Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu
trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp tỉnh Yên Bái giai đoạn 2015-2025
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Biến đổi khí hậu
: BĐKH
Chương trình hỗ trợ phát triển Liên Hiệp Quốc
: UNDP
Cơ chế phát triển sạch
: CDM
Đầu tư phát triển
: ĐTPT
Đồng bằng sông Hồng
: ĐBSH
Đồng bằng Bắc Bộ
: ĐBBB
Hợp tác xã
Sự nghiệp kinh tế
: SNKT
Thành phố
: TP.
Tài nguyên và Môi trường
: TN&MT
Ủy ban nhân dân
: UBND
A. MỞ ĐẦU
I.
GIỚI THIỆU
Việt Nam là một trong những nước sớm tham gia ký kết và phê chuẩn Công ước
Khung của Liên hợp quốc và Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu.
Đối với Việt Nam, Công ước có hiệu lực từ ngày 14/2/1995, Nghị định thư Kyoto có
hiệu lực từ ngày 16/2/2005. Như vậy, từ ngày 16/2/2005, Việt Nam chính thức là một Bên
không thuộc Phụ lục I của Công ước và Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu, có đầy
đủ quyền hạn, nghĩa vụ của một Bên trong quá trình thi hành cam kết của mình về thích
ứng và giảm nhẹ với biến đổi khí hậu. Vì vậy việc biên soạn khung kế hoạch hành động
thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu rất cần thiết giúp các ngành, các cấp có định
21 của Việt Nam);
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ Tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung
kinh phí năm 2010 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi
khí hậu;
- Thông tư liên tịch số 07/2010/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT ngày 15/3/2010 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Hướng dẫn quản
lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2009 - 2015;
- Công văn số 3815/BTNMT-KTTV biến đổi khí hậu ngày 13/10/2009 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó
với biến đổi khí hậu;
- Công văn số 3996/BTNMT-KTTV biến đổi khí hậu ngày 04/10/2010 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ năm 2010 của
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi
trường công bố tháng 6 năm 2009;
- Quyết định số 116/2006/QĐ-TTg ngày 26/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái đến năm 2020.
- Nghị quyết số 10/2009/NQ-HĐND ngày 17/7/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Yên
Bái về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Yên Bái thời kỳ 2006 – 2020;
III.
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Vị trí địa lý
Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là 1 trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc,
tích tự nhiên toàn tỉnh.
Địa khối Hoàng Liên Sơn - Phú Luông:
- Địa hình kiểu cổ: là các bán bình nguyên đã trải qua nhiều thời kỳ xâm thực bóc mòn
tạo thành các bậc thềm núi độ cao trung bình từ 1.300÷2.100 m, có bề mặt gợn sóng, độ
dốc lớn, thường có hiện tượng kasrt tạo nên các “phễu” hút nước, có mạch nước ngầm
sâu, gây mất nước, dẫn đến thiếu nước cho động thực vật
- Địa hình thứ sinh: Phía đông Hoàng Liên Sơn là một hệ thống đồi núi cao, bị chia cắt
mạnh, có độ cao từ 200÷1.500m, độ dốc lớn từ 40÷50 0. Xen kẽ các dãy núi cao, đồi thấp
là địa hình các thung lũng do sông bồi đắp và bồn địa tương đối bằng phẳng tạo các cánh
đồng, bãi rộng thuận lợi cho trồng cây lượng thực, cây công nghiệp ngắn ngày và dài
ngày.
- Địa khối Phú Luông: Nằm trong cùng một kiểu kiến trúc địa hình với Hoàng Liên
Sơn, song tương đối thuần nhất. Dạng địa hình là núi thấp, đồi cao bồn địa. Dạng địa hình
này thuận lợi cho cây lâm nghiệp, cây công nghiệp…
Địa khối núi Con Voi:
Là đường phân thuỷ giữa sông Hồng và sông Chảy, có hướng núi chủ đạo là tây bắc đông nam. Là địa hình núi cổ gồm hệ thông núi thấp, đồi cao, đỉnh khum tròn có sườn
dốc, đồi có sườn thoải có nét đặc trưng của địa hình trung du. Đồi núi chủ yếu là đồi núi
đất, dọc theo sông Hồng, sông Chảy và các suối lớn là các cánh đồng, bờ bãi khá rộng,
tương đối bằng phẳng thuận lợi cho trồng cây nông nghiệp và cây công nghiệp
Địa khối đông nam dãy Phu Sa Phìn:
Nằm trong cùng địa hình Hoàng Liên Sơn - Pú Luông, hướng núi chủ đạo là tây bắc đông nam, địa hình thấp dần về phía đông nam, núi cao và sườn dốc mạnh.
