TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐẢNG bộ HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ hà nội LÃNH đạo CÔNG tác xây DỰNG tổ CHỨC cơ sở ĐẢNG từ năm 2005 đến năm 2015 - Pdf 42

“Đảng bộ huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác xây
dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 2005 đến năm 2015”
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống tổ chức của Đảng, TCCSĐ có vị trí, vai trò rất quan
trọng, là nền tảng của Đảng, là tổ chức lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, là hạt
nhân chính trị lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ và các hoạt động ở cơ sở, là
cầu nối giữa Đảng và nhân dân, nơi đưa đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tế, thành hành động cách
mạng của quần chúng. Đồng thời, TCCSĐ còn là nơi thường xuyên chăm lo
giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ đảng viên, nâng cao đạo đức cách mạng,
tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác và làm công tác phát
triển đảng viên. Do vậy, xây dựng các TCCSĐ TSVM đủ sức lãnh đạo hoàn
thành nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài vừa là
yêu cầu cấp bách trước mắt.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã có nhiều nghị quyết, chỉ
thị bàn về công tác xây dựng TCCSĐ. Đặc biệt, những năm gần đây, vấn đề củng
cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ là vấn đề mang tính
cấp bách trong công tác xây dựng Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính
trị trong từng giai đoạn, thời kỳ cách mạng. Các nghị quyết của Đảng đã tập trung
củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, tạo chuyển
biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình cơ sở đảng, bảo đảm sự lãnh
đạo toàn diện, có hiệu quả của Đảng ở cơ sở.
Là một tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ thành phố Hà Nội, Đảng bộ
huyện Thanh Trì đã quán triệt, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng và chủ
trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội, trong đó có các chủ trương, biện
pháp về công tác xây dựng TCCSĐ vào công tác xây dựng Đảng, nhất là
việc xây dựng các TCCSĐ trực thuộc Đảng bộ huyện đạt TSVM. Từ thực
tiễn, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên địa bàn huyện Thanh Trì,
nhất là trong 10 năm (2005 - 2015) cho thấy: Đời sống mọi mặt của nhân

3

chí Tư tưởng văn hóa (2); Nguyễn Hữu Mộc (2001), “Mấy giải pháp xây

4


dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh”, Tạp chí Xây dựng Đảng
(2); Ngô Kim Ngân (2001), “Xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển
đảng viên trong khu vực kinh tế có vốn đấu tư nước ngoài hiện nay ”, Tạp
chí Lịch sử Đảng (4); nhóm tác giả Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Trần
Khắc Việt (Đồng Chủ biên) (2004), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, Nxb CTQG, Hà Nội; Nguyễn Phú
Trọng (2005), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
trong giai đoạn hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội; Dương Trung Ý (2006),
“Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên dưới ánh sáng
Nghị quyết Đại hội X”, Tạp chí Lịch sử Đảng (8); Cao Ngọc Hải (2007),
“Nâng cao tính chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Xây dựng
Đảng (9); Xuân Sơn (2008), “Giải pháp phát triển đảng viên trẻ khu vực
nông thôn”, Tạp chí Xây dựng Đảng (11); Bùi Đức Lại (2009), “Về chức
năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng (7);
Tường Thị Hồng Vân (2009), “Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng
xã, phường, thị trấn ở Đảng bộ Hà Nội”, Tạp chí Xây dựng Đảng (9);
Nguyễn Đức Hà (2010), Một số vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện
nay, Nxb CTQG, Hà Nội; Vũ Văn Phúc (2011), Báo cáo đề dẫn tọa đàm
khoa học: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng”, Tạp chí Cộng sản (5).
Nhóm công trình trên ®· đề cập một cách khái quát, có hệ thống
những vấn đề cơ bản về Đảng cầm quyền, công tác xây dựng và chỉnh đốn
Đảng trong thời kỳ đổi mới. Các tác giả đã dành một phần quan trọng luận
giải về chất lượng TCCSĐ. Từ sự phân tích khoa học về cơ sở lý luận và
những vấn đề thực tiễn của công tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng

Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I (2010), Nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu cho các loại hình tổ chức cơ sở đảng xã ở các tỉnh miền núi
Tây Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ; Nguyễn
Văn Cường (2011), Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh
Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội; La Thị Sinh (2011), Đảng bộ tỉnh Thanh

6


Hoá lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở một số huyện vùng đồng bằng từ
năm 2000 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Thị Hiệp
(2012), Đảng bộ huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh thực hiện nhiệm vụ xây dựng
tổ chức cơ sở đảng từ năm 1999 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Lịch sử Đảng, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội; Mai Bích Huệ
(2013), Đảng bộ Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ
năm 2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia
Hà Nội; Nguyễn Đức Hùng (2014), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng cấp
xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sĩ Lịch sử
Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội; Khuất Văn Hùng (2015), Công tác xây dựng
tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ thị xã Sơn Tây (tỉnh Hà Tây) từ năm 2001 đến
năm 2008, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội.
Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu, làm rõ quá trình xây dựng
TCCSĐ ở các loại hình tổ chức đảng ở địa phương, ban, ngành. Đánh giá kết
quả hoạt động, chỉ rõ yêu cầu khách quan của công tác xây dựng Đảng vững
mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đặc biệt là công tác xây dựng tổ chức
đảng và xây dựng đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới,
thông qua đó bước đầu đánh giá thực trạng TCCSĐ và đội ngũ đảng viên, đúc
kết một số kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng

1.1. Những nhân tố tác động tới xây dựng tổ chức cơ sở đảng của
Đảng bộ huyện Thanh Trì (2005 - 2010)
1.1.1. Vai trò của tổ chức cơ sở đảng và công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Trong quá trình sáng lập ra hệ thống lý luận cách mạng, cũng như trong
hoạt động thực tiễn của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn quan tâm đến việc
thành lập Đảng Cộng sản và các chi bộ cơ sở của Đảng. Hai ông cho rằng cần
phải thành lập các chi bộ ở các địa phương, trong các hiệp hội công nhân, đồng
thời nhấn mạnh về tầm quan trọng đặc biệt của các chi bộ cơ sở - TCCSĐ.
Những quan điểm đó được thể hiện thông qua tổ chức “Liên đoàn những
người cộng sản” (1847). Lúc đó những chi bộ được thành lập dưới hình thức các
hội bí mật trong các hiệp hội công nhân và là nơi kết nạp, quản lý hội viên, nơi
tuyên truyền lý tưởng cộng sản và lãnh đạo công nhân đấu tranh chống giai cấp
tư sản. Điều lệ Liên đoàn của những người cộng sản xác định: “Về cơ cấu liên

8


đoàn gồm những chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban chấp hành Trung ương và Đại
hội” [78, tr.738]. C.Mác cho rằng: Đảng Cộng sản - đội tiên phong chính trị của
giai cấp công nhân là một chỉnh thể có kết cấu chặt chẽ trong một hệ thống tổ
chức mà nền tảng là các chi bộ cơ sở, nếu các chi bộ cơ sở buông lỏng và cắt đứt
liên lạc với BCH Trung ương sẽ làm cho Đảng mất chỗ dựa vững chắc và duy
nhất. Tuy chưa dùng khái niệm TCCSĐ nhưng quan điểm của C.Mác,
Ph.Ăngghen về tầm quan trọng của TCCSĐ được thể hiện rất rõ: TCCSĐ là chỗ
dựa, là nền tảng của Đảng, là nơi kết nạp, sàng lọc đảng viên, nơi giáo dục, rèn
luyện quần chúng, nơi Đảng gắn bó với quần chúng, thông qua đó để tổ chức
phát động phong trào cách mạng nhằm cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới
theo mục tiêu lý tưởng của Đảng.
Kế thừa sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I. Lênin đã tiếp tục bổ
sung, phát triển lý luận về xây dựng Đảng kiểu mới và chăm lo xây dựng

Người cho rằng cách mạng: “Trước hết phải có đảng cách mệnh để trong thì vận
động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai
cấp mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái
có vững thuyền mới chạy” [80, tr.267-268].
Đảng có vai trò to lớn đối với cách mạng, là người cầm lái, đưa đường, chỉ
lối, vận động quần chúng làm cách mạng, song Đảng chỉ thực hiện được sứ mệnh
thông qua các tổ chức của mình, đó là các TCCSĐ. Hồ Chí Minh rất coi trọng và
luôn khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của TCCSĐ, Người
chỉ rõ: TCCSĐ là nơi nắm vững và bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở theo
đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Làm tốt công tác xây
dựng TCCSĐ là một yếu tố quan trọng để Đảng vững mạnh. Hạt nhân của
TCCSĐ là chi bộ, nơi quán triệt và bàn các biện pháp chấp hành triệt để các
nghị quyết của Đảng; nơi đấu tranh về quan điểm và rèn luyện đảng viên;
nơi vận động quần chúng thực hiện tốt chính sách của Đảng. Trong công
tác xây dựng TCCSĐ, Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đối với xây dựng
TCCSĐ ở địa phương. Khi nói đến vai trò của TCCSĐ ở địa phương, ở
nông thôn, Hồ Chí Minh cho đó là gốc rễ của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo
quần chúng ở cơ sở địa phương; bảo đảm mọi chủ trương, chính sách của
Đảng và Chính phủ luôn được thực hiện tốt. Hồ Chí Minh cho rằng: “ Chi

10


bộ là gốc rễ của Đảng ở nông thôn. Chi bộ vững mạnh thì mọi chính sách
của Đảng và Chính phủ nhất định thi hành được tốt” [82, tr.317]. Do
TCCSĐ ở địa phương có vị trí, vai trò quan trọng, cho nên muốn thực
hiện tốt kế hoạch của Đảng, thì phải chăm lo củng cố không ngừng. Phải
xây dựng các TCCSĐ ở địa phương luôn đoàn kết, thống nhất; xây dựng
địa phương đoàn kết, nhất trí cao; đồng thời các TCCSĐ và địa phương
cũng phải luôn đoàn kết, nhất trí thì mọi công việc ở địa phương dù khó

tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng khẳng định:
Việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, phát huy quyền làm chủ tập
thể của quần chúng, nâng cao chất lượng đảng viên... đều tuỳ thuộc vào sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Những thành tựu đã đạt được, những tiềm
năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực
phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân lãnh đạo là tổ chức đảng. Nhưng
mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã làm hạn chế những
thành tựu của cách mạng [12, tr.141].
Chính vì thế, củng cố, nâng cao chất lượng TCCSĐ là nhiệm vụ thường
xuyên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng thời kỳ đổi
mới. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng (Khoá VI) khẳng
định: “Trong điều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế quản lý mới, các tổ chức
cơ sở đảng đóng vai trò hết sức quan trọng… Các tổ chức cơ sở đảng phải thật
sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị trong các tập thể lao động” [22, tr.282]. Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng cũng chỉ rõ yêu cầu xây dựng,
củng cố TCCSĐ: “ Cấp uỷ cấp trên tập trung chỉ đạo củng cố các Đảng bộ, chi
bộ yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp uỷ và tăng cường cán bộ ở những nơi có
nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết. Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi
bộ” [18, tr.142-143].
Kế thừa và phát triển quan điểm xây dựng TCCSĐ của Đại hội IX, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nhấn mạnh phải kiện toàn và đổi mới
hoạt động của TCCSĐ: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ đảng. Kiện toàn hệ
thống tổ chức cơ sở đảng...Tập trung củng cố các cơ sở yếu kém” [21, tr.132].

12


Đại hội XI tiếp tục khẳng định phải củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo
sức chiến đấu của TCCSĐ: “Tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động


TCCSĐ TSVM là yêu cầu thường xuyên không chỉ đối với toàn Đảng mà đối
với các tổ chức đảng ở các địa phương trong đó có Đảng bộ huyện Thanh Trì.
1.1.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Thanh trì và thực
trạng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trước năm 2005
* Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh Trì tác động đến
công tác xây dựng TCCSĐ.
Điều kiện tự nhiên:
Thanh Trì là huyện ngoại thành, nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, phía
Bắc và Tây Bắc giáp quận Hoàng Mai và quận Thanh Xuân, phía Đông là sông
Hồng, giáp với huyện Gia Lâm và tỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp huyện
Thường Tín, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Thanh Oai và quận Hà Đông.
Sau hai lần điều chỉnh địa giới hành chính, đặc biệt là cuối năm 2003, thực hiện
Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 6/11/2003 của Chính phủ về thành lập quận
Hoàng Mai. Theo sự chỉ đạo của Thành phố, huyện Thanh Trì đã chuyển giao 9
xã ven đô về quận Hoàng Mai. Địa giới hành chính bị thu hẹp, Thanh Trì còn lại
15 xã, 01 thị trấn (bao gồm: Tân Triều, Thanh Liệt, Tam Hiệp, Tứ Hiệp, Tả
Thanh Oai, Hữu Hòa, Vĩnh Quỳnh, Đại Áng, Liên Ninh, Đông Mỹ, Ngọc Hồi,
Ngũ Hiệp, Vạn Phúc, Yên Mỹ, Duyên Hà và thị trấn Văn Điển), 300 cơ quan,
doanh nghiệp và trụ sở của lực lượng vũ trang, với diện tích tự nhiên 6.292,7 ha,
dân số 159.664 người. 15 xã và 1 thị trấn chủ yếu thuần nông, kinh tế gặp nhiều
khó khăn, nhưng vẫn đang trong quá trình đô thị hoá nhanh.
Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Nằm ở đầu những tuyến giao thông huyết mạch, đường thủy có sông
Hồng, đường bộ có Quốc lộ 1A, 1B và đường sắt Bắc - Nam chạy qua, do đó
huyện Thanh Trì có vị trí quan trọng về quân sự và kinh tế đối với Thủ đô Hà
Nội, trở thành đầu mối giao thông quan trọng của Thủ đô, thuận lợi cho việc
giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh phía Nam.
Huyện Thanh Trì từ xa xưa đã phát triển nghề nông nghiệp kết hợp với chăn
nuôi gia súc là chủ yếu. Nhân dân Thanh Trì có tinh thần cần cù, yêu lao động,

Liệt, Đình ngoài cánh đồng thờ Đô hồ Đại vương Phạm Tu, Đình trong làng thờ
Danh nhân Tiên Triết Chu Văn An, Đình Đông Phù và Việt Yên thờ Nguyễn

15


Siêu; đình Tả Thanh Oai thờ Lê Đại Hành và bà Chúa Hến… Làm rạng rỡ cho
lịch sử Thanh Trì là những danh nhân văn hóa đời nào cũng có. Tiêu biểu là
những nhà khoa học như: Thái y Trịnh Đình Ngoạn, nhà quân sự Lê Bá Ly, nhà
Nho tiết tháo Chu Văn An, Thượng thư Nguyễn Như Đổ, Bùi Xương Trạch làm
đến Thượng thư Bộ binh kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, Đặng Trần Côn, Nguyễn
Công Thể, Nguyễn Văn Siêu, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm…
Thanh Trì còn là mảnh đất có truyền thống hiếu học, nổi tiếng là hai làng
khoa bảng Nguyệt Áng (xã Đại Áng) và Tả Thanh Oai (xã Tả Thanh Oai). Nơi
đây là cái nôi sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước, có nhiều người đỗ đạt,
thành danh qua các kỳ thi của các triều đại. Trong lịch sử khoa cử phong kiến, quê
hương Thanh Trì đã đóng góp 4 trạng nguyên, 3 bảng nhãn, 01 thám hoa, 17
hoàng giáp, 58 tiễn sĩ, 3 phó bảng.
Nhân dân Thanh Trì có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm.
Trong cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Hán năm 40, có Triệu Tam Trinh ở
Mai Động và Trương Tử Nương (nàng Tía) ở Vĩnh Ninh (Vĩnh Quỳnh) được
Hai Bà Trưng phong làm tướng cầm quân chống Mã Viện ở cửa bể Thần Phù
và đã hy sinh oanh liệt. Trên địa bàn huyện hiện nay còn lưu giữ nhiều dấu tích
lịch sử gắn với tên tuổi vị tướng tài đứng đầu ban võ triều Tiền Lý là Phạm Tu,
người có công lớn trong việc giúp Lý Bí khởi nghĩa chống ngoại xâm. Vào
cuối thế kỷ thứ VII, Triều Khúc là nơi đóng quân của Phùng Hưng để chống
ách đô hộ của nhà Đường. Dưới thời Tây Sơn, huyện Thanh Trì gắn với chiến
thắng Ngọc Hồi - Đầm Mực trong chiến dịch vua Quang Trung - Nguyễn Huệ
hành quân ra Bắc đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh, giải phóng kinh thành
Thăng Long, xuân Kỷ Dậu (1789). Trong đợt tiến quân đó, chính Ngô Thì

Thực hiện Nghị định 132-NĐ/CP của Chính phủ, cuối năm 2003 Đảng
bộ huyện Thanh Trì đã bàn giao 38 cơ sở đảng về quận Hoàng Mai; trong đó có
9 đảng bộ xã. Tính đến đầu nhiệm kỳ 2005 - 2010, Đảng bộ huyện Thanh Trì
còn 54 TCCSĐ, trong đó có 15 đảng bộ xã và 01 thị trấn; 20 chi, đảng bộ khối
hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và 18 chi, đảng bộ khối doanh nghiệp,
gồm 5.970 đảng viên, sinh hoạt tại 174 chi bộ.

17


Từ đặc điểm đa dạng của các loại hình TCCSĐ với số lượng đảng viên
đông, phần lớn là đảng viên đã nghỉ hưu, đảng viên là nông dân. Trình độ đảng
viên không đồng đều về nhận thức, năng lực lãnh đạo. Một số đảng viên là nông
dân còn chịu ảnh hưởng tác phong manh mún, mang nặng tư tưởng cá nhân cục
bộ địa phương, tác động đến quá trình lãnh đạo của TCCSĐ. Số đảng viên nghỉ
hưu phần lớn có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, tiếp tục có nhiều cống hiến,
tham mưu cho công tác lãnh đạo ở địa phương. Tuy nhiên, một số ít chưa gương
mẫu trong sinh hoạt, chưa thực sự là tấm gương trong thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những quy định của địa
phương. Đội ngũ cán bộ ở xã, phường, thôn xóm, khu phố, cụm dân cư chủ yếu
là do nhân dân bầu nên trình độ, năng lực lãnh đạo còn hạn chế cũng tác động
không nhỏ tới công tác xây dựng TCCSĐ.
Ưu điểm:
Về công tác chính trị, tư tưởng: Huyện uỷ và cơ sở đảng thực sự coi trọng
công tác xây dựng Đảng trên cả ba mặt: chính trị - tư tưởng - tổ chức, coi đây là
nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định và phát triển của
huyện. Huyện ủy đã đổi mới nâng cao chất lượng việc triển khai học tập quán
triệt nghị quyết, xây dựng chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết của
Trung ương, của Thành phố, của huyện và cơ sở. Tỷ lệ đảng viên tham gia các
đợt học tập nghị quyết bình quân đạt 96%, nhiều chi, đảng bộ đạt 100% [3, tr.8].

nhiệm kỳ 2005 - 2010.
Công tác xây dựng đội ngũ đảng viên được quan tâm thường xuyên cả về
giáo dục, rèn luyện và quản lý đảng viên. Ý thức chấp hành nguyên tắc tổ chức
của đảng viên dần đi vào nền nếp, đa số đảng viên được phân công công tác,
chất lượng đảng viên được nâng lên. Từ năm 2002 đến năm 2004 số đảng viên
đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ đều đạt trên 80%. Công tác quản lý đảng
viên được chú trọng, mối quan hệ của đảng viên nơi công tác - nơi cư trú được
thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ. Công tác phát triển đảng viên mới có nhiều tiến
bộ, trong nhiệm kỳ 2001 - 2005 đã kết nạp được 1.264 đảng viên mới, đạt
123,25% kế hoạch [3, tr.10]. Số đảng viên mới là cán bộ làm công tác quản lý,
cán bộ khoa học kỹ thuật, đoàn viên thanh niên, phụ nữ, giáo viên, trí thức...

19


ngày một tăng. Đảng viên mới đã phát huy tốt, nhiều đồng chí được tín nhiệm cử
giữ các cương vị lãnh đạo, chủ chốt ở cơ sở.
Về công tác kiểm tra và kỷ luật Đảng: Huyện uỷ và cơ sở đã xây dựng
chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra. Đã chú trọng kiểm tra tổ chức đảng và
đảng viên có dấu hiệu vi phạm; xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên có vi
phạm Điều lệ Đảng, không chấp hành chủ trương chính sách pháp luật của Nhà
nước, thực sự có tác dụng ngăn ngừa cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng vi phạm
kỷ luật Đảng, giúp đảng viên nhận thức, tự giác rèn luyện tu dưỡng, gương mẫu
hoàn thành nhiệm vụ người đảng viên. Trong những năm 2001 - 2005, Huyện uỷ
và cơ sở đã xử lý thi hành kỷ luật 123 đảng viên, trong đó vi phạm về quản lý, sử
dụng đất đai, tài chính là 42,3%, vi phạm về phẩm chất lối sống 23,6%, thiếu
tinh thần trách nhiệm 27,6%, sinh con thứ ba 6,5% (giảm 35 đồng chí so với
những năm 1996 - 2000) [3, tr.10-11].
Về đổi mới phương thức lãnh đạo của các TCCSĐ: Hầu hết các cấp ủy
Đảng đều xây dựng được quy chế hoạt động, định rõ trách nhiệm và nội dung

