LUẬN VĂN:
Nghiên cứu công tác xây dựng Tổ
Chức Cơ Sở Đảng ở nông thôn
tỉnh Hưng Yên MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ) - Chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở là nền tảng của Đảng,
là hạt nhõn chớnh trị lónh đạo mọi mặt ở cơ sở. TCCSĐ có vị trí đặc biệt quan trọng
trong việc lónh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng ở cơ sở và góp phần
vậy tụi chọn vấn đề này làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài
Những quan điểm, chủ trương, biện pháp lớn để nâng cao năng lực lónh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn đó được thể hiện qua các văn kiện của Đảng.
Đó cú nhiều cỏ nhõn và cơ quan khoa học chọn vấn đề tổ chức cơ sở Đảng nông thôn làm
đề tài nghiên cứu khoa học, khai thác từ những khía cạnh khác nhau. Trong đó có nhiều đề
tài cấp Bộ, đề tài luận án Tiến sĩ, Thạc sĩ được nghiên cứu dưới góc độ Xây dựng Đảng
như:
- Lê Văn Phụ (1993): Công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở Đảng đối với quần chúng
theo đạo Thiên chúa (Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Xây dựng Đảng).
- Đỗ Ngọc Ninh (1995): Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng nông thôn (cấp xó)
vựng đồng bằng sông Hồng (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Xây dựng Đảng).
- Viện Mác - Lênin (1995): Vấn đề xây dựng Đảng ở một số vùng có đồng bào theo
đạo Thiên chúa ở miền Bắc hiện nay (Đề tài khoa học cấp Bộ).
- Nguyền Đức Ái (2000): Năng lực lónh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
Đảng nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Xây dựng Đảng).
- Bùi Đức Nhẫn (2001): Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng vùng có đồng
bào theo đạo Công giáo ở tỉnh Phú Thọ hiện nay (Luận văn Thạc sĩ Tôn giáo).
Những kết quả nghiên cứu, thông tin tư liệu từ những tài liệu nói trên đó gúp phần
từng bước làm sỏng tỏ cả về lý luận và thực tiễn vấn đề tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn. Tuy
nhiên từ góc độ Lịch sử Đảng chưa có nhiều công trỡnh nghiờn cứu về xõy dựng tổ chức cơ
sở Đảng. Đối với tỉnh Hưng Yên, trong thời kỳ đổi mới chưa có công trỡnh nào nghiờn cứu
về tổ chức cơ sở Đảng dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng. Tiếp thu những kết quả nghiên
cứu trên, luận văn đi sâu nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và toàn diện vấn đề
Công tác tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2005.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Các tổ chức cơ sở đảng nông thôn tỉnh Hưng Yên
nông thôn.
- Góp phần làm sáng tỏ thêm những chủ trương và quá trình tổ chức chỉ đạo của
Tỉnh uỷ về công tác xây dựng TCCSĐ ở nông thôn tỉnh Hưng Yên.
- Bước đầu nêu lên một số kinh nghiệm chủ yếu trong công tác xây dựng TCCSĐ.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3
chương, 8 tiết.
