới phương
pháp dạy học
Một xu hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học đại học là đổi mới theo
quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm. Quan điểm này có cơ sở lý luận
từ việc nhận thức quá trình dạy học là quá trình có hai chủ thể: Thầy và trò. Cả hai
chủ thể này đều chủ động, tích cực, bằng hoạt động của mình hướng tới tri thức,
thầy thì hoạt động truyền đạt tri thức, còn trò thì hoạt động chiếm lĩnh tri thức và
biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn… Đây là quan điểm dạy học được đa số các nước có nền giáo dục tiên
tiến quan tâm. Xin nhấn mạnh rằng, hoạt động của thầy và hoạt động của trò đều là
hoạt động có ý thức, dưới sự chỉ huy của ý thức để đạt mục tiêu của mình. Vì vậy,
kết quả nhận thức của họ trong các quá trình nhận thức, trước khi đạt đến mức
chuyển hóa được thành phương pháp, là công cụ cho họ thực hiện mục đích của


mình. Do vậy, bàn về phương pháp dạy học chúng ta phải bàn đến cả phương pháp
dạy của thầy và phương pháp học của trò. Sự phù hợp của hai phương pháp này sẽ
cho chúng ta hiệu quả thực sự của việc dạy học. Bài viết này tập trung vào phương
pháp của thầy - một trong hai chủ thể của quá trình dạy học tích cực.
Ta có thể so sánh để thấy được sự khác nhau của hai quan điểm giáo dục:
Quan điểm dạy học lấy thầy
Quan điểm dạy học lấy người học làm trung
làm trung tâm
tâm
1. Thầy truyền đạt tri thức 1. Thầy định hướng nghiên cứu và tài liệu nghiên
cứu
2. Thầy độc thoại phát vấn.
2. Trò tự mình tìm ra tri thức bằng hành động tự
học là chủ yếu

Một vấn đề quan trọng là, nhiều giáo viên nhận thức được sự cần thiết phải đổi
mới phương pháp nhưng rất khó từ bỏ các phương pháp đã quen dùng. Do đó,
muốn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học thì trước hết là bản thân mỗi giáo


viên phải ý thức được để chủ động từ bỏ các phương pháp dạy học truyền thống đã
thành thói quen và chuyển hẳn sang các phương pháp mớ.
1.5. Vấn đề về đổi mới kiểm tra đánh giá:
Kiểm tra là quá trình thu thập thông tin làm cơ sở cho đánh giá. Đánh giá
kết quả học tập là quá trình thu thập xử lý thông tin về trình độ, khả năng người
học thực hiện. Đo lường kết quả học tập là quá trình đối chiếu các thông tin thu
được với tiêu chuẩn hoặc tiêu chí. Việc đo lường mang tính phức tạp, có một số
đặc trưng như định tính và định lượng, trực tiếp và gián tiếp.
Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như
đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học; Nếu
thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp phát
triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất
nhiều. Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú, tạo
sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin.
2. Thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá hiện nay;
2.1: Thuận lợi và những thành công;
Phần lớn cán bộ giáo viên đều được tập huấn về đổi mới phương pháp dạy
học và kiểm tra đánh theo các chương trình tập huấn của ngành;
Giáo viên có nhận thức đúng đắn về sự đổi mới về chương trình học mới, có
năng lực chuyên môn tốt, tâm huyết với nghề dạy học có tinh thần trách nghiệm
trong nhiệm vụ được giao
Có được sự chỉ đạo kịp thời ....
Phụ huynh học sinh ủng hộ...
Học sinh có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin học tập bổ ích...Mạnh
dạn trong tiếp cận mô hình trường học mới.

"Định hướng hành động" và sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học, áp dụng tốt vai trò
của CNTT trong dạy học chúng ta cũng cần quan tâm sử dụng. Với ba giả pháp
trên tôi xin được phân tích cụ thể và thực tiễn áp dụng trong giảng dạy nhà trường;
3.1.1. Vận dụng dạy học theo tình huống:
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học
được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống
và nghề nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo
điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội
của việc học tập.
Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến
nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà
trường, các môn học được phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc
sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức hợp. Vì vậy sử dụng các chủ
đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn
khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức
hợp, liên môn.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển hình
của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình huống
điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm.
Ví dụ: giải phương trình tích ta đặt ra tình huống có vấn đề:
Để giải một phương trình ta phải giải nhiều phương trình .Sao thế nhỉ?
Ví dụ : Giải phương trình : ( 2x – 3 ) ( x + 1 ) = 0 ( I )
Phương pháp giải
Tính chất nêu trên của phép nhân có thể viết
ab = 0 ⇔ a = 0 hoặc b = 0 ( với a ; b là các số )
Đối với phương trình ta cũng có : ( 2x – 3 ) ( x + 1 ) = 0
⇔ 2x – 3 = 0
Hoặc
x+1=0
Do đó để giải phương trình ( I ) ta phải giải hai phương trình