Địa khối phân cực bắc vùng đồi châu thổ Bắc Bộ:
Là vùng chuyển tiếp vùng đồi trung du (Phú Thọ) lên vùng cao Hoàng Liên Sơn, mang
đặc điểm kiểu địa hình trung du, có các dạng địa hình đồi bát úp đỉnh tròn, sườn dốc thoải
nằm trong thung lũng sông Hồng, sông Chảy. Dãy đồi làn sóng trong thung lũng sông
Hồng, sông Chảy nên có những cánh đồng tương đối rộng, bằng phẳng, đồi thoải thấp rất
thuận lợi cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả.
- Vùng phía đông: đặc điểm khí hậu vùng này là ảnh hưởng của gió mùa đông bắc,
mưa nhiều về cả số ngày và lượng mưa. Mưa phùn kéo dài ở khu vực Thành phố Yên Bái
và Trấn Yên. Nhiệt độ trung bình 21-220C, lượng mưa 2000mm/năm. Có thể chia làm hai
tiểu vùng sau:
+ Tiểu vùng nam Trấn Yên - Văn Yên - Thành phố Yên Bái - Ba Khe: thuộc thung
lũng sông Hồng dưới chân hệ thống núi Hoàng Liên - Pú Luông, nhiệt độ trung bình 23240C, lượng mưa 1800-2200mm/năm và là vùng có mưa phùn kéo dài trong thời kỳ đầu
năm.
+ Tiểu vùng Lục Yên - Yên Bình: thuộc thung lũng sông Chảy - hồ thác Bà, là vùng có
diện tích mặt nước tỉnh. Vùng có khí hậu ôn hoà có điều kiện thuận lợi phát triển nông
lâm nghiệp, thuỷ sản và du lịch.
Điều kiện thời tiết, khí hậu
Do vị trí địa lý khá đặc biệt, nên Yên Bái mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió
mùa, do ảnh hưởng của địa hình miền núi nên tính chất gió mùa bị biến đổi khác biệt đó
là mùa đông bớt lạnh và hơi khô, mùa hè oi bức.
Nhiệt độ trung bình năm là 22-23oC, lượng mưa trung bình từ 1.500-2.000 mm/năm,
độ ẩm cao từ 83- 87%, thảm thực vật xanh tốt quanh năm.
Các mùa trong năm
Khí hậu Yên Bái chia làm hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh:
- Mùa lạnh: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, vùng thấp lạnh kéo dài từ 115-125 ngày,
vùng cao mùa lạnh đến sớm và kết thúc muộn hơn vùng thấp. Vùng cao từ 1500m trở lên
hầu như không có mùa nóng, nhiệt độ trung bình ổn định dưới 20 oC, cá biệt có lúc nhiệt
độ xuống dưới 0oC, có sương muối, băng tuyết. Ở đây thường bị hạn hán vào đầu mùa
lạnh (tháng 12, tháng 1), cuối mùa thường có mưa phùn điển hình là Thành phố Yên Bái,
các huyện Trấn Yên và Yên Bình.
- Mùa nóng: kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Đây là thời kỳ nóng ẩm, nhiệt độ trung
bình ổn định trên 25oC, tháng nóng có nhiệt độ 35oC-37oC, mùa nóng cũng chính là mùa
mưa nhiều, lượng mưa trung bình 1.500-2.200mm/năm và thường kèm theo gió xoáy,
mưa đá gây ra lũ quét và ngập lụt. Sự phân bố mưa, lượng mưa tuỳ thuộc vào địa hình và
nặng nề cho mùa màng, tính mạng và tài sản của nhân dân. Nhiều công trình giao thông,
thuỷ lợi, trường học bệnh viện, nhà ở cũng bị phá huỷ và hư hại nghiêm trọng. Đặc biệt
mùa mưa năm 2010 lũ lụt nghiêm trọng xảy ra tại Yên Bái đã làm chết và mất tích nhiều
người, thiệt hại vật chất lên đến hàng ngàn tỷ đồng.
Chế độ nhiệt
Nhiệt độ bình quân giữa các vùng trong tỉnh thay đổi theo từng tháng trong năm. Năm
2007 nhiệt độ bình quân tại trạm Yên Bái là 23,5 oC, trạm Văn Chấn là 23,1oC và trạm Mù
Cang Chải là 19,8oC. Càng lên cao nhiệt độ càng giảm, các vùng thấp thuộc thung lũng
sông Hồng, sông Chảy có nhiệt độ cao trên 23 oC. Nhiệt độ cao nhất là vào tháng 5 đến
tháng 9 (từ 27,5oC - 29oC), nhiệt độ thấp nhất tháng 12 đến tháng 3 năm sau (từ 17 oC 20.4oC). Các xã vùng thấp của các huyện Văn Chấn, Mù Cang Chải và các xã vùng cao
của huyện Văn Yên có nhiệt độ bình quân đạt 18 oC-23oC, vùng có nhiệt độ bình quân
dưới 19oC là các xã vùng cao của các huyện Trạm Tấu, Văn Chấn, