MỤC LỤC
GVHD: Hồ Phong
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ NĂM 2010 -2016. VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU
LỊCH BIỂN HIỆU QUẢ TẠI ĐỊA PHƯƠNG
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, thì du lịch đã trở thành một nhu
cầu quan trọng đối với cuộc sống của con người. Và hoạt động du lịch phát triển
mạnh mẽ để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của các quốc gia trên thế giới.
Phát triển du lịch đóng vai trò to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia.
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị
và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển
dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam và hơn 3.000 hòn đảo, với những bờ
cát trắng, vịnh biển hoang sơ, những hòn đảo nhiệt đới quanh năm tươi tốt. Từ đó
chúng ta có thể thấy rõ được tiềm năng du lịch biển đảo của đất nước.
Đà Nẵng là một trong những địa phương nằm tại vùng trung tâm duyên hải
miền trung, nằm giữa hai thành phố lớn của đất nước là Thủ đô Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh. Nơi đây có nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, giao thông,
liên lạc,… và đặc biệt có những bãi biển đẹp hàng đầu tại Việt Nam cũng như trên
thế giới mà nhiều người biết đến.
Vì vậy để phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng tại Đà Nẵng
tương xứng với những điều kiện đó thì việc nghiên cứu tình hình phát triển du lịch
biển đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển Thành phố. Đồng thời
qua việc tìm hiểu tình hình tại địa phương để đưa ra những chính sách phát triển
du lịch đúng đắn nhất.
Tuy nhiên, trong thực tế việc tối ưu hóa khả năng du lịch biển tại thành phố Đà
Nẵng trong những năm gần đây vẫn còn nhiều hạn chế và chưa phát huy được hết
Biển tại Thành phố Đà Nẵng có rất nhiều ưu điểm để phát triển du lịch. Vì vậy
đã có rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá. Cụ thể là:
“Nghiên cứu phát triển du lịch biển Đà Nẵng” của Thạc Sỹ Trần Thị Kim Ánh, “
Phát triển du lịch biển” của Thạch Sỹ Huỳnh Thị Mỹ Lệ, “ Phát triển kinh tế
biển Đà Nẵng – Tiềm năng và thách thức” của Viện nghiên cứu phát triển Kinh tế
- Xã hội Đà Nẵng…Và nhiều đề tài, đề án khác.
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Quan điểm này được coi là cơ sở cho việc hình thành hệ thống du lịch, đảm
bảo tính khách quan, khoa học trong nghiên cứu.
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
4.1.3 Quan điểm sinh thái
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Thu thập các số liệu sơ cấp do chính người làm nghiên cứu thu thập, ngoài ra
còn sử dụng nguồn số liệu thứ cấp do những người khác, do các cơ quan, đoàn
thể, internet đã thu thập từ trước để làm cơ sở lý luận khoa học và làm rõ một số
vấn đề trong luận văn.
4.2.2
Phương pháp điều tra thực địa
Công tác thực địa kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư liệu về tài nguyên, cơ
sở hạ tầng phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch và các số liệu lien quan đến
khách du lịch, doanh thu từ du lịch cùng các tài liệu liên quan khác. Phương pháp
Đối với khách du lịch và người dân trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng, nhằm lấy
thêm thông tin về đặc điểm xã hội của các đối tượng du lịch, ý kiến của cộng
đồng, du khách, điều tra về sức hấp dẫn của các điểm du lịch, tài nguyên du lịch,
chất lượng dịch vụ …Phương pháp này bao gồm các bước: xác định các vấn đề
cần điều tra, thiết kế bảng hỏi, lựa chọn khu vực và đối tượng để điều tra, thời
gian tiến hành điều tra, xử lý các kết quả điều tra.
4.2.6
Phương pháp bản đồ
Dựa vào bản đò tự nhiên, bản đồ kinh tế - xã hội, bản đồ du lịch để xác định
thông tin du lịch.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1 Về nội dung
Nghiên cứu tình hình du lịch biển của thành phố Đà nẵng và giải pháp phát
triển du lịch biển. Phạm vi nghiên cứu:
5.2 Về phạm vi
5.2.1 Phạm vi về không gian
Các vùng biển, vùng ven bờ biển và bờ biển thuộc thành phố Đà Nẵng.
5.2.2
Phạm vi về thời gian
Từ khi có chủ trương của Chính phủ về việc phát triển kinh tế xã hội thành phố
Đà Nẵng , đặc biệt lấy nhiệm vụ phát triển du lịch làm nhiệm vụ hàng đầu đến
nay.
SVTH: Bùi Quang Huy
cứu khác nhau.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía
canh:
Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài
nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,
công trình văn hóa nghệ thuật. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc
độ người đi du lịch.
• Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng
cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần
làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân
tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; cố
•
SVTH: Bùi Quang Huy
5
GVHD: Hồ Phong
thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo nghĩa này, du lịch
được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế.
Luật Du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI
năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau:
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
1.1.2
Tài nguyên du lịch
Phong cảnh nguyên sinh (thực tế rất ít gặp trên thế giới)
Phong cảnh tự nhiên, trong đó thiên nhiên bị thay đổi tương đối ít bởi con người.
Phong cảnh nhân tạo (văn hoá), trước hết nó là những yếu tố do con người tạo ra.
SVTH: Bùi Quang Huy
6
GVHD: Hồ Phong
•
Phong cảnh suy biến (loại phong cảnh bị thoái hoá khi có những thay đổi không có lợi
đối với môi trường tự nhiên).
Các thành phần của tự nhiên với tư cách là TNDL có tác động mạnh nhất đến hoạt
động du lịch là: địa hình, nguồn nước và thực – động vật.
•
Địa hình
Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự
đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình
càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách.
Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân
biệt bởi độ chênh cao của địa hình.
•
Khí hậu
Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu về khí
phát triển trong môi trường tự nhiên – nguyên thuỷ – một môi trường hoàn toàn trong
SVTH: Bùi Quang Huy
7
GVHD: Hồ Phong
lành và ổn định. Con người đã thích nghi với môi trường đó. Giờ đây sống trong một
xã hội phát triển, có những điều kiện thuận lợi do con người tạo ra, nhưng đồng thời
môi trường lại bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi cho cuộc sống của con người.
Về tài nguyên sinh vật, rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh thái, mà
còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc thuần chủng. Tất nhiên
không phải mọi tài nguyên động thực vật đều là đối tượng tham du lịch.
1.2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
TNDLNV bao gồm : các di sản văn hoá, các di tích văn hoá – lịch sử. Mà nói một
cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình
tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch. Là loại hình du lịch có tác dụng nhận
thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu.
DLNV là loại hình du lịch chủ yếu là tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn
ra trong thời gian ngắn. Số người quan tâm tới TNDLNV thường có văn hoá cao hơn,
thu nhập và yêu cầu cao hơn.
TNDLNV thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn.
Ưu thế của TNDLNV là đại bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội), không
bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác.
Sở thích của những người tìm đến TNDLNV rất phức tạp và rất khác nhau…
-
-
8
GVHD: Hồ Phong
-
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách
mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến thắng
Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Phòng tuyến
Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo...
Năm 2010, di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Các di tích này
không những có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên
phương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch.
•
Các lễ hội
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. "Lễ" là hệ thống
những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản
ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có
khả năng thực hiện. "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng,
xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Con
người xưa kia rất tin vào trời đất, thần linh. Các lễ hội cổ truyền phản ảnh hiện tượng
đó. Tôn giáo rất có ảnh hưởng tới lễ hội. Tôn giáo thông qua lễ hội đê phô trương
thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo đề thần linh hóa những thứ trần tục. Nhưng trải qua
thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáo dần giảm bớt và chỉ còn mang nặng tính văn
hóa.
Và các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác…
1.2
Tài nguyên lịch biển
cũng khó cải tạo và khó khai thác được du lịch tắm biển. Như Việt Nam có khí hậu
nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm theo mùa, nên du lịch biển đảo cũng chỉ được khai
thác mạnh vào mùa nóng. Vào mùa đông ở bắc bộ, du lịch biển bị hạn chế bởi thời tiết
lạnh giá.
Tóm lại du lịch biển là một loại hình du lịch chịu sự tác động mạnh của tự nhiên và
khí hậu.
1.3
Du lịch bền vững
Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi
ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực
hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào.
Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam ,tại điều 10 thuật ngữ ‘Du lịch’ được hiểu
như sau ‘Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm thoả mãn các nhu cầu tham quan,giải tri,nghỉ dưỡng trong khoảng một thời gian
nhất định’
Phát triển du lịch bền vững là sự đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu
của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến vùng, điểm du lịch ngày nay đồng thời
bảo vệ và nâng chất lượng cho tương lai. Nó được định ra để hướng việc quản lý toàn
bộ các tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và các điều kiện kinh
tế, xã hội, văn hoá kèm theo, theo cách mà chúng ta có thể thoả mãn các nhu cầu về
kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, đồng thời duy trì tính toàn vẹn về văn hoá, các quá trình
sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống.
Phát triển bền vững là việc quản lý toàn bộ các thành phần cấu thành nghành du
lịch đảm bảo phát triển cân bằng để có thể mang lại những kết quả có lợi về kinh tế, xã
hội mang tính lâu dài mà không gây ra những tổn hại cho môi trường tự nhiên và bản
sắc văn hoá của du lịch. Qúa trình phát triển du lịch bền vững phải kết hợp hài hoà nhu
cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ và sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm
mục đích bảo tồn và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bảo sắc
Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì “sẽ kinh doanh tốt nhờ làm
tốt”. Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thể
không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khích
đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào. Việc kinh doanh mà được
thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên,
đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng và có thể cũng sẽ thu
lợi tức.
1.4
Vai trò của tài nguyên du lịch biển đối với phát triển du lịch
Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và an ninh của các nước
có biển nói riêng và của thế giới nói chung. Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng
thế mạnh về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao.
Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ‘‘Thế kỷ của đại dương‘‘, bởi cùng
với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất
là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới.
Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng
chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển.
Biển và đại dương còn là những kho tài nguyên, thực phẩm vô cùng quý giá đề
phục vụ cho kinh tế của mỗi quốc gia và đặc biệt là ngành du lịch của các quốc gia đó.
1.4.1
Tài nguyên sinh vật biển
Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng trăm ngàn
loài động vật, thực vật và vi sinh vật. Tạo nên cảnh quan hết sắc hùng vĩ và tuyệt đẹp.
Và đây là tiềm năng và là thuận lợi to lớn cho phát triển du lịch.
Cũng bởi vị số lượng sinh vật khổng lồ nên đây là kho thực phẩm vô cùng quý giá,
đặc biệt là ở các vùng thềm lục địa. Bên cạnh các loài hải sản quen thuộc dùng làm
1.4.3
Địa hình bờ biển đa dạng và đẹp tạo nên sức hút mạnh mẽ với du
khách
Địa hình bờ biển phù hợp xây dựng các khu nghỉ dưỡng cao cấp với cảnh quan
đẹp, môi trường ổn định và nhiều ưu điểm thuận lợi cho phát triển dịch vụ du lịch…
Các hoạt động du lịch, hỗ trợ du lịch tại bờ biển tạo lợi nhuận to lớn đối với du
lịch và thu hút một số lượng khách đối với các quốc gia có biển trên thế giới.
1.4.4
Các hòn đảo là nơi thu hút một lượng lớn du khách đóng vai trò quan trọng cho du
lịch
Hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh
trải dài ven biển là những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển phát triển. Những bãi
biển, vịnh biển được du khách yêu thích và ghé thăm từ đó tạo tạo điều kiện to lớn cho
phát triển du lịch.
Hiện nay các tour nghỉ biển thực chất là các tour nghỉ dưỡng để lấy lại sức khỏe,
tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, tính chất thăm quan danh thắng cùng tìm
hiểu văn hóa là không nhiều. Do vậy để 1 tour biển thành công thì trước đây “điều
kiện vật chất” luôn được coi trọng hàng đầu, cụ thể chất lượng xe ôtô thật tốt, các bữa
ăn với thực đơn phong phú, đảm bảo, khách sạn trung tâm, tiện nghi, gần biển… Và
SVTH: Bùi Quang Huy
12
GVHD: Hồ Phong
điều này hiện nay không chỉ thành công ở cách địa điểm trong đất liền, các bờ biển,…
mà còn rất phát triển ở các khu vực hải đảo tạo nên sư phong phú và đa dạng cho du
triển du lịch biển.
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km2, có các động vật biển
phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài (11
loài tôm, 02 loại mực và 03 loại rong biển)... với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải
SVTH: Bùi Quang Huy
13
GVHD: Hồ Phong
sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản).Hàng năm có khả năng khai thác trên
150.000 -200.000 tấn hải sản các loại. Tạo nên sự đa dạng ẩm thực cho vùng đất này
và làm đa dạng bản sắc văn hóa con người Đà Nẵng.
Bên cạnh đó Thành phố Đà Nẵng còn có bán đảo nổi tiếng và có nhiều điều kiện
phát triển kinh tế. Bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát
triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển. Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang
được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt...
2.1.1.2 Khí hậu
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít
biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt đới ở
miền Bắc và nhiệt đới xavan miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía nam.
Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ
tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và
không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8,
trung bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C. Riêng
vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C. Độ ẩm
không khí trung bình là 83,4%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm;
lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất
đến năm 2020, ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng trong GDP từ 62-65%, công nghiệp-xây
dựng 35-37%, nông nghiệp 1-3%.
Đà Nẵng có mức tăng trưởng kinh tế liên tục và khá ổn định gắn liền với các mặt
tiến bộ về đời sống xã hội, cơ sở hạ tầng phát triển, đô thị được chỉnh trang. Tốc độ
tăng GDP bình quân của thành phố trong giai đoạn 2006-2010 đạt 11%, năm 2013 đạt
8,1%, và năm 2015 đạt 9,8%.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Đà Nẵng là thủy sản, dệt may, da giày, cơ
khí, vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ...Công nghiệp công nghệ cao, đặc biệt
là công nghiệp công nghệ thông tin, đang được thành phố tập trung phát triển trở thành
một trong những ngành kinh tế chủ lực
Theo đó, về kinh tế, năm 2015 tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn Đà Nẵng ước đạt
45.885 tỷ đồng, tăng 9,8% so với năm 2014. Các hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp
tục phát triển; ước tính trong năm 2015 tổng lượng khách tham quan, du lịch tại Đà
Nẵng đạt 4,6 triệu lượt, tăng 20,5% so với năm 2014, trong đó khách quốc tế ước đạt
1,25 triệu lượt, tăng 30,8%; tổng thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch ước đạt 12.700
tỷ đồng, tăng 28,7% so với năm 2014.
Cùng với dịch vụ, du lịch, sản xuất công nghiệp trên địa bàn TP được duy trì ổn
định. Giá trị sản xuất công nghiệp trong năm ước đạt 41.500 tỷ đồng, tăng 11,3% so
với năm 2014. Hoạt động xúc tiến đầu tư, phát triển doanh nghiệp và các hoạt động
đối ngoại tiếp tục được quan tâm. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn TP năm
2015 ước đạt 35.000 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ. Thu ngân sách Nhà nước đến
29/12/2015 là 14.691,5 tỷ đồng, đạt 121,4% dự toán HĐND thành phố giao và đạt
125,9% dự toán Trung ương giao. Các hoạt lĩnh vực quản lý quy hoạch, đô thị, đầu tư xây dựng cơ bản và tài nguyên môi trường được quan tâm đầu tư. TP tập trung khắc
phục ô nhiễm ở các bãi biển, bãi tắm; thanh tra, kiểm tra các đơn vị về lĩnh vực môi
trường, khoáng sản, tài nguyên nước, đất đai, đặc biệt tập trung chấn chỉnh các sai
phạm liên quan đến việc khai thác đất đá…
Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục có nhiều khởi sắc. TP đã tập trung thực hiện
“Năm văn hóa, văn minh đô thị” với nhiều kết quả tích cực; lao động, việc làm và các
chính sách an sinh xã hội được triển khai mạnh mẽ; các chương trình “thành phố 5
không, 3 có” tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh. An ninh, chính trị, trật tự án toàn xã
1,3km;
Năm 2015, mạng lưới đường bộ toàn thành phố có chiều dài trên 1.200km, hầu hết
là đường bê-tông nhựa, đã có 41 cầu (từ 25m trở lên) với tổng chiều dài gần 10,8km.
Ở nông thôn, các tuyến đường liên thôn, liên xã được bê-tông hóa và nhựa hóa,
một số công trình cầu quan trọng (cầu sông Yên, cầu Tà Lang, cầu Trường Định, cầu
Diêu Phong...) được xây dựng hoặc cải tạo nâng cấp đã phát huy hiệu quả, đáp ứng kịp
thời sự phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn, giúp kết nối thông suốt mạng lưới
giao thông đến các xã, các thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới theo hướng văn
minh, hiện đại, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của nông dân. Tạo điều
kiện thuận lợi cho việc đi lại của người dân và khác du lịch đến và di chuyển tại thành
phố. Từ đó tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
Thành phố Đà Nẵng còn có các trục đường ven biển có chất lượng cao như: Hoàng
Sa, Trường Sa, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Tất Thành,… Thuận tiện cho đi lại ở các địa
điểm ven biển và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch biển
-
Đường sắt
Ga Đà Nẵng là một trong những ga lớn của Đường sắt Việt Nam nằm trong nội thị
thành phố, là một trong những ga quan trọng nhất trên tuyến đường sắt Bắc - Nam.
Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua thành phố Đà Nẵng có chiều dài khoảng 30 km,
với các ga Đà Nẵng, Thanh Khê, Kim Liên, Hải Vân Nam.
SVTH: Bùi Quang Huy
16
GVHD: Hồ Phong
-
nhất cho hoạt động du lịch thành phố ngày càng phát triển.
•
Thông tin liên lạc và điện tử viễn thông
Đà Nẵng là đầu mối viễn thông hiện đại của cả nước với cơ sở hạ tầng phát triển
đồng bộ đáp ứng nhu cầu quốc tế. Đây cũng là thành phố đầu tiên vận hành hệ thống
mạng không dây Danang Wifi toàn thành phố, với khoảng 329 điểm kết nối, cung cấp
hệ thống thông tin liên lạc an toàn và thuận tiện cho các tổ chức và cá nhân.
Hiện tại, VNPT Đà Nẵng có nguồn nhân lực dồi dào với đội ngũ tiến sĩ, thạc sĩ và
kỹ sư chuyên ngành về bưu chính - viễn thông - CNTT, không những vững vàng về
chuyên môn mà còn có tinh thần yêu ngành, yêu nghề và bản lĩnh chính trị vững vàng.
Những thành tích ấn ượng của VNPT giai đoạn 2010-2015 là ngầm hóa và tăng
năng lực mạng lưới, đưa 100% năng lực mạng truyền dẫn công nghệ MAN-E và mạng
SVTH: Bùi Quang Huy
17
GVHD: Hồ Phong
di động 3G và 4G vào khai thác. Từ năm 2015, Tập đoàn Viễn thông Việt Nam thực
hiện tái cấu trúc, với chủ trương tạo sự chuyên nghiệp, khác biệt và hiệu quả trong
cung cấp dịch vụ viễn thông - CNTT đến khách hàng. Vì vậy, VNPT Đà Nẵng đã đầu
tư, triển khai đồng bộ các dự án nhằm nâng cao năng lực, chất lượng mạng lưới, cơ sở
hạ tầng viễn thông với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng tốt
nhất.
Đà Nẵng là một trong ba điểm kết cuối quan trọng nhất của mạng trung kế đường
trục quốc gia và điểm kết nối trực tiếp quốc tế.
Trạm cáp quang biển quốc tế SEMEWE 3 với tổng dung lượng 10 Gbps kết nối
Việt Nam với gần 40 nước ở Châu Á và Châu Âu đặt tại Đà Nẵng.
SVTH: Bùi Quang Huy
18
GVHD: Hồ Phong
tế - xã hội thành phố. Nhờ đó, lưới điện thành phố Đà Nẵng, kể cả khu vực nông thôn,
đều được công ty quản lý bán điện trực tiếp đến các hộ dân và khách hàng.
•
Y tế
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng, ngành Y tế cũng đã
không ngừng nổ lực, phấn đấu; phát huy những thành quả đạt được và từng bước áp
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân, đạt được những kết quả đáng kể. Cụ thể:
Mạng lưới khám chữa bệnh từ tuyến thành phố đến các trung tâm y tế quận, huyện,
xã, phường ngày càng hoàn thiện. Tính đến cuối năm 2015, 100% xã, phường đạt tiêu
chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020, trở thành thành phố dẫn đầu cả nước
trong thực hiện mục tiêu đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020.
