Phần A: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Mỗi môn học có những phương pháp giảng dạy, đặc thù riêng. Đối
với việc giảng dạy môn Ngoại ngữ nói chung và với môn Tiếng Anh nói
riêng thì phương pháp giảng dạy phải là một vấn đề cần được đặt lên hàng
đầu. Để có một tiết học Tiếng Anh có chất lượng tốt, tạo cho học trò một sự
hứng thú khi tiếp thu bài học thì người giáo viên giảng dạy phải thực sự có
những phương pháp độc đáo, hấp dẫn. Qua quá trình trực tiếp giảng dạy,
tôi nhận thấy rằng ngoài kiến thức, phong cách của một giáo viên Ngoại
ngữ thì phương pháp giảng dạy cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng
trong việc thu hút học sinh thích thú, tập trung cũng như yêu mến môn học.
Hiện nay đã có rất nhiều phương pháp giảng dạy mới đã và đang được áp
dụng trong quá trình dạy Ngoại ngữ ở trường. Đó là các phương pháp hay,
dễ sử dụng và đã góp phần nâng cao chất lượng môn học. Với bản thân
mình tôi nhận thấy việc sử dụng các trò chơi ngôn ngữ (Language games)
trong việc giảng dạy và học tập môn Tiếng Anh thực sự có hiệu quả. Học
sinh cảm thấy hứng thú khi được học tập môn Tiếng Anh thông qua các trò
chơi ngôn ngữ này.
Học Ngoại ngữ đòi hỏi phải có tính hứng thú (enjoyable) các trò chơi
ngôn ngữ giúp ta thực hiện điều này. Người dạy và học Ngoại ngữ không
nên nghĩ rằng chơi các trò chơi ngôn ngữ là phí phạm thời gian học tập.
Ngay cả với tiếng mẹ đẻ cũng sẽ đạt được những tiến bộ rất nhiều thông
qua việc sử dụng các trò chơi ngôn ngữ. Học sinh sẽ học ngoại ngữ rất tốt
thông qua các trò chơi ngôn ngữ. Các trò chơi ngôn ngữ giúp thay đổi
không khí trong tiết học và làm cho các bài học bớt căng thẳng và dễ hiểu
hơn, đôi khi giúp người học dễ nhớ và tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc.
Vì những lí do nêu trên. Tôi xin trình bày dưới đây những trò chơi
ngôn ngữ mà mình đã áp dụng trong quá trình giảng dạy. Tôi nghĩ rằng đây
là những trò chơi rất dễ áp dụng vì tính đơn giản nhưng lại rất hiệu quả và
thực tế đã là như vậy.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
3. Tiến hành thực hiện:
Giáo viên tiến hành các trò chơi như sau:
+ Car racing
+ Word practicing (Rèn từ)
+ Guessing word (Đoán chữ)
+ Making sentence (Tạo câu)
+ Making sentence (Đặt câu)
+ Đối
+ Nói thầm – Kịch câm
+ Tra từ điển ngược
+ Simon says (Nói theo mệnh lệnh)
Game 1: Car racing (Đua xe)
Đây là một trò chơi rất hay, giúp học sinh vừa học vừa chơi mà lại là một
phương pháp ôn luyện từ vựng hiệu quả.
Cách thực hiện: (Giáo viên có thể làm trên bảng hoặc chuẩn bị ở bảng phụ)
Kẻ ba đường thẳng để tạo ra hai đường đua song song và chia đường đua
thành những ô chữ nhật bằng nhau. (Học sinh có thể thực hiện trên giấy
nháp) để chơi được lâu tùy theo thời gian cho phép bạn có thể kẻ thêm
nhiều đường đua khác nhau.