số TCCSĐ, nhưng chưa có biện pháp khắc phục kịp thời.
Công tác củng cố, xây dựng TCCSĐ ở loại hình doanh nghiệp gặp nhiều
khó khăn. Trên địa bàn huyện tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần; do
cổ phần hoá, bộ máy quản lý tinh giản, lực lượng lao động giảm và không ổn định
nên nguồn để kết nạp đảng viên hạn chế. Mặt khác, một số cán bộ, công nhân chỉ
tập trung vào sản xuất, không quan tâm tới tổ chức đảng nên công tác kết nạp
đảng viên mới trong các doanh nghiệp đạt kết quả thấp. Cấp uỷ các đơn vị khối
doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, một số hoạt
động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp còn mang tính hình thức. Nhiều doanh
nghiệp có đảng viên phân tán ở các địa bàn khác nhau nên việc duy trì sinh hoạt
chi bộ hàng tháng gặp khó khăn, tỷ lệ đảng viên tham gia sinh hoạt đảng thấp.
Chất lượng sinh hoạt chi bộ ở một số nơi chưa cao, còn biểu hiện né tránh
hữu khuynh, chưa mạnh dạn đấu tranh tự phê bình và phê bình. Vai trò hạt nhân
chính trị của chi bộ chưa được phát huy đầy đủ. Việc xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ - quy chế hoạt động ở một số nơi hiệu quả còn thấp. Nguyên tắc tập
trung dân chủ trong Đảng có lúc, có nơi chưa được thực hiện nghiêm.

21


Công tác kiểm tra của Đảng, kỷ luật Đảng chưa được thực hiện triệt để
thường xuyên, chưa thật sự chủ động phòng ngừa sai phạm; còn có cấp uỷ và
lãnh đạo chưa nhận thức đúng về công tác kiểm tra, chưa đi sâu kiểm tra tổ chức
đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng và thực hiện Nghị quyết của Đảng,
thực hiện quyền và nghĩa vụ đảng viên.
Những yếu kém, khuyết điểm trên có nguyên nhân cả khách quan và chủ
quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Đó là vai trò, năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của một số TCCSĐ còn hạn chế, chưa xác định rõ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị. Một số
cấp ủy, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ công tác xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư

sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với
nhân dân” [21, tr.279].
Tiếp đó, nhằm cụ thể hóa về công tác phát triển đảng viên và xây dựng
TCCSĐ, Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương Đảng khóa X ngày 02/02/2008
đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mục
tiêu mà Nghị quyết đề ra cho các cấp ủy, tổ chức đảng trong 5 năm tới cần phấn
đấu đạt được là:
Thứ nhất, tập trung sức để xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của TCCSĐ, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt
động của các loại hình tổ TCCSĐ, làm cho TCCSĐ vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức, thực sự là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện
tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở.
Thứ hai, kiện toàn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, thống
nhất, bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng ở cơ sở. Tập trung củng cố, xây dựng tổ
chức đảng và kết nạp đảng viên ở những nơi chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc
chưa có đảng viên. Bảo đảm các loại hình TCCSĐ đều có quy định về chức
năng, nhiệm vụ và quy chế làm việc phù hợp.
Thứ ba, chăm lo xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, trước hết là bí thư cấp ủy và
cán bộ, đảng viên thật sự tiền phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng,
có ý thức tổ chức kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết thay thế

23


những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, đồng
thời đưa ra khỏi Ðảng những người không đủ tư cách đảng viên [24, tr.95-96].
Những chủ trương của Đảng về xây dựng TCCSĐ vững mạnh về chính trị,
tư tưởng và tổ chức trong những năm 2005 - 2010 chính là cơ sở để Đảng bộ
huyện Thanh Trì quán triệt, cụ thể hóa, đề ra các chủ trương, biện pháp đúng đắn,