Chương 1
CÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
Ở NÔNG THÔN TỈNH HƯNG YÊN TRONG NHỮNG NĂM
ĐẦU TÁI LẬP TỈNH (1997-2000)
1.1. ĐẶC ĐIỂM TèNH HèNH KINH TẾ - XÃ HỘI NễNG THễN TỈNH
HƯNG YÊN VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG NHỮNG NĂM ĐẦU
TÁI LẬP
Hưng Yên là tỉnh nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc châu thổ đồng bằng Bắc Bộ,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và tam giác tăng trưởng Hà Nội – Hải Phũng
– Quảng Ninh. Hưng Yên nằm trong toạ độ 20°36’ và 21 vĩ độ bắc,105°53’ và 106°15’
kinh độ Đông. Phía Bắc liền kề với thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, phía Nam giáp tỉnh
Thái Bỡnh, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây gíap tỉnh Hà Tây và Hà Nam. Đây
là một vùng đất phù sa màu mỡ, đậm nét truyền thống văn hoá và lịch sử lâu đời. Hưng
Yên là một tỉnh nông nghiệp, một miền quê mang những nét đặc trưng của nông thôn
Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Quán Gỏi (Hải Dương) qua thị trấn Ân Thi đến Trương Xá (Kim Động) nối với đường
39A, đi thị xó Hưng Yên qua cầu Yên Lệnh đến Đồng Văn (Hà Nam) thông quốc lộ 1A
(tuyến Bắc - Nam quan trọng nhất của cả nước). Đường 200 từ Giai Phạm (Yên Mỹ) qua
thị trấn Ân Thi tới thị trấn Vương tới Hải Triều (Tiên Lữ) gặp đê sông Luộc và đường
39A. Đó là chưa kể các đường: 99, 179, 195, 199, 201, 102, 104, 105, 206, và hàng trăm
km đường đê đó liên kết các xó huyện trong tỉnh và hỡnh thành tuyến đường ngắn nhất
qua địa bàn Hưng Yên, nối với quốc lộ 5A ra thành phố Hải Phũng và Quảng Ninh nhằm
tạo sự giao lưu kinh tế giữa Hưng Yên với các tỉnh, đồng thời góp phần giải toả mật độ
giao thông cao cho thủ đô Hà Nội.
Về đường sông Hưng yên có mạng lưới sông ngũi khá dày đặc vói ba hệ thống
sông lớn chảy qua: Sông Đuống, sông Hồng, sông Luộc - những đường sông chính của
Hưng Yên. Bên cạnh đó, Hưng Yên có hệ thống sông nội địa như: sông Cửu An, sông Kẻ
Sặt, sông Hoan Ái, sông Nghĩa Trụ, sông Điện Biên, sông Kim Sơn là điều kiện thuận
lợi không chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà cũn cho sự phát triển công nghiệp, sinh hoạt
và giao thông đường thuỷ. Từ thị xó Hưng Yên tàu thuyền có thể ngược sông Hồng lên Hà Nội, Sơn Tây,
Việt Trỡ, Yên Bái, Lào Cai, hoặc xuôi Thái Bỡnh, Nam Định rồi ra biển. Trên sông Luộc
tàu thuyền có thể đi Ninh Giang, Phả Lại (Hải Dương), Hải Phũng. Các sông nhỏ khác
trong tỉnh, đặc biệt có công trỡnh đại thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải đều là những đường
giao thông thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá, lúa, ngô, vật liệu xây dựng…
Giao thông thuỷ bộ của Hưng Yên vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là tiềm nămg
lớn để Hưng Yên phát triển kinh tế, văn hoá, xó hội. Hưng yên được bao bọc bởi sông
Hồng và sông Luộc, có nguồn nước ngọt dồi dào ở dọc khu vực quốc lộ 5A từ Như Quỳnh
(Văn Lâm) đến Quán Gỏi (Hải Dương) có những túi nước ngầm với dung tích hàng triệu m
3
,
không chỉ cung cấp nước cho phát triển công nghiệp và đô thị mà cũn có thể cung cấp khối
lượng lớn nước cho các khu vực lân cận.
Hồng với 1.210 di tích văn hoá, lịch sử, tín ngưỡng. Trong đó 172 di tích được nhà nước
xếp hạng và 32.574 cổ vật trong các di tích. Đặc biệt là di tích Phố Hiến- trung tâm
thương mại, đối ngoại sầm uất phồn hoa bậc nhất vào thế kỷ XVI, XVII .
Hưng Yên có nhiều đền chùa nổi tiếng như đền thờ Đức Tống Trân, đền thờ Đức
Ngô Vương, đền Phạm Bạch Hổ, đền Đinh Điền, đền Trần, đền Phạm Ngũ Lóo, đền Chử
Đồng Tử…mỗi đền chùa là một kho tàng mỹ thuật sống động, với rất nhiều cổ vật quý
hiếm. Đó là những không gian văn hoá truyền thống, hiện hữu nét đẹp văn hoá vật thể,
phi vật thể và đặc biệt hấp dẫn du khách bởi sự hài hoà cảnh trí thiên nhiên, và hỡnh khối
kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc tinh vi.
Hưng Yên cũn là địa phương có nhiều lễ hội đặc sắc, giới thiệu và chứng minh
sống động về vùng đất, con người Hưng Yên trong quá khứ và hiện tại, với những nét
đặc trưng, những giá trị văn hoá tinh thần, tín ngưỡng của Hưng yên nói riêng của đồng
bằng sông Hồng nói chung.
Với lợi thế về địa lý gần thủ đô Hà Nội và các trung tâm công nghiệp lớn, có kết
cấu hạ tầng, điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nhanh chóng trở thành một tỉnh có
tốc độ phát triển cao trong vùng.
Tỉnh Hưng Yên được tái lập năm 1997 đang khẩn trương cùng cả nước xây dựng
phát triển kinh tế. Bằng sự phấn đấu của bản thân và chính sách cởi mở thông thoáng,
tranh thủ sự hỗ trợ đầu tư nước ngoài. Tỡnh hỡnh KT-XH Hưng Yên sau những năm đầu
tái lập đó có nhiều khởi sắc. Nền kinh tế Hưng Yên đang đổi thay từng ngày, được đánh
giá là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh và cao. Cơ cấu kinh tế đang dần chuỷên dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông nghiệp
nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ trọng giữa chăn nuôi và trồng trọt được cân
đối. Người nông dân bước đầu quan tâm đến sản xuất hàng hoá, đảm bảo an ninh lương
thực. Công nghiệp dịch vụ có bước phát triển khá. Công nghiệp địa phương tuy phải đối
mặt với nhiều khó khăn, nhưng vẫn đạt được những thành tích đáng khích lệ. Một số
ngành hàng tiếp tục được củng cố phat triển, lựa chọn mặt hàng ưu tiên và có lợi thế để
đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ tạo ra những sản phẩm chất lượng cao. Khối công
quản lý, nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tỏc xó nụng nghiệp. Đến nay đó cú
147/157 xó thực hiện và thành lập được 157 hợp tỏc xó mới. Đồng thời với kết quả đó
đạt được, trong sản xuất nông nghiệp cũng bộc lộ những hạn chế như việc lựa chọn giống
mới và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp chưa cao, số lượng và chất
lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu hàng hoá xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn chưa đều. Một số hợp tỏc xó mới thành lập cũn mang tớnh hỡnh thức, hoạt
động không có hiệu quả. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất nụng nghiệp cũn
nghốo nàn. Cơ sở chế biến nông sản thực phẩm hầu như chưa có, cơ chế, chớnh sỏch thu
mua và tiờu thụ nụng sản thực phẩm cho nụng dõn cũn gặp nhiều khú khăn lúng túng.
Công nghiệp địa phương từng bước được đầu tư mở rộng, tiểu thủ công nghiệp có
tiến triển, sản lượng công nghiệp 603 tỉ (năm 1996: 355 tỉ) tốc độ tăng 69,8% (kế hoạch
trên 18%) đó xuất hiện dấu hiệu tăng trưởng đột biến, tạo cho nền kinh tế phát triển
nhanh. Đang lập dự án và triển khai xây dựng khu công nghiệp Như Quỳnh, Phố Nối, Thị
xó Hưng Yên, 14 dự án đầu tư trong và ngoài nước với số vốn trên 100 triệu USD được
cấp giấy phép.
Dịch vụ phát triển đa dạng, tốc độ tăng 18% (kế hoạch trên 15%) hệ thống thương
nghiệp đang sắp xếp lại. Xuất khẩu tăng nhanh, xây dựng thêm khách sạn mới, từng bước
khôi phục các di tích văn hoá, lịch sử tạo tiền đề cho du lịch.