Đố em tìm ra bí quyết của TRUNG đấy?
I/ Phương pháp Hình thàng các kĩ năng cho học sinh:
a)Hình thành cho học sinh kĩ năng tóm tắt và vẽ hình cho bài toán:
Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ, làm cho bài
toán gọn lại, đặc biệt phải sử dụng các kí hiệu để viết:
Ví dụ:
Phần nội dung của bài toán:
Nên viết theo kí hiệu:
Đoạn thẳng AB bằng đoạn thẳng AC
AB=AC
Cho M là trung điểm của cạnh BC
MB = MC
Cho AH vuông góc với BC
AH ⊥ BC
A1 = A2
Cho AD là phân giác góc A
……………
………….
Chính vì thế mối quan hệ giữa cái đã cho và một số phải tìm hiện rõ hơn.
Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào tóm tắt ấy mà
nhắc lại được đề của bài toán.
A
Ngoài việc tóm tắt bài toán, công việc quyết định
giải được bài toán hay không là việc vẽ được hình của bài
toán một cách khoa học và chính xác:
E
D
Ví dụ :Vẽ hình,viết giả thiết và kết luận :
I
Cho ∆ ABC có AB=AC , Aˆ =600.CE là tia phân giác của

- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm bài
kĩ hơn, tự các em giải được bài toán
.
3.1.2. Vận dụng dạy học định hướng hành động:
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt
động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học
tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành
động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân. Đây là
một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy học định
hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết
hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.
Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hành
động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức
hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản
phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và
quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh,
dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình
huống và dạy học định hướng hành động.


3.2 Về đổi mới kiểm tra đánh giá:
Theo tôi, để nâng cao hiệu quả và đổi mới KTĐG HS theo hướng tiếp cận
năng lực HS cần vận dụng những giải pháp sau:
Cần có những nghiên cứu sâu về lí luận và thực tiễn KTĐG, nghiên cứu và
vận dụng một cách sáng tạo các thành tựu KTĐG mới nhất của thế giới vào Việt
Nam. Hiện nay, Bộ GD&ĐT phối hợp với doanh nghiệp công nghệ thông tin xây
dựng các hệ thống tổ chức 2 cuộc thi trên phạm vi toàn quốc, đó là: thi giải Toán
qua mạng (Violympic) và thi tiếng Anh qua mạng (IOE). Đây là kinh nghiệm tốt
để tiến tới xây dựng các công cụ đánh giá quốc gia như SCAT, SAT…

Kế thừa và phát huy tốt những phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá
truyền thống, phối hợp hiệu quả các phương pháp trong thực tiễn giảng dạy và
mạnh dạn vận dụng thay đổi những hình thức giảng dạy, đổi mới kiểm tra đánh
giá. Trong năm học qua bản thân tôi đã thu được kết quả đáng kể trong việc nâng
cao chất lượng giáo dục nói chung. Kết quả cụ thể nhận được là:


Học sinh đã trở nên quen thuộc với hình thức học tập mới, thực hiện hiệu
quả các nhiệm vụ học tập, trao đổi, thảo luận học tập mạnh dạn và tự tin hơn;
Ngôn ngữ bộ môn ngày càng hoàn thiện, biểu hiện qua trao đổi với thầy với
bạn và trình bày trong bài kiểm tra;
Học sinh chủ động hơn trong việc tìm hiểu bài học, chủ động trong tự học,
trợ giúp bạn cùng nhóm hiệu quả;
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Những vấn đề đạt được;
Qua bài thu hoạch về nội dung đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá học sinh, việc đã thực tiễn áp dụng vào giảng dạy bản thân đã góp phần
vào giải quyết đạt hiệu quả một số nội dung trong đổi mới giảng dạy, kiểm tra,
đánh giá. Ngoài việc vận dụng tốt những ưu thế của các phương pháp dạy học
truyền thống tôi đã mạnh dạn đổi mới hiệu quả các hình thức, phương pháp mới
vào giảng dạy, đổi mới được các nội dung kiểm tra, đánh giá, nhằm phát huy tính
chủ động, sáng tạo cho học sinh;
2. Một số khó khăn, hạn chế;
Việc đổi mới chưa có tính đồng bộ của nhiều bộ môn nên việc hình thành
cho học sinh thói quen với hình thức dạy học mới đòi hỏi mất nhiều thới gian;
Đối tượng học sinh có chất lượng không đồng đều, còn bộ phận học sinh
chưa có ý thức tự học, ỷ lại, không tích cực trong hoạt động nhóm;
Tư tưởng của nhiều bộ phận giáo viên đang xem đây là phương pháp thử
nghiệm, chưa có lòng tin vào định hướng đổi mới nên đầu tư mang tính nhất thời
không thường xuyên (Chỉ áp dụng khi có chuyên đề hay có kiểm tra của cấp quản

HS là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng GD nói chung và đáp ứng yêu
cầu đổi mới chương trình GDPT nói riêng. Một số nội dung trình bày trên tuy chưa
được đầy đủ, nhưng có thể góp phần giúp GV và cán bộ quản lí trường học cải tiến
khâu đổi mới PPDH và KTĐG, tạo tác động tích cực cho việc dạy và học, đồng
thời thúc đẩy việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học. Để
thực hiện hiệu quả công tác này tôi đề xuất một số nội dung;
Các cấp quản lý giáo dục cần quan tâm sâu sát hơn trong công tác đỏi mới
PPDH và KTĐG học sinh trong các nhà trường, có kế hoạch tập huấn nghiệp vụ
sớm, cử cán bộ giáo viên tâm huyết, có năng lực học tập tiếp thu để chia sẻ kinh
nghiệm cho đồng nghiệp;
Tổ chức nhiều các hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong nhà trường, các
cuộc thi do Bộ GD tổ chức (Toán, tiếng anh, Vật lý qua mạng)...
Hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị đảm bảo
phục vụ đủ trong giảng dạy;
Cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá giờ dạy theo định hướng đổi mới, tổ chức
các giờ dạy mẫu nhằm thống nhất các định hướng chung về PPDH và KTĐG cho
cán bộ, giáo viên trong huyện nhà;


NỘI DUNG 3
MODULE 3: GIÁO DỤC HỌC SINH THCS CÁ BIỆT


I. MỞ ĐẦU
1. Vị trí, vai trò trong việc giáo dục học sinh THCS cá biệt.
- Giáo dục đạo đức học sinh đặc biệt giáo dục học sinh cá biệt có vị trí hàng
đầu trong toàn bộ công tác giáo dục ở nhà trường. Do vậy, giáo dục học sinh cá
biệt giữ vị trí then chốt trong nhà trường. Công tác giáo dục đạo đức tốt sẽ là cơ sở
để nâng cao chất lượng giáo dục và giáo dục toàn diện cho học sinh. Qua tìm hiểu,
học tập module 3 “Giáo dục học sinh THCS cá biệt” bản thân tôi đã và đang vận

hiện khác nhau như vậy. Ở lứa tuổi các em cần có sự hỗ trợ, tư vấn của người lớn
hay nói cách khác các em cần có sự giáo dục và các em rất cần đến chúng ta,
không việc gì phải bi quan về hiệu quả giáo dục của mình, muốn đạt được hiệu quả


cao chúng ta cần có tâm huyết, năng động sáng tạo đồng thời có sự kiên trì, nhất
định chúng ta sẽ thành công.
2. Thực trạng:
2.1. Thuận lợi:
- Đa số học sinh ở gần trường, thuộc địa phương. Hầu hết các em có tính kỉ
luật cao, lễ phép với thầy cô giáo, biết vâng lời cha mẹ, tích cực tham gia phong
trào do đoàn, đội, nhà trường tổ chức.
- Được cha mẹ đầu tư thời gian, quan tâm đến việc học hành của con cái.
- Cha mẹ học sinh thường xuyên liên lạc với giáo viên để nắm bắt tình hình
học tập, rèn luyện của con em mình.
2.2. Hạn chế:
- Bên cạnh những học sinh có tính kỉ luật cao, vẫn còn có những học sinh cá
biệt chưa có ý thức trong học tập cũng như rèn luyện đạo đức như: Vô lễ với thầy
cô giáo, đánh bạn, trốn học đi chơi games online, nói tục, ăn cắp vặt…Thực trạng
đó là do nguyên nhân.
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan:
- Chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm,
bổn phận của bản thân:
Học sinh chưa nhận thức được: Học để làm gì? Vì cái gì mà học? hoặc chưa
biết hài hòa giữa quyền và bổn phận trách nhiệm của mọi con người trong cuộc
sống, do được giáo dục chưa đầy đủ hoặc chưa đúng cách, hoặc bản thân thiếu tự
giác chấp nhận những bổn phận, trách nhiệm của mình bên cạnh việc được hưởng
thụ các quyền lợi trong gia đình, nhà trường và xã hội. Vì vậy, các em đến trường,
đi học như là ý muốn của gia đình, cha mẹ, mà không nhận thức được đi học là cơ
hội để thành công và hạnh phúc sau này, cho nên các em này thiếu tự giác, thậm

- Sắm vai trò chuyện với học sinh cá biệt ngoài giờ học.
Bước1: Chia lớp thành các nhóm từ 5 đến 8 người. Mỗi nhóm đọc những thông tin
cơ bản và phân công hai người sắm vai: một là học sinh cá biệt và một là giáo
viên.
Bước2: Thực hành trò chuyện với học sinh cá biệt
3.2. Hướng phối hợp xử lí, lưu trữ, khai thác thông tin về từng học sinh cá
biệt:
- Cách thức xử lý: phân tích các thông tin thu được theo hướng kết hợp, đối
chiếu, so sánh thông tin thu được từ các nguồn khác nhau, trên cơ sở đó phân tích,
đánh giá để giữ lại những thông tin được kiểm chứng từ nhiều nguồn, sau đó tổng
hợp, khái quát hoá để có thể có những nhận định cơ bản về học sinh đó.
- Cách lưu giữ kết quả đánh giá để lập hồ sơ từng học sinh cá biệt
- Hướng khai thác thông tin về học sinh.
3.3. Tìm hiểu cách thức giáo dục học sinh cá biệt:
- Giáo viên cần phải tiếp cận cá nhân và xây dựng quan hệ tin cậy, tôn
trọng, thân thiện với học sinh cá biệt.
+ Thể hiện sự hiểu biết, thông cảm và chấp nhận.
+ Tập trung vào điểm mạnh của trẻ.
+ Tìm điểm tích cực và nhìn nhận tình huống theo cách khác tích cực hơn.
+ Tập trung vào những điểm cố gắng, tiến bộ của trẻ.
Học simh cần cảm thấy được khích lệ để có tự tin và có động cơ hoạt động. giáo
viên chủ nhiệm tiếp cận tích cực thì sẽ khơi dậy được nhu cầu muốn khẳng định
khả năng và giá trị của bản thân, muốn hoàn thiện nhân cách.
Muốn thay đổi hành vi của học sinh một cách hiệu quả, giáo viên cần có sự
hợp tác của học sinh, do đó giáo viên cần chủ động tiếp xúc với học sinh để nắm
bắt về điều kiện và hoàn cảnh, tâm tư, sức khỏe... của học sinh; động viên, an ủi
giúp cho các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc ốm đau, bệnh tật cố gắng
yên tâm học tập và biết vượt khó, vươn lên.
- Giúp học sinh biẽt nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản
thân.

đình và xã hội để tự giác học tập
+ Giáo dục mục đích học tập đứng đắn, học để nâng cao hiểu biết, có
phuơng pháp làm việc khoa học, có chất lượng cuộc sống sau này
+ Cần tôn trọng các em làm cho các em thấy rằng mình có nhiều điểm
mạnh, có giá trị cần phải nổ lực khai thác, phát huy những điểm mạnh đồng thời
khắc phục những điểm yếu và thói quen chua tốt
+ Giúp học sinh nhận thấy mình có giá trị, có khả năng, mọi người yêu quý,
tôn trọng và tin tưởng mình sẽ thay đổi.
+ Việc cổ vũ hay thưởng cho học sinh khi có những hành động tốt, có sự
thay đổi theo chiều hướng tốt được xem là củng cố tích cực.
- Tránh sử dụng củng cố tiêu cực.


Giáo viên cảm thấy căng thẳng và bất lực khi có những học sinh hư, gây rối
trong lớp. Nếu người lớn trừng phạt thì không những không mang lại hiệu quả mà
còn hại cho học sinh, làm học sinh lo âu và hạn chế tiến trình học tập và phát triển
của bản thân.. Muốn thay đổi hành vi của học sinh một cách hiệu quả, người lớn
cần có sự hợp tác của học sinh. Học sinh cần cảm thấy được khích lệ để có tự tin
và động cơ hoạt động.
- Sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic.
Mục đích chủ yếu của việc sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic dạy cho
học sinh có ý thức trách nhiệm về các hành vi của chính minh, khích lệ học sinh
đưa ra những quyết định có trách nhiệm, do đó cách làm này có thể thay thế cho
trừng phạt
- Lập kế hoạch phát triển cá nhân, khơi dậy hoài bão và ý thức tự giáo
dục của học sinh.
Kế hoạch giáo dục cá nhân sẽ đưa đến tiếp cận đúng đắn, phù hợp trong việc
đánh giá kết quả giáo dục, dạy học học sinh nói chung và những học sinh đặc biệt
nói riêng.Tuy nhiên, xây dựng bản kế hoạch giáo dục cá nhân là việc làm mới và
không ít khó khăn. Để tiến hành giáo dục học sinh có hiệu quả cần phải xây dựng

của học sinh.
+ Đánh giá đứng không chỉ giúp các em nhìn nhận đứng bản thân với những
điểm mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục, mà còn tạo động lực cho
học sinh nổ lực rèn luyện tu dưỡng
- Đánh giá sự tiến bộ của chính học sinh cá biệt theo quá trình
+ Đánh giá sự tiến bộ của học sinh so với chính bản thân trong mối quan hệ
với khả năng, sự nổ lực của các em. Đồng thời, cần xác nhận mức độ cụ thể đạt
được kết quả giáo dục của từng em và điều chỉnh quá trình giáo dục để nâng cao
hiệu quả.
- Đánh giá cuối cùng: Khi các em thực sự đã tiến bộ
3.6. Lập danh sách và phân loại học sinh cá biệt :
Ví dụ:
TT

Họ và tên học sinh

1

Bùi Văn A

2

Bùi Văn B

3

Bùi văn C

Đặc điểm về cá tính.
Trốn học đi chơi games, đánh bạn, ăn cắp vặt, vô lễ


01

BÙI VĂN LÍ

BÙI VĂN NINH

02

03

BÙI TẤT CƯỜNG

Không có cha, mẹ
thường say rượu.
Trốn học đi chơi
games, đánh bạn, ăn
cắp vặt, vô lễ với
giáo viên…
Mẹ bỏ đi, bố đi làm
ăn xa.
Trốn học đi chơi
games, đánh bạn…

Tâm sự, động
viên, giao nhiệm
vụ, kết hợp với
ban giám hiệu,
giáo viên tổng
phụ trách đội.

luôn có sự nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Tất cả sự cố gắng và nỗ lực của chúng
ta sẽ là cái chìa khoá cho các em bước sang một cuộc đời mới với sự nhìn nhận
tích cực về thực tế và có ý thực rèn luyện để đạt tiêu chuẩn của con người mới xã
hội chủ nghĩa. Bản thân tôi rất ngưỡng mộ lời dạy đầy tính nhân văn của chủ tịch
Hồ Chí Minh vĩ đại: “Hiền dữ phải đâu trời định sẵn phần nhiều do giáo dục mà
nên” Chúng ta đều hiểu rõ nghề dạy học vô cùng cao qúy vì đó là nghề đào tạo con
người cho đất nước. Tương lai của đất nước phụ thuộc nhiều vào thế hệ trẻ mà
hôm nay chúng ta đang dạy dỗ. Trong quá trình áp dụng biện pháp, ngoài những
kết quả đạt được như đã nêu trên vẫn còn không tránh khỏi những hạn chế trong
khi áp dụng biện pháp.
2. Những hạn chế:
Một số học sinh vẫn theo nếp sống cũ của bản thân, chưa tự giác tích cực,
chưa chủ động phối hợp với giáo viên nên kết quả một số hoạt động chưa cao.
Trong quá trình áp dụng biện pháp tại lớp chủ nhiệm, điều mà tôi nhận thấy
là nhận thức học tập của các em còn chênh lệch giữa đối tượng học sinh. Bên cạnh
đó sự phối hợp ở một số gia đình với giáo viên chưa chặt chẽ đó cũng là yếu điểm
cho giáo viên trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt.
3. Bài học kinh nghiệm:


-Qua một số biện pháp tích cực trong việc giáo dục học sinh cá biệt tôi rút ra
bài học. Để đạt được kết quả như mong muốn giáo viên cần phải thực hiện những
yêu cầu sau:
+ Nắm chắc sơ yếu, lí lịch học sinh.
+Hiểu rõ tâm sinh lí, tính cách của từng học sinh, có những biện pháp giáo
dục cụ thể, thích hợp.
+ Luôn có sự đổi mới trong các hình thức rèn luyện, giáo dục tạo hứng thú,
mới mẻ đối với học sinh.
+ Thật sự xem mỗi học sinh là một đứa con của mình để từ đó giáo dục bằng
tất cả tình thương yêu và tinh thần trách nhiệm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status