Ví dụ:
3
Racer run
I
tear
draw
drive
Ban đầu hai “tay đua” (ví dụ số 1 ghi “run” còn số 2 ghi “hit”) sau đó bốc
thăm đi trước sẽ ghi từ có chữ cái đầu của mình là chữ cái cuối của từ của
đối thủ, như ví dụ trên nếu II đi trước sẽ ghi từ có chữ “N” ở đầu (ví dụ
“need” vào ô tiếp theo của mình vì ở trên từ “run” có chữ cuối là “N”,
tương tự đến lượt I đi thì ghi từ “tear” chẳng hạn (hit – tear), đến lượt II đi
“draw” (need – down), đến lượt I đi “ride” (tear – ride). Lần lượt như vậy
trò chơi sẽ tạo thành hai chuỗi dích dắc, đan xen gồm các từ nối đầu - đuôi
(run – need – draw – wake – enter – refuse.) cuộc đua sẽ kết thúc khi một
tay đua bị “nổ lốp” tức là ghi sai từ, hay hết xăng (không tìm được từ tiếp
theo nữa). Ban đầu các bạn có thể cho học sinh dùng từ bất kì, sau đó nâng
cao bằng các từ quy định chỉ dùng động từ, tính từ, hay danh từ hoặc từ
trong một bài học nào đó bất kì vừa học, hay có thể như đua F1 (giới hạn
thời gian suy nghĩ). Các tay đua điêu luyện còn biết cách “ép xe” tức là
dùng các đuôi khó như: x, y, u...hay chỉ dùng một loại đuôi để ép đối thủ và
giành chiến thắng. Giáo viên có thể làm trọng tài, cho điểm và chia lớp
thành hai đội đua với nhau hoặc hai cá nhân ở hai bên, hoặc một nam một
mà chưa nữ. Giáo viên có thể áp dụng trò chơi này khi bắt đầu hoặc kết
thúc bài dạy hoặc để củng cố trong các bài ôn tập.
Game 2: Word practicing (Rèn từ)
Yêu cầu:
Ít nhất có hai người chơi và nếu cần có một cuốn từ điển. Ở trên lớp giáo
viên có thể chia lớp thành hai nhóm và chính giáo viên hoặc một học sinh
làm trọng tài.
Cách chơi:
Lấy một từ Tiếng Anh bất kì (Việc này giáo viên có thể làm)
Ví dụ: yesterday.
Dùng các con chữ tạo nên từ đó, cụ thể ở đây là: y, e, s, t, e, r, d, a, y để tạo
ra những từ khác, ai tạo được nhiều từ hơn là thắng cuộc. Trong ví dụ trên
Người thứ II lại được tiếp tục đoán, nếu đoán đúng người chủ trò sẽ làm
như trên, nếu đoán sai thì người thứ I lại được đoán. Cứ như thế cho đến
khi tìm ra từ. Trong trường hợp một trong hai người chơi đã biết chắc chắn
đó là từ gì thì có thể nói với người chủ trò ngay và giành chiến thắng. Còn
nếu đoán sai cả từ sẽ bị loại khỏi cuộc chơi và người còn lại sẽ tiếp tục
đoán. Nếu như cả hai cùng không đoán ra thì sẽ nhờ “cổ động viên” đoán
ra từ đó.
Đây là một trò chơi rất vui và bổ ích. Học sinh sẽ rất thích thú vì nó vừa
gần gũi với các em vừa phát huy khả năng tư duy của chúng. Để trò chơi
thêm phong phú người chủ trò có thể chọn nhiều chủ đề khác nhau như:
giới từ, động từ bất quy tắc, ca nhạc, văn học, thể thao,…
5
Đặc biệt trò chơi này nên áp dụng khi giáo viên vào bài đọc hiểu, một bài
hội thoại để giới thiệu chủ đề thu hút học sinh. Mở rộng ra có thể áp dụng
trong các chương trình ngoại khoá, câu lạc bộ Tiếng Anh, hoặc khuyến
khích học sinh luyện tập theo nhóm...
Game 4: Making sentence (Tạo câu)
Yêu cầu: Tối thiểu là hai người chơi, hai nhóm chơi và một giỏi Tiếng Anh
làm trọng tài.
Cách chơi: Gần giống với trò chơi thứ hai (Rèn từ), giáo viên có thể lấy
một câu bất kì, mỗi người chơi đến lượt mình dùng các từ trong câu đó để
tạo thành câu có nghĩa khác, người nào không tạo ra được câu nữa là thua.
Ví dụ:
“The boys say they want some juice.” ta có thể tạo ra các câu như: “They
say they want some juice.”, “The boys want some juice.”...