Thành phố đã xây dựng, nâng cấp, cải tạo các bệnh viện, trung tâm y tế; đầu tư
trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và đào tạo cán bộ chuyên sâu (phẫu thuật tim hở, phẩu
thuật ghép thận; bung dù trong còn ống động mạch; siêu lọc máu; Xét nghiệm chẩn
đoán khối U; Định lượng sắt dự trữ; Xét nghiệm Troponin trong nhồi máu cơ tim;
Phẫu thuật cắt bàng quang tiệt căn và tạo hình bàng quang; tạo hình cánh mũi; Phẫu
thuật nội soi ổ khớp; mổ tim hở, thay van và sửa van tim; vi phẩu dị dạng mạch máu
não; Phẫu thuật Laser Excimer điều trị tật khúc xạ; ngôn ngữ trị liệu; Kỹ thuật phát
hiện Cyfra 21-1 chất chỉ dấu bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ ...) góp phần
nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Tính đến cuối năm 2015, toàn thành phố có 6.699 giường bệnh, đạt 65,11 gường
khúc này chậm lại.Việc các khách sạn ra đời ào ạt đã dẫn đến cung vượt cầu và cạnh
tranh về giá trở thành cuộc chiến khốc liệt khiến giá phòng bình quân thấp, thậm chí
giảm so với các năm trước.
Việc phát triển ồ ạt phân khúc khách sạn 3-5 sao trong những năm qua khiến cho
lượng cung thừa thãi, gây ra sự cạnh tranh khốc liệt về giá, điều này làm cho môi
trường kinh doanh khách sạn ở Đà Nẵng trở nên thiếu bền vững.
Đội ngũ nhân lực không theo kịp sự phát triển quá nóng đó nên thiếu về số lượng,
yếu về chất lượng. Trong khi đó giá đầu vào như thuế, tiền thuê đất, điện, nước… lại
tăng'',
•
•
Xã hội
Dân số
Theo kết quả điều tra ngày 1 tháng 4 năm 1999, thành phố Ðà Nẵng có 684.846
người. Trong đó, dân số trong độ tuổi lao động xã hội toàn thành phố là 413.460
người, chiếm 57,7% dân số. Tính đến năm 2015, dân số Đà Nẵng sinh sống ở thành thị
là 1.046.500 người và ở nông thôn là 171.200 người, ngoài ra thành phố còn tiếp nhận
thêm lượng dân cư từ các tỉnh, thành là sinh viên, công nhân lao động, người nước
ngoài... đến thành phố học tập và làm việc. Dân số nam của thành phố đạt 488.000
người, trong khi đó nữ đạt 522.000 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số năm 2015 là
1,1%.
Dân số Đà Nẵng tăng trưởng ở mức từ 2,5% và 3% trong hầu hết các năm từ năm
2005 tới 2011, cao hơn trung bình toàn quốc là 1% đến 1,2%. Cá biệt tỷ lệ tăng trưởng
đã tăng lên 3,6% trong năm 2010 trước khi trở lại 2,68% trong năm 2011. Đây là tốc
độ tăng trưởng nhanh thứ ba trong cả nước sau Bình Dương (4,41%) và Đồng
Nai (3,5%). Tỷ lệ tăng dân số của thành phố năm 2015 là 1,1%. Di cư là yếu tố chủ
đạo trong tăng trưởng dân số của thành phố ít nhất là từ năm 2009. Tăng trưởng dân số
tự nhiên của thành phố cao hơn một chút so với mức trung bình của cả nước. Tuổi thọ
Xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới và
nhận thức về ý nghĩa chiến lược của Đà Nẵng trong vị thế chung của khu vực miền
Trung - Tây Nguyên và cả nước, trong 20 năm qua, Công an thành phố đã củng cố về
chính trị, tư tưởng và tổ chức, đổi mới phương thức họat động để phù hợp với yêu cầu
nhiệm vụ mới. Trước tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội diễn biến phức tạp,
lực lượng Công an thành phố đã nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần tấn công kiên quyết
đối với địch và các loại tội phạm, tận tụy phục vụ nhân dân, đặc biệt là phát huy sức
mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, phối hợp chặt chẽ với các ngành, thường xuyên
phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần quan trọng vào việc
giữ vững ổn định chính trị, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu
hợp tác quốc tế trên địa bàn thành phố trong thời kỳ hội nhập. Và bảo đảm Đà Nẵng là
thành phố an toàn hàng đầuu Việt Nam.
Trong năm 2015, Công an thành phố đã tham mưu cho Thành uỷ, UBND thành
phố chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị
của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo
đảm trật tự, an toàn xã hội. Phối hợp các cơ quan tham mưu, giúp Thành ủy ban hành
các chỉ thị, nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và
các ban, ngành đoàn thể thành phố thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh, trật tự trên
địa bàn. Tham mưu, đề xuất Thành ủy, UBND thành phố chỉ đạo thực hiện các giải
pháp về công tác bảo vệ an ninh nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước; giải quyết tốt những
vấn đề phức tạp nảy sinh về an ninh xã hội, nhất là khiếu kiện đông người, vượt cấp,
đình công, lãn công. Đặc biệt, trong thời gian xảy ra sự kiện Trung Quốc xâm lần trái
phép chủ quyền biển Việt Nam và hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 năm
2014 vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam…Công an thành phố đã chủ
SVTH: Bùi Quang Huy
21
GVHD: Hồ Phong
vẻ lắng nghe những con sóng bạc đầu rì rào vỗ về có cảm giác như mình được hòa tan
cùng thiên nhiên.
Đến với Non Nước, ngoài việc nghỉ ngơi, tắm biển, du khách còn có thể kết hợp
viếng thăm thắng tích Ngũ Hành Sơn, nơi có những ngôi chùa cổ, các hang động thâm
nghiêm, dạo quanh làng đá mỹ nghệ ngay dưới chân núi.
2.1.3.2 Bãi biển Bắc Mỹ An
Bãi biển Bắc Mỹ An nằm trong địa phận phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành
Sơn, thành phố Đà Nẵng, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 7km về phía Đông
Nam.
SVTH: Bùi Quang Huy
22
GVHD: Hồ Phong
Khu vực Bắc Mỹ An có năm điểm được xem là bãi tắm đẹp, gồm bãi tắm T18, Mỹ
Đa Đông 2, Mỹ Đa Đông 3, Bắc Mỹ An và khu vực khách sạn Furama.
Trước 1975, đây chỉ là bãi tắm tự nhiên. Sau ngày thành phố giải phóng, nhà nước
xây dựng ở đây một nhà nghỉ và một viện điều dưỡng để phục vụ nhu cầu an dưỡng
của cán bộ công nhân viên chức tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng ( cũ ).
Gần đây với sự xuất hiện của các Resort, Bắc Mỹ An trở nên nổi tiếng, được du
khách trong và ngoài nước biết đến như mộ nơi nghỉ dưỡng mang tầm quốc tế.
Bãi biển Bắc Mỹ An được du khách trong và ngoài nước yêu mến bởi khung cảnh
đẹp tuyệt của bãi biển và những khu nghỉ dưỡng sang trọng, trong đó nổi bật nhất có
thể kể đến như : Furama Resort, Lifestyle resort, Crowne Plaza Đà Nẵng … đều là
những khu nghỉ dưỡng và khách sạn với đẳng cấp 5 sao. Có rất nhiều du khách đến
đây đã dành toàn bộ thời gian của mình để nghỉ dưỡng với những dịch vụ đẳng cấp
quốc tế. Đặc biệt khu nghỉ dưỡng Furama Resort, nếu nghỉ dưỡng tại đây bạn có thể
phóng tầm mắt ra toàn bộ bãi biển, trong khu resort có một điểm rất hấp dẫn du khách
Với độ mặn vào khoảng 60% và không bị ô nhiễm, nước được đánh giá có độ an
toàn cao. Do vậy, nơi đây có nhiều san hô, nguồn động thực vật ven bờ và dưới bờ
biển phong phú. Đặc biệt, các loại rong tảo quí như rong câu chỉ vàng, rong câu chân
vịt có giá trị xuất khẩu cao.
Giống như các bãi biển khác của Đà Nẵng, Mỹ Khê phát triển khá mạnh các loại
hình dịch vụ phục vụ du khách như: câu cá, lướt ván, lặn, du thuyền. Bãi tắm có hệ
thống cứu hộ gồm chòi canh, phao cứu sinh, cờ báo hiệu vùng nước xoáy và lực lượng
cứu hộ túc trực ngày đêm, sẵn sàng ứng cứu kịp thời khi có người bị nạn.
2.1.3.4 Bãi biển Phạm Văn Đồng
Nằm cuối nút Cảnh quan đường Phạm Văn Đồng, trên địa bàn phường Phước Mỹ
- Quận Sơn Trà - thành phố Đà Nẵng. Bãi biển trải dài 2km với bờ cát dài thoai thoải,
độ sóng êm. Đây còn được chọn làm khu vực bãi tắm đêm với hàng loạt các dịch vụ
vui chơi giải trí công cộng và các dịch vụ phụ trợ trên công viên biển.
Tự hào là một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới, biển Phạm Văn Đồng Đà
Nẵng trong mỗi dịp hè luôn là cái tên rất cuốn hút khách du lịch Đà Nẵng cả trong và
ngoài nước. Đối với người dân thành phố, biển Phạm Văn Đồng là “thiên đường mát
lạnh” trong những ngày hè oi ả. Còn đối với khách du lịch, biển là nơi hội tụ các hoạt
động thể thao, vui chơi giải trí vô cùng hấp dẫn và bổ ích.
Bãi biển Phạm Văn Đồng Đà Nẵng nằm cuối đường Phạm Văn Đồng, ngay bên
công viên Biển Đông (trên cung đường Hoàng Sa – Trường Sa). Bạn đi qua cầu Sông
Hàn, đi thẳng xuống đường Phạm Văn Đồng là đến ngay bãi tắm. Nơi đây là một trong
những bãi tắm phục vụ cộng đồng đã được đầu tư nâng cấp tốt.Với khoảng 3.500 đến
4.000 lượt người đến đây tắm mỗi ngày cao điểm đã cho thấy sức hút khõ cưỡng lại
khi khách đến du lịch Đà Nẵng.
Bãi tắm nằm vị trí phong thủy rất tốt, sông núi bao quanh tạo điều kiện thuận lợi
cho việc di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Khách du lịch có thể bắt đầu cuộc hành
trình của mình bằng cách đã đắm mình trong làn nước mát buổi bình minh. Sau đó lên
xe, phóng về núi Sơn Trà, mất chỉ tầm 15 phút khách du lịch đã có thể thả sức chinh
Nằm cách khá xa thành phố nên đến thời điểm hiện tại bãi biển Xuân Thiều Đà
Nẵng vẫn giữ được nét đẹp nguyên sơ vốn có và hầu như chưa bị tác động nhiều bởi
bàn tay con người.
Bãi tắm Xuân Thiều sạch, đẹp và vẫn còn hoang sơ; cát trắng mịn; nước biển lúc
nào cũng xanh ngăn ngắt. Đối với những du khách du lịch Đà Nẵng có sở thích tìm về
những nơi chốn bình dị, vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên vẹn vốn có thì bãi biển Xuân
Thiều là điểm thích hợp để bạn thỏa mãn sở thích của mình.
Dạo mát trên bờ biển khách du lịch sẽ cảm nhận được hương gió biển cùng với làn
cát trắng mịn màng, mát rượi. Từ đây họ cũng có thể ngắm nhìn một bên là bán đảo
Sơn Trà tuyệt đẹp và một bên là núi Hải Vân hùng vĩ. Cửa biển đằng xa mở ra ngay
trước mắt, bạn có thể thỏa mắt ngắm nhìn nơi mà biển núi giao thoa, nơi mà cánh cửa
ngõ dẫn ra sự mênh mông bất tận. Tại đây, du khách có thể ngày ngày ngắm nhìn tàu
thuyền ra vào vịnh biển.
Bãi biển Xuân Thiều tuy dốc hơn so với những bãi biển khác song nước ở đây lại
trong và lặng hơn bởi có một phần là nước từ dòng sông Hàn đổ ra, vị nước cũng
không mặn bằng những nơi khác.
Dù sao đi nữa, khách du lịch đến Đà Nẵng cũng nên chú ý bởi bãi cát ở đây so với
bãi biển Mỹ Khê vẫn ngắn và dốc hơn nên sẽ có phần nguy hiểm hơn khi vui chơi.
Từ năm 1992, khu du lịch Xuân Thiều được thành lập với hệ thống dịch vụ tương
đối liên hoàn, đầy đủ bao gồm: khách sạn, nhà hàng, một số dịch vụ vui chơi giải trí,
phục vụ tắm biển. Bên cạnh đó bạn cũng có thể thưởng thức các món ăn đặc sản ở nhà
hàng Red Beach với giá cả phải chăng cùng với phong cách phục vụ lịch sự và thân
thiện của đội ngũ nhân viên phục vụ. Thêm vào đó, nhà hàng cũng có hồ bơi riêng,
dịch vụ spa đáp ứng nhu cầu của các bạn.
SVTH: Bùi Quang Huy
25