Quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ GIANG THANH

QUYÒN SöA B¶N ¸N S¥ THÈM CñATßA ¸N PHóC THÈM
THEO Bé LUËT Tè TôNG H×NH Sù N¡M 2003

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ GIANG THANH

QUYÒN SöA B¶N ¸N S¥ THÈM CñATßA ¸N PHóC THÈM
THEO Bé LUËT Tè TôNG H×NH Sù N¡M 2003

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2015



.........
.........
.........
.........
.........
.........
... 1
C
h
ư
ơ
n
g
1
:
M

T
S

V

N
Đ

C


HUNG VỀ


.......

............ 7

14 1.3.3.

17

1 Khái niệm quyền

Giai đoạn

C

từ năm

h

1988 đến

ư

thẩm ....... 7

năm

ơ

Điều kiện làm


sửa bản án sơ thẩm
1 của Tòa án phúc

U

thẩm ........................
.................................

Quyền

Y

......................... 12

sửa



Pháp luật tố

bản án

N

tụng hình sự



Việt Nam từ




thẩm .......... 13

sự

N

1.3.1. Giai đoạn từ năm

một

1945 đến năm

số nước

Á

1960 ...............................

trên thế

N

............... 13 1.3.2. Giai

giới............


SƠ THẨM CỦA

Quyền miễn

trách nhiệm hình sự và
sửa tội
danh ........................ 23
2.1.1. Quyền miễn trách
nhiệm hình
sự ...................................
................... 23 2.1.2.
Quyền sửa tội
danh ..............................
.......................................
...... 29
2.2.

Quyền miễn,

giảm, tăng và chuyển
hình
phạt...............................
32
2.2.1. Quyền miễn hình


2.2.2. Quyền giảm hình phạt....................................................................... 35
2.2.3. Quyền tăng hình phạt........................................................................ 37
2.2.4. Quyền chuyển hình phạt ................................................................... 39
2.3.

Quyền sửa bản án sơ thẩm về các quyết định khác ...................... 42

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 81


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS:
BLHS:
BLTTHS:
TAND:
TANDTC:
TTHS:

Bộ luật dân sự
Bộ luật hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
Tố tụng hình sự


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 3.1: Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm kháng cáo, kháng nghị bị
Tòa án cấp phúc thẩm sửa án

51



có nhận thức như thế nào về các nội dung tại Điều 249 BLTTHS, làm thế nào
để các sai sót trong bản án hình sự sơ thẩm được sửa chữa khắc phục tại cấp
phúc thẩm một cách chính xác, đảm bảo nguyên tắc công bằng và chính sách
nhân đạo trong xử lý hình sự?
Trong chế định về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, quyền sửa bản án sơ
thẩm là một quyền rất quan trọng của Tòa án cấp phúc thẩm. Nếu không có
quyền này, thì khi các bản án sơ thẩm có sai sót sẽ không được sửa chữa khắc
phục kịp thời. Nếu bất kì sai sót nào của bản án sơ thẩm cũng bị hủy để xét xử lại
hoặc y án để xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm thì sẽ vừa gây tốn kém thời gian,
kinh phí, vừa không kịp thời bảo vệ được quyền con người và tạo niềm tin của
nhân dân vào pháp luật. Quyền sửa bản án khắc phục được tất cả những điểm
hạn chế đó nên cần thiết phải có sự nghiên cứu sâu nội dung này.
Ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 49/NQ- TW
"Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", trong đó chỉ rõ nhiệm vụ là:
"Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục
tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc
hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp…" và "trọng tâm là
xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân". Khoản 6
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã quy định "Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
được bảo đảm".
Với những lý do trên, cho thấy việc nghiên cứu về quyền sửa bản án sơ
thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm là vấn đề rất cần thiết, góp phần thi hành đúng
và thống nhất quy định của Điều 249 BLTTHS và có giải pháp hoàn thiện quy
định của BLTTHS về những vấn đề liên quan đến quyền sửa bản án sơ thẩm của
Tòa án cấp phúc thẩm.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ khi có BLTTHS 1988 ra đời, và sau đó là BLTTHS 2003, các quy



3


Như vậy, nội dung cụ thể về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp
phúc thẩm chủ yếu là một phần trong các nội dung nghiên cứu về thủ tục phúc
thẩm của luận án tiến sĩ hoặc luận văn thạc sĩ. Các nghiên cứu riêng biệt hơn
mới chỉ dừng lại ở cấp độ là các nghiên cứu trao đổi trên các báo và tạp chí,
chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Điều đó càng cho
thấy việc nghiên cứu toàn diện về quy định này là rất cần thiết, tạo sự thống nhất
trong nhận thức và chính xác trong thực tiễn áp dụng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận chung về quyền sửa bản án sơ
thẩm, tìm hiểu quy định này trong lịch sử luật TTHS Việt Nam và pháp luật
TTHS của một số nước trên thế giới; giải thích rõ các quy định của BLTTHS có liên
quan đến quyền sửa bản án sơ thẩm, những nội dung của bản án sơ thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm được quyền sửa; những lưu ý đối với từng nội dung đó.
- Phân tích làm rõ những điểm hạn chế, thiếu sót trong quy định về
quyền sửa bản án sơ thẩm, phân tích những tồn tại hạn chế trong thực tiễn áp
dụng quy định đó.
- Đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa
án cấp phúc thẩm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu đã được đặt ra, luận văn tập trung vào các
nhiệm vụ sau:
- Góp phần làm rõ khái niệm chung về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của
Tòa án cấp phúc thẩm, rút ra đặc điểm, lịch sử phát triển và so sánh với pháp luật
một số nước trên thế giới.

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp quyền. Các giải pháp
luận văn đưa ra được nghiên cứu dựa trên các quan điểm định hướng chỉ đạo
của Đảng và nhà nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật
trong giai đoạn hiện nay.

5


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự như: phân tích, đối chiếu, tổng hợp. Luận văn cũng tiến hành thu thập số
liệu thống kê về thực tiễn xét xử phúc thẩm của TANDTC trong những năm gần
đây, đồng thời so sánh và giải thích những quan điểm khác nhau đối với các vấn
đề có liên quan tới đối tượng nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của luận văn
Đây là luận văn nghiên cứu một cách chuyên sâu về thẩm quyền sửa
bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm. Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý
nghĩa trong việc góp phần nhận thức đúng đắn, thống nhất về nội dung của
quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm. Luận văn đưa ra các giải pháp
có cơ sở lý luận và thực tiễn đối với việc hoàn thiện pháp luật TTHS của nước ta
trong thời kì mới. Thông qua việc tổng hợp phân tích số liệu xét xử phúc thẩm,
luận văn đưa ra được một cái nhìn tổng thể về thực tiễn thi hành quy định về sửa
bản án sơ thẩm, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành
quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm. Luận văn
cũng có thể được tham khảo trong việc xây dựng dự án BLTTHS (sửa đổi)
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa
án phúc thẩm.

cấp quân khu và Tòa án quân sự trung ương. Theo quy định của pháp luật TTHS
hiện hành, Tòa án cấp phúc thẩm có những quyền hạn nhất định. Quyền ở đây
được hiểu là thẩm quyền, là cái mà luật pháp cho phép đối với
một tổ chức hoặc cá nhân.
Để hiểu khái niệm về Quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc

7


thẩm, trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là thẩm quyền của của Tòa án cấp
phúc thẩm. Theo từ điển luật học thì thẩm quyền của Tòa án là "quyền xem xét
để kết luận và định đoạn một vấn đề pháp luật" [27, tr.890]. Như vậy, thẩm
quyền của Tòa án nói chung và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm nói riêng
phải bao gồm 2 yếu tố cần và đủ là "xem xét" và "kết luận, định đoạt" (quyết
định). Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, Tòa án chỉ có thể kết
luận và định đoạt sau khi đã tiến hành xem xét, và sau khi xem xét phải đưa ra
được kết luận và định đoạt thì việc xem xét mới có ý nghĩa. Tiến sĩ Nguyễn
Đức Mai đưa ra khái niệm về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm là "toàn bộ
các quyền hạn mà pháp luật dành cho Tòa án cấp trên trực tiếp trong việc xem
xét và quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án hình sự do các Tòa án cấp dưới
xét xử sơ thẩm, mà bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo
hoặc kháng nghị". Theo chúng tôi đây là một khái niệm tương đối đầy đủ và hoàn
chỉnh.
Khi sửa bản án sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đã làm cho một phần
hoặc toàn bộ nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm trở nên khác với ban đầu,
hay nói cách khác là làm thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung và quyết
định của bản án sơ thẩm. Như vậy có thể rút ra khái niệm: Quyền sửa bản án sơ
thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm là quyền mà pháp luật dành cho Tòa án cấp
trên trực tiếp trong việc xem xét quyết định các vấn đề cụ thể nhằm làm thay
đổi một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu

Thứ nhất, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được quyền sửa các nội dung của bản
án sơ thẩm có sai sót liên quan đến trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, hình
phạt, điều luật áp dụng đối với bị cáo, xử lý vật chứng, không sửa các sai sót
liên quan đến thủ tục tiến hành tố tụng. Điều này xuất phát từ lý do các sai sót
về thủ tục tố tụng là sai sót ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền,
lợi ích chính đáng của đương sự và bị cáo, làm cho quá trình xác định sự thật
của vụ án không khách quan toàn diện và đầy đủ. Sai sót về thủ tục tố

9


tụng là những gì đã xảy ra không thể lặp lại được nên không thể sửa lại
được. Nếu không sai lầm vi phạm nghiêm trọng thì chỉ rút kinh nghiệm, rút ra
bài học, nếu là sai lầm, vi phạm nghiêm trọng thì chỉ có thể hủy bản án sơ thẩm
để điều tra hoặc xét xử lại.
Thứ hai, phạm vi quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
được quy định theo hướng mở rộng quyền sửa bản án theo hướng có lợi cho bị
cáo, hạn chế quyền sửa bản án theo hướng bất lợi hơn cho bị cáo.
Hầu như tất cả các vấn đề liên quan tới trách nhiệm hình sự và hình phạt
đối với bị cáo Tòa án cấp phúc thẩm đều có thể xem xét và sửa theo hướng có
lợi cho bị cáo. Điều kiện để Tòa án phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng này
được quy định khá mở rộng nhưng cũng không quá lỏng lẻo để tránh việc biến
cấp phúc thẩm trở thành cấp sơ thẩm thứ hai. Ngoài yêu cầu chung là có kháng
cáo kháng nghị (kể cả kháng cáo, kháng nghị theo hướng không có lợi cho bị
cáo) thì không có bất kì một hạn chế nào khác trong quá trình chuẩn bị xét xử
cũng như tại phiên tòa phúc thẩm.
Ngoại trừ trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và
trường hợp giảm mức bồi thường thiệt hại, các trường hợp khác Tòa án phúc
thẩm đều xem xét và áp dụng đối với cả bị cáo không kháng cáo hoặc không bị
kháng cáo kháng nghị. Điều 241 BLTTHS quy định nguyên tắc, "Toà án cấp

liên quan và người đại diện hợp pháp của họ; người được Toà án tuyên bố là
không có tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ
không có tội. Thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 234 BLTTHS: Đối
với những người có mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đối với
những người vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày
bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc

12


phản đối toàn bộ hay một phần nội dung bản án, quyết định của Toà án với mục
đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa
những sai lầm trong bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án [27, tr.418]. Chủ thể có
quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật là Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên trực tiếp với Toà án đã ra bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng nghị của
Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể
từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.3. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003
về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm
Lịch sử pháp luật TTHS nước ta trong từng giai đoạn có những quy
định khác nhau về quyền sửa bản án sơ thẩm.
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Ngay sau khi giành được chính quyền, đáp ứng nhu cầu cấp bách của
xã hội, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Sắc lệnh số
33c/SL ngày 13/9/1945, sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946, sắc lệnh 51/SL ngày
17/4/1946.... quy định việc thành lập Tòa án quân sự và thẩm quyền xét xử của
Tòa án quân sự. Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 và sắc lệnh số 51 ngày
17/4/1946 nêu rõ việc phân định thẩm quyền của Tòa án quân sự, trong đó đối với

quy định rõ "Tòa án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử", trên cơ sở đó
nhà nước ban hành nhiều văn bản có quy định về phúc thẩm trong TTHS.
Thông tư 03/NCPL ngày 19/5/1967 của TANDTC là văn bản đầu tiên
quy định về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xét lại bản án sơ thẩm
có kháng cáo kháng nghị. Theo đó Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét lại toàn
bộ nội dung vụ án, kể cả đối với người không có kháng cáo hoặc kháng nghị.
Thông tư này đã đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết trong hoàn cảnh

14


pháp luật tố tụng nước ta còn thiếu và có tác dụng giúp công tác xét xử phúc
thẩm tiến hành thuận lợi, nhưng qua một thời gian áp dụng đã bộc lộ nhược
điểm là làm cho công tác xét xử phúc thẩm trở nên nặng nề. Rút kinh nghiệm,
TANDTC đã ban hành thông tư số 19-TATC ngày 02/10/1974 kèm theo bản
hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự, quy định đầy đủ và hợp lý hơn
về thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm trong việc xét lại bản án sơ thẩm.
Về quyền sửa bản án sơ thẩm, thông tư đã quy định rất rõ ràng và cụ thể.
Các quyền mà Tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa bản án bao gồm: Tòa án cấp phúc
thẩm có thể tha miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Về hình phạt: Có thể tha
miễn hình phạt cho bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo nếu nhận định bản án sơ
thẩm đã tuyên hình phạt quá nặng; Về tội danh: Có thể tuyên bố bị cáo vô tội nếu
xét thấy bản án sơ thẩm kết tội bị cáo không có căn cứ, có thể xác định lại tội danh
nhẹ hơn so với tội danh Tòa án sơ thẩm đã tuyên. Trong vụ án có cộng phạm có
thể giải quyết cả cho bị cáo khác tuy không có kháng cáo kháng nghị.
Tòa án được sửa bản án theo hướng làm bất lợi cho bị cáo với các
trường hợp: có thể kết tội và tuyên hình phạt đối với bị cáo đã được bản án sơ
thẩm tuyên vô tội hoặc tha miễn trách nhiệm hình sự, tha miễn hình phạt; có thể
xử tội danh nặng hơn, tăng nặng hình phạt. Đối với bị cáo không kháng cáo
hoặc không bị kháng nghị về phần hình phạt thì vấn đề sửa bản án sơ thẩm theo

cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, Toà án vẫn có
thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ
hơn và giảm mức bồi thường thiệt hại [23, Điều 221].
BLTTHS 1988 sau đó đã được sửa đổi bổ sung ba lần (tháng 7/1990,
tháng 12/1992 và tháng 6/2000) và đến năm 2003 BLTTHS mới được ban
hành. Mặc dù quá trình thi hành Bộ luật cũ đã nảy sinh nhiều vướng mắc bất
cập, nhưng về cơ bản quyền sửa bản án sơ thẩm tại BLTTHS năm 2003 vẫn

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status