Game 5: Making sentence (Đặt câu)
Đây là một trò chơi rất vui và chúng ta có thể áp dụng khi thư giãn hoặc áp
dụng trong các buổi dạ hội, sinh hoạt câu lạc bộ thậm chí có thể dùng khi
Đây là một trò chơi đòi hỏi trí tuệ, kiến thức sâu rộng có thể sử dụng nhiều
trong các hoạt động ngoại khoá. Trò chơi như sau:
Số lượng: Càng đông người chơi thì càng lâu và càng khó thắng.
Tiêu chuẩn: Thuộc nhiều câu tục ngữ và thành ngữ Tiếng Anh.
Tỷ lệ: Chia thành hai đội.
Bước 1: Bốc thăm xem đội nào đi trước.
Bước 2: Đội đi trước ra vế đối.
Bước 3: Đội thứ hai phải đối lại bằng một câu thành ngữ hay tục ngữ,
nhưng trong câu đối của đội này phải có một từ mà đội kia đã ra trong câu
đối.
Bước 4: Đội đầu lại tiếp tục đối bằng một câu thành ngữ hay tục ngữ cũng
phải có một từ trong câu của đội kia nhưng không được lặp lại từ trước.
Bước 5: Tiếp tục.
Bước 6: Đội nào bí không đối được sẽ thua cuộc và đội kia thắng cuộc.
Ví dụ:
Đội A ra câu đối: Silence is gold.
Đội B đối lại bằng một câu có từ của đội A “gold”: Gold will not buy
everything.
Đội A lại phải ra một câu đối có từ trong câu của đội B nhưng không phải
là từ “gold”. Và cứ thế...
Game 7: Nói thầm- Kịch câm
Cách chơi: Chia làm hai nhóm. Người chủ trò sẽ đưa cho một bạn ở đội I
một câu bất kì, bạn sẽ nói thầm với người tiếp theo cứ thế người cuối cùng
phải diễn tả lại nội dung đầy đủ của câu nói đó bằng hành động để đội II
đoán được. Đội nào đoán được nhiều hơn thì đội đó thắng. Thật khó là bởi
vì chúng ta phải nói rất nhỏ để đội bạn không nghe thấy thế nên đến bạn
cuối cùng sẽ có những hành động kì quặc mà có khi bạn đầu tiên chưa chắc
đã đoán được và với trí tưởng tượng phong phú thì các em sẽ được nghe
những câu hoặc những hành động buồn cười và thú vị.
Game 8: Tra từ điển ngược
Phần C: KẾT QUẢ
Trong năm học này tôi được giao trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Anh
khối 10, 12. Trong quá trình giảng dạy tại đơn vị, tôi đã áp dụng những trò
chơi ngôn ngữ nêu trên vào các tiết học. Để đánh giá được tác dụng cụ thể
của trò chơi đối với kết quả học tập của học sinh khối 10 và khối 12, tôi đã
phân lớp để áp dụng trò chơi: Khối 10 tôi chọn lớp 10A2, khối 12 tôi chọn
lớp 12A2 và kết quả thu được có phần khích lệ:
Tôi nhận thấy rằng những trò chơi này đã tạo cho các em một cách
học bổ ích, vừa chơi lại vừa học không chỉ ở trên lớp mà còn ở mọi nơi,
mọi chỗ. Học sinh rất hứng thú khi đến giờ học, hiểu bài sâu hơn và tự
nhiên hơn bớt đi những rụt rè vốn có. Còn với 3 lớp 10A6, 10A8 và 10A10
là 3 lớp tôi ít đưa trò chơi vào trong các giờ học thì kết quả là thực sự có
hạn chế đó là: Cơ bản học sinh ngại nói, kiến thức không sâu, e ngại khi
đến giờ học, không thật sự hứng thú về môn học.
Năm học: 2015 – 2016
Tỷ lệ
Lớp
Hiểu bài
Hiểu bài
Hiểu bài
Hiểu bài
10% - 20%
25% - 45%
9
13
8
10A10 (Sĩ số: 39)
8
9
14
8
12A2 (Sĩ số: 43)
7
8
14
14
9
11
MỤC LỤC
Mục lục
Trang
12