Xây dựng kết cấu hạ tầng ở thị xó và một số thị trấn đó bắt đầu sôi động, xây dựng
mới 3 trạm bơm, mở rộng và nâng cấp 14km đường, bắt đầu mở rộng đường 39A. Cải tạo
một số đoạn đường do tỉnh, huyện quản lý và đường nông thôn, xây dựng xong phà Yên
Lệnh. Xây dựng thêm một số trường học, nâng cấp bệnh viện, bắt đầu xây dựng đài
truyền hỡnh, xây dựng lại một số trạm trại nông nghiệp. Quy hoạch phát triển thị xó
Hưng Yên, thị xó công nghiệp Phố Nối. Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh
đến năm 2010. Công tác tài chính, tiền tệ, tín dụng được chấn chỉnh đổi mới. Tổng thu ngân sách
82 tỉ, chi ngân sách 249 tỉ. Ap dụng những hỡnh thức huy động vốn, mở rộng tín dụng
cho mọi thành phần kinh tế. Trên 60% lượt hộ nông dân được vay vốn sản xuất.
kinh tế phát triển. Khu vực ngoài kinh tế nhà nước tăng bỡnh quân 12%/năm [3, tr.2].
Ngày 24/6/1999 Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1088/1999/QĐ-UB
hướng dẫn việc thực hiện thủ tục xin cấp phép đầu tư và Quyết định số 1089/1999/QĐ-
UB về qui định quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh ngoài trên địa bàn
Hưng Yên, quyết định này góp phần làm thay đổi diện mạo KT-XH của tỉnh. Tỉnh đó quy
hoạch 03 khu công nghiệp Phố Nối – Như Quỳnh – Thị xó Hưng Yên, có nhiều dự án
đầu tư vào các lĩnh vực mà tỉnh khuyến khích như: chế biến nông sản, chế biến thức ăn
gia súc, sản xuất da giày, may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ, sản xuất nguyên vật liệu, xây
dựng trung tâm dạy nghề và các loại hỡnh dịch vụ. Bỡnh quân đầu tư 2,8 lần/năm, 11 dự
án nước ngoài, 31 dự án tỉnh ngoài, số vốn đăng ký là 165 triệu USD, trong đó 11 dự án
đó hoạt động (04 dự án nước ngoài, 07 dự án tỉnh ngoài). Thực sự tạo động lực thúc đẩy
kinh tế Hưng Yên, trong 4 năm nộp ngân sách trên 120 tỷ, thu hút 2300 lao động [5,
tr.15].
Dịch vụ: Khá phát triển, tốc độ tăng trưởng bỡnh quân 15,48%. Các ngành kinh
tế dịch vụ phát triển đa dạng, hàng hoá phục vụ cho đời sống phong phú, giá cả ổn
định, giá kinh doanh dịch vụ tăng 18%. Xuất khẩu khuyến khích các thành phần kinh
tế tham gia tốc độ tăng khá: 20,6%/năm, tỷ trọng hàng xuất khẩu sản phẩm công
nghiệp, nông nghiệp của tỉnh tăng từ 3 triệu USD năm 1997 lên 10 triệu USD năm
2000. Kim ngạch xuất khẩu đạt 32 triệu USD, tỷ trọng hàng nông sản xuất khẩu tăng
hơn các năm trước, tăng thêm 19 dự án đầu tư nước ngoài và tỉnh ngoài, đưa tổng số
dự án đầu tư trên địa bàn lên 42, với vốn đăng ký 165 triệu USD. Các mặt hàng chủ
yếu tăng nhanh: may, điện tử, giầy thể thao, hàng thủ công
mỹ nghệ.
Hệ thống thương nghiệp được tổ chức sắp xếp lại, mở rộng qui mô cải tiến phương
thức phục vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu cuộc sống của nhân dân. Tỉnh đó chỉ đạo khôi phục
các di tích lịch sử - văn hoá tạo điều kiện thu hút khách tham quan du lịch.
Kết cấu hạ tầng: được nâng cấp đầu tư mới khá đồng bộ, góp phần quan trọng thúc
đẩy phát triển KT-XH. Các tuyến tỉnh lộ huyết mạch 206, 200, 205, đê Sông Hồng,
đường trục chính thị xó Hưng Yên, đường trong khu công nghiệp, bến phà Yên Lệnh,
năm đều hoàn thành vượt mức kế hoạch thu năm sau cao hơn năm trước. Tổng thu bỡnh quân trên địa bàn 140 tỷ/năm. Thu ngân sách địa phương bỡnh quân năm 110 tỷ. Tổng
chi ngân sách 347 tỷ/năm đáp ứng kịp thời có hiệu quả phát triển KT-XH, QP-AN của
tỉnh. Tỉnh có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp vượt kế hoạch thu ngân sách tái đầu
tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, kinh doanh
xuất khẩu giải quyết nhiều lao động, được hỗ trợ vốn từ 30%-50% nên đó kích thích các
doanh nghiệp phát triển. Công tác thanh tra tài chính được duy trỡ cùng với hệ thống kho
bạc để kiểm tra chế độ chi tiêu hành chính sự nghiệp, chống lóng phí thực hành tiết kiệm.
Áp dụng biện pháp huy động vốn, tổng vốn huy động tăng bỡnh quân 23% năm (năm
2000 là 780 tỷ, dư nợ 630 tỷ, dư nợ ngân hàng người nghèo trên 100 tỷ). Mở rộng tín
dụng với cơ chế lói suất tiền gửi, tiền vay linh hoạt, tỷ trọng vốn trung và dài hạn tăng
nhanh chiếm 36%, 75% lượt hộ nông dân vay vốn, tăng hộ giàu giảm hộ nghèo. Chất
lượng tín dụng được nâng lên, công tác tiền tệ đáp ứng hơn nhu cầu địa bàn.
Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Để thực sự giải phóng sức sản
xuất, phát triển lực lượng sản xuất, tỉnh thành lập mới doanh nghiệp nhà nước nhằm phục
vụ cho xuất khẩu và nhu cầu thiết yếu, lấy hiệu quả KT-XH làm thước đo, sắp xếp một
bước các doanh nghiệp có khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để vươn lên. Thực hiện thí
điểm cổ phần hoá 167 HTX, đó chuyển đổi xây dựng mới theo mô hỡnh đa dạng và tự
nguyện đóng góp cổ phần kinh doanh tổng hợp, chuyên khâu: dịch vụ thuỷ nông, điện tiểu
thủ công nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân. 120 HTX đó đăng ký, nhiều HTX kinh doanh có
hiệu quả. Kinh tế hộ, kinh tế cá thể, kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển. Toàn
tỉnh đó có 110 doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước đang hoạt động và từng bước mở rộng
qui mô sản xuất kinh doanh.
Sau khi tái lập tỉnh, trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế, Đảng bộ, chính
quyền và nhân dân Hưng Yên luôn đoàn kết đồng thuận, chung sức đồng lũng xây dựng
quê hương ngày càng giàu đẹp. Những năm đầu tai lap tỉnh nền kinh tế Hưng Yên đó có
nhiều khởi sắc.
Đời sống văn hoá xó hội: Sau khi tái lập tỉnh đời sống nhân dân được cải thiện, số
theo 5 tiêu chuẩn mà Chỉ thị 05 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ đề ra.
Tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học – công nghệ (KH-CN)
theo định hướng đó được xác định trong Nghị quyết TW2 và Nghị quyết 03 TU. Giáo dục
đào tạo là một bộ phận trọng yếu xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Đẩy mạnh giáo dục toàn diện trên tất cả các ngành học, bậc học. Tạo được đời sống
văn hoá cơ sở lành mạnh, nâng mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, coi trọng việc xây
dựng gia đỡnh văn hoá và phát huy đạo lý tốt đẹp của gia đỡnh. Nêu cao vai trũ gương mẫu
của ông bà cha mẹ, tạo ra mối quan hệ khăng khít giữa gia đỡnh nhà trường – xó hội.
Phát triển không ngừng và nâng cao chất lượng hoạt động của thiết chế văn hoá cơ
sở. Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hoá, nghệ thuật chuyên nghiệp, và phong
trào quần chúng.
Nghiêm chỉnh chấp hành Chỉ thị số 27/CT-TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số
08 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm
đẩy lùi, tiến đến xoá bỏ tệ nạn xó hội và hoạt động phản văn hoá.
Đánh giá về những khó khăn, thuận lợi sau khi tái lập tỉnh, Hội nghị tỉnh uỷ lâm
thời lần thứ nhất họp trong hai ngày 20 và 21-1-1997 đó chỉ rừ: Những thuận lợi cơ bản
đó là Hưng Yên là một vùng đất văn hiến, giầu truyền thống và tiềm năng. Đất đai trù
phú, một số nghề truyền thống đang từng bước được khôi phục. Sau hơn 10 năm tiến
hành công cuộc đổi mới Hưng Yên bước đầu đó xây dựng được một số cơ sở vật chất.
Với vị trí nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phia Bắc, là cửa ngừ phia Đông của Thủ đô
Hà Nội. Hưng Yên có thế mạnh lớn trong việc thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài,
dịch vụ và du lịch có nhiều triển vọng. Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên có truyền thống đoàn
kết, ý chí quyết tâm xây dựng quê hương giầu đẹp. Việc tái lập tỉnh có ý nghĩa quan trọng
giup Đảng bộ và chính quyền tỉnh có sự chỉ đạo sát sao hơn với thực tế địa phương nhằm
khai thác thế mạnh, tiềm năng của tỉnh, bắt kịp với tỡnh hỡnh mới, cơ chế mới, từ đó nhanh
chóng ổn định và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xó hội của tỉnh. Bên cạnh những thuận lợi,
Hưng Yên cũng đứng trước những khó khăn lớn sau khi tái lập tỉnh. Khó khăn lớn nhất là
điểm xuất phát của tỉnh sau tái lập cũn thấp. GDP bỡnh quân đầu người năm 1966 khoảng
Yên Mỹ có 35/42; huyện Mỹ Hào có 36/41; huyện Văn Lâm có 33/41; huyện Văn Giang
có 28/31 Đảng uỷ Quân sự có 6/6; Đảng uỷ Công an có 23/23 và Đảng uỷ các cơ quan
tỉnh có 55/59 TCCSĐ đạt trong sạch vững mạnh. Tổng số đảng viên đủ tư cách phát huy
tác dụng tốt có 35.561 đạt 85,5%. Đảng viên đủ tư cách cũn hạn chế từng mặt có 5.656
chiếm 13,6%. Đảng viên vi phạm tư cách có 283 chiếm 0,7%. Đảng viên không đủ tư
cách phải đưa ra khỏi đảng 89 chiếm 0,21%. Kết quả kiểm tra của Uỷ ban kiểm tra các
cấp có 45 tổ chức cơ sở đảng và 303 đảng viên vi phạm từng mặt [56, tr.20]. Tuy cũn nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần quyết tâm cách mạng, Đảng bộ và
nhân dân tỉnh Hưng Yên đó phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương cách mạng và
những thành tựu đạt được trong 10 năm đổi mới, để nhanh chóng vượt qua những khó
khăn thách thức của một tỉnh sau tái lập, cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi
mới.
1.2. NHỮNG CHỦ TRƯƠNG LỚN CỦA ĐẢNG BỘ VỀ CÔNG TÁC XÂY
DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
Sau một thời gian tích cực chuẩn bị, được sự đồng ý của Bộ chính trị, Ban chấp
hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đó triệu tập Đại hội đại biểu đảng bộ Tỉnh lần thứ
XIV.
Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XIV được tiến hành từ ngày 11
đến ngày 13 tháng 11 năm 1997. Dự Đại hội có 250 đại biểu đại diện cho hơn 45.000
đảng viên trong toàn tỉnh. Đại hội có nhiệm vụ đánh giá một năm sau khi tái lập tỉnh, xây
dựng phương hướng nhiệm vụ ba năm 1998-2000 và bầu Ban chấp hành Đảng bộ. Từ
thực tiễn sau một năm tái lập tỉnh, đánh giá những kết quả đó đạt được, những yếu kém
cũn tồn tại, Đại hội đó tổng kết một số kinh nghiệm bước đầu:
Một là, từ điểm xuất phát thấp,trên cơ sở đường lối chính sách của Trung ương và
các Nghị quyết của Tỉnh uỷ, tất cả các cấp, các ngành đều phải đầu tư nghiên cứu, tỡm ra
bước đi thích hợp, nhằm tạo ra sự đột biến trên một số lĩnh vực. Nếu không tạo ra được
sự đột biến thỡ Hưng Yên không theo kịp các tỉnh trong khu vực.
