CHUYÊN ĐỀ THĂM DÒ CHỨC NĂNG
CÁC PHƯƠNG PHÁP
ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG
HDKH:
NTH:
THÔNG KHÍ CỦA
MŨI
TS.QUÁCH THỊ CẦN
NGUYỄN QUỐC DŨNG
PGS.TS.NGUYỄN TƯ THẾ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mũi hoạt động để cung cấp độ ẩm và
điều hòa không khí của khí hít vào,cũng
như chức năng bảo vệ thông qua lông
chuyển qua việc lọc và tiết của lysozym
cùng với globulin miễn dịch.
Khi luồng không khí không bị cản trở ,thông
khí mũi cho phép chất thơm tác động qua
lại với biểu mô khứu giác, do đó cung cấp
cho con ngườ i cảm nhận mùi vị.
Điều này có lẽ bởi những nổ lực để đo thông
khí mũi thất bại không tương quan với quá
trình bệnh học mà được quan sát trong mũi.
Hiện tại ở Việt nam các phươ ng tiện đánh
giá thông khí mũi rất nghèo nàn, chủ yếu
dựa trên cách đánh giá thô sơ là gương
Glatzel.Ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng mới
ứng dụng khí áp kế mũi trong vài năm gần
đây. Qua chuyên đề “Các phương pháp
đánh giá chức năng thông khí của mũi”
chúng tôi đề ra mục tiêu :
-Tìm hiểu các phươ ng pháp đánh giá các
chức năng thông khí của mũi.
1.ĐO THÔNG KHÍ MŨI
BẰNG GƯƠNG GLATZEL
Gươ ng glatzel cổ điển: do giáo sư Jan
Glatzel (1888 – 1954) sáng kiến năm 1904 và
Dr. Gerhard Hutchison Cocks, New York City
cải tiến lại năm 1915 sau đó áp dụng rộng
rải [8]
Cách đo gương Glatzel: không đo khi bệnh
nhân đang uống alcoholic, nhiệt độ phòng
từ 22 đến 24oC, độ ẩm từ 50 đến 65%
Cách để gươ ng giống như hình dướ i: để
gươ ng sát cưa mũi và song song với hai lổ
mũi trướ c, bảo bệnh nhân thở đều ra hai
mũi và ghi nhận kết quả theo kích thướ c
đã có trên gương
Đánh giá số đo trên gươ ng
glatzel:
- Thở quá thông- vệt mờ gươ ng : ≥ 9 cm
- Thở thông bình thườ ng- vệt mờ gươ ng :
≥ 6 ≥ 9 cm
- Ngh≥t nh≥ - v≥t m≥ g≥≥ng : ≥ 3 ≥ 6 cm
- Nghẹt nặng- vệt mờ gươ ng : < 3 cm
Hơn nữa, các bệnh phổi cũng ảnh hưở ng
đến kết quả đo lườ ng PNIF do sự gắng
sức thở ra.
Những vấn đề kỹ thuật như là sự bóp méo cánh
mũi do áp lực cung cấp cần thiết để bịt kín mặt
nạ và cánh mũi sụp xuống ở tỉ lệ luồng khí cao,
cũng như tính thay đổi hàng ngày và tính lập lại
kém, tạo cho kỹ thuật này không đáng tin cậy cho
sư dụng hàng ngày.
Sự nổ lực của vận động hít vào và thở ra ép buộc
cũng đã đượ c trình bày để hành động như một
máy kích thích đối với mũi trong một vài bệnh
nhân viêm mũi, điều này gây nên một gia tăng
trong trở kháng mũi.
Như với những phươ ng pháp đo khác, sự tươ ng
này không đượ c áp dụng mãi cho đến
năm 1970, và đượ c dùng lần đầu tiên
trong lĩnh vực y khoa để thực hiện đo
lườ ng đườ ng hô hấp
Sóng âm đượ c chuyển vào hốc mũi và
đượ c phản hồi lại , sau đó sẽ đượ c
chuyển thành các tín hiệu kỹ thuật số, và
sau đó sẽ thiết lập nên biểu đồ sóng âm
mũi (rhinogram). Biểu đồ này cho ta cấu
trúc giải phẫu 2D của đườ ng mũi.
Dấu chữ V đầu tiên đại diện cho vale mũi và
thườ ng là mặt phẳng cắt ngang nhỏ nhất (Minimal
Cross-sectional area =MCA) của mũi.
Dấu chữ V thứ 2 đại diện cho đầu trướ c của cuốn
mũi dướ i hoặc cuốn mũi giữa.
Dấu chữ V thứ 3 đại diện cho phần giữa/ hoặc sau
của cuốn giữa [41].
thuật dùng CT để đánh giá thể tích mũi
(CT Volumetry) đượ c cho là kỹ thuật hình
ảnh tốt nhất để đánh giá khoang mũi và
cấu trúc xoang kế cạnh qua việc sủ dụng
test ảo (phantom test) cho thấy chỉ có sai số
1% ở môi lát cắt so với toàn bộ thể tích
thực.
Chính vì lý do đó, Dastidar và cộng sự [37],
[44] đã thực hiện nghiên cứu vào năm 1999
để so sánh 48 hốc mũi bị nghẹt mũi bằng
phươ ng pháp AR/ CTV. MCAs và môi thể
tích đượ c đo lườ ng và so sánh với nhau.
Kết quả đo lườ ng thể tích đượ c ghi nhận
là có sự tươ ng quan mạnh mẽ với (p