SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHIỆM VỤ SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ
QUỐC VÀ NHỮNG VẪN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CTĐ, CTCT TRONG
QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Ðược Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục
và rèn luyện; sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, HƠN 70 năm qua, Quân đội ta
đã đoàn kết cùng nhân dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
xâm lược, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa đất nước ta
bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ nhân dân mà ra, vì
nhân dân mà chiến đấu, Quân đội ta đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh,
thật sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Ðảng,
Nhà nước và nhân dân.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có cơ hội, thuận lợi, có khó khăn,
thách thức đan xen, những năm qua, Quân đội ta đã quán triệt sâu sắc đường lối
quân sự của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vượt qua nhiều khó
khăn, thách thức, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Toàn quân trở thành
khối đoàn kết, thống nhất, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập tự
do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; chấp hành nghiêm túc các mệnh lệnh và
chế độ sẵn sàng chiến đấu; thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình, nhất là
trên các hướng chiến lược; làm tốt vai trò tham mưu cho Ðảng, Nhà nước về
lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Phối hợp các lực lượng làm thất bại âm mưu, thủ
đoạn "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn lật đổ; ngăn chặn, xử lý kịp thời và có
hiệu quả các hành vi xâm phạm chủ quyền và lợi ích quốc gia, thật sự là lực
lượng nòng cốt cùng toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng
và chế độ Xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển
đất nước. Quân đội tham gia tích cực và có hiệu quả các chương trình phát triển
kinh tế - xã hội, hoạt động xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng cơ
sở chính trị địa phương, đời sống văn hóa mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo; là lực lượng chủ lực trong phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên
tai, cứu hộ, cứu nạn, rà phá bom, mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh... Có thể
3
1. Tính tất yếu khách quan của nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc và yêu cầu CTĐ, CTCT.
1.1. Tính tất yếu khách quan của nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Sẵn sàng chiến đấu là trạng thái của lực lượng vũ trang và từng đơn vị, bảo
đảm trong mọi tình huống và bất kỳ lúc nào cũng có thể bắt đầu hoạt động tác
chiến, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Việc nâng cao trình độ sẵn
sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa là tất yếu khách quan, là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên, đồng thời là
nhiệm vụ cấp thiết của quân đội trong tình hình hiện nay. Khẳng định vị trí, vai
trò của nhiệm vụ SSCĐ bảo vệ Tổ quốc xuất phát từ những cơ sở lý luận, thực
tiễn sau:
Thứ nhất, từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về
vũ trang quần chúng để bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản. V.I.
Lê-nin đã nói: trong điều kiện đảng cộng sản đã nắm được quyền lãnh đạo xã
hội, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa có nội dung toàn diện, với mục
tiêu bảo vệ bao gồm: bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia; bảo vệ
thành quả cách mạng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; bảo vệ sự ổn
định và phát triển đất nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội; bảo vệ môi trường hòa bình và hạnh phúc của nhân dân. Chính vì vậy,
Người đã khẳng định: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ
nhường quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên
thực tế rằng, họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả
năng tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”1. Khi giành được chính
chính quyền nhân dân chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Hồ Chí Minh đã chỉ ra một
chân lí rằng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. “Hễ còn một tên xâm lược
trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”, trước khi đi
xa, trong bản di chúc Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước có
thể còn kéo dài, đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của nhiều người. Dù sao
2
3
V.I. Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tập 42, tr 159.
Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1995, tr.553.
5
chúng ta phải quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn”. Đồng
thời, Người còn chỉ rõ: “Chúng ta phải ra sức xây dựng quân đội ta thành một
quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và
hiện đại để giữ gìn hoà bình, bảo vệ Tổ quốc” 4. Những quan điểm đó đã khẳng
định ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng xuyên suốt
trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thực tiễn lịch sử cách mạng vô sản của các nước trên thế giới, lịch sử
cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng
minh tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, xuất phát từ truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân
tộc Việt Nam.
Có thể nói, từ rất sớm, cha, ông ta đã nhận thức được mối quan hệ biện
chứng, gắn bó giữa dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Đó chính là tư tưởng
nước Đại Việt bước vào thời kì xây dựng mới. Những tư tưởng tiến bộ của
Nguyễn Trãi đã giúp triều Lê dựng nên Nhà nước phong kiến Đại Việt hưng
thịnh nhất trong lịch sử dân tộc ta thời trung đại. Song ngay khi đất nước hưng
thịnh, vua Lê Thái Tổ đã nhắc nhở cháu con: “Lo giữ nước ngay từ lúc nước
chưa nguy”. Khi đi kiểm tra đất Hoà Bình (vùng chợ Bờ), Lê Thái Tổ đã cho
khắc vào bia đá: “Biên phòng cần có phương lược tốt/ Giữ nước nên có kế dài lâu”.
Lời của vua Lê Thái Tổ như một phương hướng chiến lược giữ nước lâu
bền, nhắc nhủ muôn đời cho các thế hệ con cháu mai sau. Kế thừa những kinh
nghiệm truyền thống lịch sử và căn cứ vào điều kiện thực tiễn của thời đại mới,
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định: “Dựng nước đi đôi với giữ nước”
là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam.
Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã kịp
thời đề ra chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Thực hiện chủ trương
ấy, chúng ta đã ra sức xây dựng căn cứ địa cách mạng Việt Bắc, xây dựng các
khu du kích ở vùng tạm chiếm, xây dựng vùng tự do ở khu IV, khu V, đồng
bằng Nam Bộ… làm căn cứ cung cấp sức người sức của cho kháng chiến lâu dài
và phát triển chiến tranh nhân dân, đưa cuộc kháng chiến tiến đến thắng lợi.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đã lãnh đạo toàn quân, toàn dân thực
7
hiện thắng lợi đồng thời hai chiến lược cách mạng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và ra sức đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.
Bước vào thời kì cách mạng mới, kế thừa truyền thống lịch sử của dân tộc
và phát triển sáng tạo qui luật “dựng nước đi đôi mới giữ nước”, Đảng Cộng sản
Việt Nam nhất quán lãnh đạo quân dân cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tố quốc xã hội chủ nghĩa.
Để phát huy sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước,
cha ông ta đã nhất quán thực hiện kế sách: Đoàn kết bên trong, hoà hiếu bên
ngoài. Kế sách này đã được tiến hành một cách sáng tạo trong từng thời kì lịch sử.
hình mới, Đại hội X, sau đó Đại hội XI tiếp tục bổ sung và khẳng định: “Bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ
quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế
độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ
động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống
mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp tục
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”5.
Những quan điểm lý luận sâu sắc và toàn diện về mục tiêu, nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là kết quả của quá trình phát triển tư duy của Đảng
ta từ khi đổi mới đến nay. Là bước phát triển đột phá quan trọng so với trước
đây. Nếu như từ Đại hội VII trở về trước hai mặt của nội dung bảo vệ Tổ quốc
XHCN, mặt tự nhiên – lịch sử được nhấn mạnh hơn so với mặt chính trị - xã hội
thì từ Đại hội VIII trở đi hai mặt tự nhiên – lịch sử và chính trị - xã hội trong nội
dung bảo vệ Tổ quốc XHCN được đặt trong mối quan hệ thống nhất chặt chẽ
với nhau hơn. Đảng ta nhận thức rõ hơn mối quan hệ thống nhất chặt chẽ giữa
các mặt, các nội dung trong mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, mở rộng
nội dung bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong điều kiện Việt Nam đổi mới,
mở cửa đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế mà vẫn giữ
vững độc lập dân tộc, bảo vệ được thành quả của CNXH, là vấn đề đặc biệt hệ
trọng đặt ra đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân trong thời kỳ mới. Đồng thời,
5
ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr.233
9
coi giữ vững môi trường hòa bình, ổn định bền vững để phát triển đất nước là
vấn đề mang tính nguyên tắc.
Về phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, trước đây
Thứ hai: Đó là phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nguồn lực bên trong và
bên ngoài, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kết hợp hoạt động
quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại.
Thứ ba: Đó còn là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh
nhân dân không ngừng được củng cố, tăng cường ngay từ trong thời bình, bảo
đảm đủ sức ngăn ngừa chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho
công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; đồng thời, sẵn sàng đánh thắng chiến
tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao của địch.
Như vậy, với quan điểm toàn diện và sâu sắc về sức mạnh tổng hợp trên
đây của Đảng ta, mở ra khả năng rộng lớn, khai thác triệt để các nguồn lực bao
gồm cả nguồn lực vật chất và tinh thần, cả nguồn lực hiện có và tiềm tàng, cả
nguồn lực kết tinh của quá khứ và nguồn lực mới của tương lai cho sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù
Thời gian qua, nước ta tổ chức nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại sâu rộng, đặc biệt là triển khai thực hiện
Nghị quyết Trung ương 4- khóa XI; Quốc hội tổ chức nhiều kỳ họp quan trọng;
các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta diễn ra sâu rộng
trên mọi bình diện quốc tế và khu vực... Cay cú trước những thành công đó, các
thế lực thù địch đã tìm mọi cách chống phá chúng ta một cách quyết liệt. Âm
mưu của chúng là nhằm vào các địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa- biên giới, nhất là các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ với
những thủ đoạn tinh vi, xảo nguyệt. Các vụ xảy ra hồi đầu năm 2001 và tháng 4
năm 2004 tại các tỉnh Tây Nguyên, gần đây là các tỉnh Tây Bắc như Mường Nhé
(Điện Biên) đã chứng minh điều đó. Địch lợi dụng mê tín dị đoan đến mức
cuồng tín của một số người theo đạo Tin lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu
số; bọn phản động bên ngoài cùng với bọn xấu tại địa phương đã ngầm cấu kết
11
12
nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (Khóa XI) đã thảo luận, đánh
giá kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong những năm qua, Đảng bộ Quân đội
đã lãnh đạo toàn quân kiên định mục tiêu chiến đấu, xác định rõ đối tượng, đối
tác, thường xuyên cảnh giác duy trì tốt chế độ thường trực SSCĐ, tổ chức luyên
tập thành thạo các phương án SSCĐ, kịp thời đấu tranh ngăn chặn, đấu tranh
làm thất bại nhiều âm mưu và hoạt động chống đối, phá hoại bằng các biện pháp
vũ trang và phi vũ trang... không để bị động về chiến lược ... ngăn chặn và đẩy
lùi các hoạt động vi phạm quy chế biên giới, xâm phạm chủ quyền và lợi ích
quốc gia; các cấp ủy, chi bộ ở các đơn vị trong toàn quân luôn làm tốt công tác
giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức trách nhiệm chính trị cho cán bộ, chiến sĩ
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ SSCĐ. Từ đó tạo được ý chí quyết tâm cao, biết
khắc phục khó khăn, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, dù ở bất cứ điều kiện, hoàn
cảnh nào; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất chính trị - tinh thần và tâm
lý bền vững, ý thức thường trực sẵn sàng chủ động ứng phó thắng lợi trước
những âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của địch, có niềm tin vào
khả năng đánh thắng địch. Đồng thời, không ngừng học tập, nắm vững và làm
chủ vũ khí, khí tài trang bị, chấp hành nghiêm các chế độ quy định về bảo quản,
sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật trong ngày, trong tuần và định kỳ; chế độ lau
chùi bảo quản sau khi luyện tập, tuần tra, canh gác… thực hiện đúng quy định
về dự trữ linh kiện khí tài, lương thực, thực phẩm và các yêu cầu bảo đảm khác
cho nhiệm vụ SSCĐ. Bảo vệ nghiêm ngặt các kho dự trữ chống sự phá hoại của
địch, đề phòng hoả hoạn, chống ẩm ướt và tình trạng sử dụng tuỳ tiện…
Những thành tích và ưu điểm điểm trên đây của Quân đội đã góp phần
cùng cả nước bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, đập tan nhiều âm mưu phá hoại của kẻ thù, tạo môi trường chính trị xã hội
ổn định và lành mạnh làm cơ sở để phát triển kinh tế thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
toàn quân nói chung và các đơn vị quân đội nói riêng là phải luôn nhận thức sâu
sắc nhiệm vụ và ý nghĩa của nhiệm vụ; phải chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt (kể cả
14
con người, tổ chức và trang bị) để có thể đáp ứng được mọi tình huống chiến
đấu có thể xảy ra trong bất kỳ thời gian và hoàn cảnh nào. Khi có lệnh của cấp
trên có thẩm quyền, nhanh chóng chuyển được toàn bộ hoạt động của đơn vị từ
trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao
hơn theo mệnh lệnh một cách trọn vẹn nhất và có thể bước vào thực hiện nhiệm
vụ có hiệu quả được ngay. Đồng thời, tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT phải
linh hoạt, sáng tạo, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp cho
phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ của từng đơn vị.
1.2. Yêu cầu CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu của mỗi đơn vị quân
đội được tạo nên bởi kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm: con người có
trình độ giác ngộ chính trị cao; có kỹ năng chiến đấu thành thạo; có ý thức tổ
chức kỷ luật nghiêm, tinh thần chiến đấu dũng cảm, tác phong linh hoạt; tổ chức
biên chế của đơn vị đúng qui định, hoạt động đúng chức năng, có hiệu quả; tình
trạng vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật của đơn vị luôn ở tư thế được chuẩn bị sẵn
sàng thực hiện nhiệm vụ. Do vậy, để đảm bảo cho đơn vị cơ sở luôn luôn sẵn
sàng chiến đấu, CTĐ, CTCT phải tập trung thực hiện tốt những yêu cầu nhiệm
vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, trong
đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở; giáo dục rèn luyện cho bộ đội có phẩm
chất chính trị vững vàng, tinh thần, tâm lý bền vững, có tính tổ chức, tính kỷ luật
cao và có ý thức thường trực sẵn sàng chiến đấu.
Thứ hai, xây dựng và phát huy vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng,
trách nhiệm tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ; vai trò xung kích của tổ chức
đoàn thanh niên trong thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.
và khủng bố vẫn gia tăng; các quốc gia phải đối phó với nhiều vấn đề mang tính
toàn cầu như biến đổi khí hậu, đói nghèo, các đại dịch, tội phạm và thảm hoạ
thiên nhiên khác. Đặc biệt, những năm gần đây, khủng hoảng kinh tế - tài chính
thế giới đang đẩy nhiều nền kinh tế vốn hùng mạnh vào tình trạng suy thoái; nợ
công, nợ chính phủ ở nhiều nước vượt quá ngưỡng an toàn làm cho kinh tế đình
16
đốn, phá sản. Khu vực Bắc Phi, Trung Đông có những diễn biến mau lẹ, gây đảo
lộn mạnh; tình hình kinh tế, chính trị của một số nước ở khu vực Châu Á, Đông
Nam Á có những diễn biến phức tạp; các thế lực thù địch tăng cường kích động,
phá hoại, chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia...
Đối với nước ta, mục tiêu xuyên suốt, nhất quán của các thế lực thù địch
là nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay đổi chế độ
chính trị ở nước ta, đưa Việt Nam đi theo ý đồ, quỹ đạo của họ. Vì vậy, các thế
lực phản động, thù địch luôn đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoà bình", tăng
cường sử dụng các biện pháp "tấn công mềm", tập trung làm chuyển biến về
chính trị tư tưởng, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", kích động, chia rẽ,
đòi phi chính trị hoá quân đội, hạ thấp, phủ nhận vai trò, uy tín lãnh đạo của
Đảng; xoá bỏ mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng,
Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Trên hướng Biển Đông, các hoạt động xâm
phạm chủ quyền, lãnh thổ của nước ta từ phía Trung quốc - nhất là việc Trung
quốc hạ đặt trái phép giàn khoan hải dương nước sâu 981 trong vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa nước ta vừa qua làm cho tình hình an ninh, an toàn hàng
không, hàng hải trên Biển Đông và khu vực Châu Á Thái Bình Dương ngày
càng phức tạp tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường. Tất cả tình hình đó đòi hỏi
chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác, không ngừng chăm lo, củng cố, tăng
cường sức mạnh quốc phòng, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng CNXH và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa…
Thực tế đó đòi hỏi các đơn vị trong toàn quân cần phải tập trung nâng cao
tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết.
Muốn xác định đúng những chủ trương, biện pháp trong nghị quyết thì
từng tổ chức đảng, cấp uỷ đảng phải quán triệt tốt phương hướng nhiệm vụ mà
nghị quyết của cấp trên đề ra, coi đây là cơ sở nền tảng quan trọng nhất, đồng
thời căn cứ tình hình nhiệm vụ và những đặc điểm liên quan đến việc thực hiện
nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Những chủ trương, biện pháp (nghị
quyết) lãnh đạo nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu phải cụ thể thiết thực, đặt ra những
yêu cầu phấn đấu cao nhưng không xa rời thực tế; vừa đúng ý định của cấp trên,
18
vừa phù hợp với hoàn cảnh mọi mặt của đơn vị và xu thế phát triển của nhiệm
vụ và tình hình khách quan. Quá trình sinh hoạt thảo luận để ra nghị quyết lãnh
đạo phải chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách; tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện
độc đoán, gia trưởng, coi thường vai trò tập thể.
Sau khi thống nhất chủ trương, biện pháp lãnh đạo nhiệm vụ sẵn sàng
chiến đấu, các tổ chức đảng, cấp uỷ đảng phải nhanh chóng triển khai thực hiện
nghiêm nghị quyết đề ra. Cần phân công rõ ràng cho đảng viên, cấp uỷ viên.
Quá trình thực hiện nhiệm vụ các tổ chức đảng phải thường xuyên làm tốt công
tác kiểm tra để kịp thời phát hiện những bất cập trong nghị quyết, những biến
đổi của tình hình hoặc sai sót, lệch lạc trong thực hiện chức trách nhiệm vụ của
đảng viên cũng như quần chúng để bổ sung, uốn nắn làm cho nghị quyết thêm
sát đúng, hiệu quả trong thực tiễn càng cao; hoặc thông qua công tác kiểm tra để
đánh giá kết quả thực hiện của từng đơn vị, từng cá nhân đối với nhiệm vụ sẵn
sàng chiến đấu làm cơ sở bình xét khen thưởng gương điển hình từ đó nhân rộng
điển hình tiên tiến.
Thứ hai, đối với tổ chức chỉ huy
Trong quân đội, người chỉ huy các cấp được Đảng, Nhà nước, quân đội,
cấp trên giao cho quyền quản lí, chỉ huy điều hành mọi hoạt động của bộ đội
năng lực tiến hành CTĐ,CTCT nói chung và trong nhiệm vụ SSCĐ nói riêng
trong đơn vị. Mặt khác, mỗi người chỉ huy phải tự giác rèn luyện bản thân
mình có tác phong làm việc khoa học, mọi việc làm theo kế hoạch; đồng thời
hàng ngày phải thường xuyên đi sâu bám sát cơ sở, phát huy dân chủ, biết lắng
nghe những ý kiến hay của cấp dưới, của quần chúng. Bản thân người chỉ huy
phải có đức tính cầu thị, quyết đoán, dám nhận và sửa chữa khuyết điểm khi
mình có lỗi... Mỗi người chỉ huy phải thực sự là tấm gương sáng, mẫu mực, tiêu
biểu về mọi mặt, đây sẽ là một biện pháp sát thực, gần gũi, trực tiếp góp phần
nâng cao hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ ở đơn vị cơ sở.
Người chỉ huy các cấp, cần thường xuyên duy trì và giữ vững mối quan hệ
đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau giữa các thành viên trong ban chỉ huy và với cán
bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Đồng thời, trong từng thời gian, người chỉ huy cần duy
20
trì có nề nếp các chế độ hoạt động, công tác của đơn vị, đặc biệt các chế độ sinh
hoạt, hội họp, giao ban, phản ánh, kiểm tra. Chính qua những hoạt động thực
tiễn này, cũng sẽ là biện pháp trực tiếp bồi dưỡng nâng cao hoạt động CTĐ,
CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ ở đơn vị cơ sở trong tình hình hiện nay.
Thứ ba, đối với cơ quan chính trị
Là cơ quan đảm nhiệm CTĐ,CTCT ở trong mỗi đơn vị cơ sở. Cơ quan
chính trị các cấp trong quân đội hoạt động đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của
đảng uỷ cùng cấp và sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan chính trị cấp trên. Cơ quan
chính trị có chức năng cơ bản, làm tham mưu giúp cho cấp ủy đảng đề ra những
chủ trương, biện pháp về CTĐ,CTCT và trực tiếp tiến hành CTĐ,CTCT trong
phạm vi đơn vị đảm nhiệm.
Để phát huy vai trò của cơ quan chính trị đối với việc nâng cao hoạt động
CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ ở đơn vị cơ sở, cơ quan chính trị các cấp
cần thường xuyên được củng cố, kiện toàn về chất lượng, số lượng. Cán bộ
trong cơ quan chính trị phải có kiến thức toàn diện, có kinh nghiệm tiến hành
SSCĐ. Ngược lại, nếu nhận thức không đầy đủ, không đúng đắn hoạt động CTĐ,
CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ sẽ không phát huy được vai trò trách nhiệm của chủ
thể, các lực lượng trong lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu những chủ trương biện pháp lãnh
đạo đồng bộ, tổ chức thực hiện nhiệm vụ SSCĐ sẽ bị động, lúng túng, nhất là trong
sử lý các tình huống sảy ra. Vì thế nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ
thể, các lực lượng tham gia hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ là một
trong những giải pháp quan trọng hàng đầu, quyết định đến chất lượng, hiệu quả
thực hiện nhiệm vụ SSCĐ ở các đơn vị hiện nay.
Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, các lực lượng tham
gia hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ cần tập trung vào một số nội
dung, biện pháp sau:
Một là, quán triệt cho chủ thể và lực lượng tham gia nhận rõ vai trò, yêu
cầu, nội dung của CTĐ, CTCT trong SSCĐ
Thường xuyên quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa IX) và
sự phát triển của Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) “về chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới”, chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu số 82/CL-BQP ngày
22
14/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, quan điểm của Đảng về tăng cường
quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN theo tinh thần
Đại hội IX, X, XI, làm cho các chủ thể, các lực lượng nhận thức đúng đắn, đầy
đủ vai trò, yêu cầu, nội dung của CTĐ,CTCT trong SSCĐ và việc nâng cao hiệu
lực CTĐ,CTCT trong SSCĐ nói riêng và đối với sự nghiệp xây dựng, chiến đấu
của quân đội và từng đơn vị nói chung. Trên cơ sở đó các chủ thể, các lực lượng
tham gia hoạt động CTĐ, CTCT phải xác định trách nhiệm, nâng cao trình độ,
năng lực để xem xét, xử lý đúng đắn mọi sự tác động theo hướng bảo đảm cho
hoạt động CTĐ,CTCT luôn bám sát các đối tượng và tình hình thực tiễn, đồng
thời bảo đảm cho các đối tượng dù trong hoàn cảnh nào và có những đặc điểm gì
cũng đều phải thống nhất tuân thủ đường lối, quan điểm của Đảng, nhiệm vụ của
quan điểm của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, tình hình mọi mặt của đơn
vị, đề xuất với đảng ủy những nội dung, biện pháp sát, đúng lãnh đạo thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ và tiến hành CTĐ,CTCT trong SSCĐ. Bồi dưỡng nâng cao
phẩm chất, năng lực của chủ thể và các lực lượng tham gia hoạt động CTĐ,
CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ. Trên cơ sở bồi dưỡng toàn diện cần chú ý nâng
cao năng lực quán triệt cụ thể hoá nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và đảng ủy cấp
mình thành kế hoạch CTĐ,CTCT và triển khai thực hiện; bồi dưỡng phương
pháp nắm, phân tích, đánh giá đúng đắn mọi âm mưu diễn biến của địch, của
tình hình làm cơ sở xử lý kịp thời, chính xác những vấn đề nảy sinh. Nâng cao
năng lực đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng hiện nay cũng như đấu tranh
chống mọi biểu hiện tiêu cực, thoái hoá trong quân đội nói chung và từng đơn vị
nói riêng. Nâng cao năng lực tuyên truyền, vận động nhân dân và tổ chức làm
công tác dân vận, góp phần giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với
nhân dân, giữ vững ổn định chính trị của đất nước và địa bàn đóng quân.
Hình thức bồi dưỡng là thông qua hoạt động lãnh đạo, sinh hoạt chính
quyền, sinh hoạt các tổ chức, thông qua hội nghị giao ban, sơ tổng kết CTĐ,
CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ để giáo dục quán triệt, tạo sự thống nhất về nhận
thức, phát huy tinh thần trách nhiệm, tính tích cực, chủ động của các chủ thể,
các lực lượng đối với hoạt động CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ. Đồng
24
thời, thông qua quá trình hoạt động bồi dưỡng phát huy sức mạnh của mọi tổ
chức, mọi lực lượng, kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và chính
sách, có bước đánh giá chính xác nhận thức, trách nhiệm của từng tổ chức, lực
lượng, từng cá nhân để có biện pháp cổ vũ, động viên, biểu dương, kịp thời,
qua đó phát hiện khắc phục những biểu hiện nhận thức lệch lạc, không đầy đủ,
đúng đắn trong công tác này.
2.3. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ
hình thức, biện pháp ngày càng hấp dẫn hơn và đạt đến trình độ nghệ thuật hoạt
động, bảo đảm tính thuyết phục, qua đó nâng cao hiệu lực CTĐ,CTCT trong
nhiệm vụ SSCĐ phù hợp với thực tiễn quân đội và đơn vị.
Thứ hai, Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc đổi mới nội
dung, hình thức, biện pháp CTĐ,CTCT trong nhiệm vụ SSCĐ trong phạm vi
đơn vị mình. Cơ quan chính trị, cán bộ chính trị cần chủ động nghiên cứu, đề
xuất với lãnh đạo, chỉ huy theo yêu cầu đổi mới; tích cực hướng dẫn, kiểm tra
thực hiện đến từng đối tượng; theo dõi, nắm chắc tình hình, kịp thời giúp lãnh
đạo, chỉ huy rút kinh nghiệm, bảo đảm cho quá trình đổi mới được liên tục và
ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu đề ra. Các chủ thể khác cần đề cao trách
nhiệm thực hiện việc đổi mới nội dung, hình thức CTĐ,CTCT trong nhiệm vụ
SSCĐ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, cán bộ chủ trì, sự hướng dẫn của cơ
quan chính trị; có kế hoạch hoạt động phù hợp với cương vị, chức trách được
giao, góp phần tích cực vào kết quả chung.
Thứ ba, Cần thống nhất ở các cấp quan niệm về đổi mới nội dung, hình
thức, biện pháp CTĐ,CTCT, không nhất thiết phải có nội dung, hình thức, biện
pháp khác những gì chúng ta đang làm mới là đổi mới (nếu khác mà đúng đắn
và đem lại hiệu qủa thì tốt); nhưng điều quan trọng là những gì chúng ta đang
làm phải thường xuyên phù hợp và đáp ứng với yêu cầu thực tiễn ở từng nơi và
từng đối tượng. Trên cơ sở đó từng cấp, từng đơn vị cần chú trọng phát huy tốt
tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của các chủ thể CTĐ,CTCT ở đơn vị mình,
nhất là trong trong nhiệm vụ SSCĐ. Các hoạt động đổi mới cần bảo đảm huy