Hai là, đứng trước những khó khăn và thử thách gay gắt, những đũi hỏi bức súc
quan điểm của giai cấp cụng nhõn, cú ý thức tổ chức, kỷ luật cao, đi tiên phong trên mọi lĩnh
vực, có bản lĩnh và trí tuệ, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực sự vỡ dõn, chống chủ nghĩa
thực dụng, vụ kỷ luật, bố phỏi trong Đảng.
Hai là: nõng cao trỡnh độ trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Học tập là nghĩa vụ
bắt buộc đối với mọi cán bộ đảng viên và được quy định thành chế độ của cấp uỷ. Đối với cán
bộ chủ chốt của tỉnh, huyện và thị xó phải cú kế hoạch học tập lý luận, chuyờn mụn, ngoại ngữ
và tin học. Đông thời phải thường xuyên sâu sát cơ sở kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng
của quần chúng nhân dân. Ba là: phải rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, khắc phục tỡnh trạng một bộ
phận cán bộ đảng viên sa sút phẩm chất đạo đức, dao động mất niềm tin, chạy theo lối
sống cơ hội thực dụng, làm giầu bất chính, lợi dụng chức quyền và những sơ hở trong cơ
chế chính sách để tham nhũng, buôn lậu. Kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện gia
trưởng, độc đoán, kèn cựa địa vị, cục bộ địa phương. Mỗi cán bộ đảng viên đều phải
gương mẫu tự rèn luyện, các cấp uỷ phải có kế hoạch giáo dục, bồi dưỡng, quản lý, kiểm
tra quỏ trỡnh tổ chức thực hiện.
Bốn là: thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
và sinh hoạt Đảng. Phát huy quyền làm chủ thực sự của dân, chống quan liêu tham
nhũng, ức hiếp dân. Động viên và tổ chức để nhân dân thường xuyên tham gia xây dựng
Đảng. Cấp uỷ lónh đạo các đoàn thể và cỏc tổ chức xó hội chủ yếu là định hướng chính
trị, tư tưởng, tổ chức cán bộ, thường xuyên kiểm tra, tạo mọi điều kiện để các đoàn thể và
mọi tổ chức xó hội hoạt động tốt hơn.
Đại hội đại biểu Đảng bộ Hưng Yên lần thứ XIV là Đại hội Đảng bộ đầu tiên sau
khi tái lập tỉnh có ý nghĩa hết sức quan trọng, đó kiện toàn bộ máy tổ chức Đảng đảm bảo
vai trũ lónh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xó hội của tỉnh. Đại hội đó đề ra
đường lối phát triển toàn diện, lónh đạo toàn tỉnh vượt qua những khó khăn thách thức
ban đầu của một tỉnh mới tái lập, từng bước đạt được những thành tựu đáng kể trong
công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xó hội thời kỳ mới.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng bộ, Ban Chấp hành
lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Công tác chính trị tư tưởng được coi trọng đúng mức, triển khai thực hiện các nghị
quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ đều gắn với chương trỡnh hành động của từng cấp,
từng ngành. Việc điều tra dư luận xó hội và lắng nghe ý kiến của nhõn dõn được coi
trọng. Tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn được đổi mới cả về nội dung và hỡnh thức,
gắn với giáo dục truyền thống và phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh các hoạt động
văn hoá, văn nghệ, thể thao ở cơ sở. Cụng tỏc giỏo dục lý luận chớnh trị cho cỏn bộ, đảng
viên được triển khai tích cực. Đó cú 3.790 đồng chí được học lý luận chớnh trị phổ
thông; 3.206 đồng chí được học về công tác xây dựng Đảng; 1.269 đang học chương
trỡnh trung cấp và cử nhõn lý luận chớnh trị. Cụng tỏc tư tưởng đó gúp phần nõng cao nhận thức chớnh trị, củng cố niềm tin của nhõn dõn đối với sự lónh đạo của Đảng vào
công cuộc đổi mới.
Về công tác tổ chức, đó thường xuyên củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của
các tổ chức Đảng và đảng viên, tập trung vào các cơ sở yếu kém, góp phần tích cực vào
việc giữ vững ổn định chính trị. Số cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh hàng năm đạt trên
70%. Công tác đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ trẻ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
được đặc biệt quan tâm. Đồng thời chăm lo bồi dưỡng phát triển đảng viên mới cả về số
lượng và chất lượng, bỡnh quõn hàng năm kết nạp trên 1.200 đảng viên.
Công tác kiểm tra của Đảng bộ được tăng cường. Trong nhiệm kỳ (Khoá XIV) đó
kiểm tra được 778 lượt tổ chức Đảng, 2.415 lượt đảng viên (có 503 cấp uỷ viên các cấp)
trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và thực hiện
nhiệm vụ đảng viên, cấp uỷ viên. Kết quả kiểm tra có 1.351 đảng viờn và cấp uỷ viờn vi
phạm. Xử lý kỷ luật 32 TCCSĐ và 1.165 đảng viên (có 402 cấp uỷ viên các cấp), trong
đó có 236 đảng viờn bị khai trừ. Ngoài ra cũn đưa ra khỏi Đảng 439 đảng viờn bằng cỏc
hỡnh thức khác. Có 34 đảng viờn bị xử lý bằng phỏp luật. Trong số đảng viên bị xử lý kỷ
luật cú 5,32% sa sỳt về phẩm chất đạo đức, lối sống; 11% tham ô, tham nhũng [56, tr.25].
Công tác kiểm tra đó gúp phần quan trọng vào việc nõng cao năng lực lónh đạo, sức chiến
đấu của các TCCSĐ, chống tiêu cực trong Đảng và trong bộ máy của hệ thống chính trị, giữ
2.1. TèNH HèNH, NHIỆM VỤ MỚI, ĐềI HỎI PHẢI NÂNG CAO NĂNG
LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
Đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV; Báo cáo
Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ khoá XIV tại Đại hội đại biểu lần thứ XV đó chỉ
rừ:
Nền kinh tế từ điểm xuất phát thấp, với những khó khăn thử thách của tỉnh mới tái
lập, chịu tác động do những khó khăn chung của cả nước: Thiên tai liên tiếp, cuộc khủng
hoảng tài chính, tiền tệ ở khu vực Châu Á, với những diễn biến phức tạp trên thế giới,
Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên đó giành được những thành tựu với bước tiến quan trọng
trong sự nghiệp đổi mới. Hoàn thành khá toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội Đảng bộ
tỉnh lần thứ XIV đề ra. Kinh tế tăng trưởng nhanh, văn hoá - xó hội cú những tiến bộ
mới; quốc phũng, an ninh được tăng cường, giữ vững ổn định chính trị, đời sống nhân
dân được cải thiện một bước, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
những năm đầu thế kỷ XXI [4, tr.5].
Kinh tế phát triển tương đối toàn diện. Tổng sản phẩm (GDP) tăng bỡnh quõn
12,17% (mục tiờu đại hội đề ra 10%/năm). Thu nhập bỡnh quõn đầu người 300 USD
(mục tiêu đại hội đề ra 300 USD). Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 41,5%; Công nghiệp
27,8%; Xây dựng - dịch vụ 30,7% [4, tr.6]. Nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện,
giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bỡnh quõn 6%; công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn thực hiện đạt kết quả khá; tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn, ỏp dụng rộng rói tiến bộ sinh học vào sản xuất, đưa giống cây trồng,
vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 550.000
tấn. Năng suất lúa năm 2000 đạt 11,93 tấn (năm 1997 đạt 9,8 tấn). Giá trị thu được bỡnh
quõn trờn mội ha canh tỏc tăng từ 28 triệu năm 1997 lên 32 triệu năm 2000. Lương thực
bỡnh quõn đầu người từ 460 kg năm 1997 lên 520 kg năm 2000. Cây ăn quả đặc sản, cây