- xã hội; củng cố niềm tin của nhân dân; xây dựng Đảng bộ TSVM.
Những chủ trương đúng đắn của Thành uỷ Hà Nội chính là định hướng
quan trọng chỉ đạo Đảng bộ huyện Thanh Trì ban hành những chủ trương phù
hợp với thực tiễn của cơ sở, từ đó thực hiện tốt công tác xây dựng TCCSĐ ở địa
phương trong những năm 2005 - 2010.
1.2. Chủ trương xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ huyện
Thanh Trì (2005 - 2010)
1.2.1. Phương hướng, mục tiêu
Quán triệt quan điểm của Trung ương, sự chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội về
đẩy mạnh xây dựng TCCSĐ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới toàn diện, Đại hội
đại biểu Đảng bộ huyện Thanh Trì lần thứ XXI nhiệm kỳ 2005 - 2010 đề ra phương
hướng, mục tiêu xây dựng TCCSĐ: “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng,
chỉnh đốn Đảng theo tinh thần nghị quyết TW6 (lần 2) khoá VIII. Xây dựng Đảng
bộ huyện và các chi, đảng bộ cơ sở trong sạch, vững mạnh, làm tốt các mặt công tác
xây dựng Đảng; giáo dục, rèn luyện đảng viên, phát huy vai trò lãnh đạo, trí tuệ, sự
năng động sáng tạo của cán bộ, đảng viên trên từng lĩnh vực công tác” [3, tr.20].
Đại hội đưa ra chỉ tiêu công tác xây dựng TCCSĐ:
Đảng bộ huyện phấn đấu đạt Đảng bộ TSVM. Có từ 70 - 80% chi, đảng bộ
trực thuộc đạt TSVM, không có cơ sở đảng yếu kém. Kết nạp 200 đảng viên mới
hàng năm, 100% chi, đảng bộ trực thuộc (có nguồn) phát triển được đảng viên mới.
1.2.2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
Về công tác chính trị, tư tưởng:
Không ngừng nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng. Trọng tâm
là làm cho cán bộ, đảng viên kiên định CNMLN và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đoàn kết, thống nhất ý chí và hành
động xây dựng quê hương và đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã

25




26


Về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên
Khâu đột phá là xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực hiện quy hoạch lực lượng
cán bộ, bố trí sắp xếp hợp lý từng cơ quan, đơn vị. Thực hiện quy hoạch, luân
chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảm bảo dân chủ, công khai, đúng quy trình.
Thường xuyên rà soát, đánh giá, tạo nguồn bổ sung cán bộ để nâng cao chất
lượng cán bộ, không hẫng hụt trong công tác bố trí cán bộ, từng bước chuẩn hóa
đội ngũ cán bộ huyện và cơ sở.
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên theo hướng nâng
cao chất lượng; đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng
bảo đảm thiết thực hiệu quả; đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng, đáp ứng đòi
hỏi thực tiễn. Thực hiện mỗi năm mở 50 lớp đào tạo, bồi dưỡng với 6000 lượt
học viên. Tạo nguồn bổ sung đáp ứng yêu cầu về công tác cán bộ. Chú trọng
công tác phát triển đảng viên mới, nhất là ở các tổ chức đảng ở nông thôn, ở khối
giáo dục và khối doanh nghiệp.
Về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng
Trọng tâm là kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Đảng; các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng, pháp luật của Nhà nước; các chương trình công tác trọng tâm, các
chuyên đề lãnh đạo phát triển kinh tế, cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm,
chống tham nhũng lãng phí và việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao của
cán bộ, đảng viên.
Cấp ủy Đảng, Ủy ban kiểm tra Huyện ủy và các chi, đảng bộ trực thuộc
phải chủ động xây dựng và thường xuyên bổ sung quy chế, kế hoạch kiểm tra và
tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế, kế hoạch đã đề ra theo cả nhiệm kỳ, từng
năm, từng quý, từng tháng.
Tăng cường các cuộc kiểm tra chuyên đề phục vụ nhiệm vụ chính trị và công
tác xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện và các chi, đảng bộ trực thuộc như kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status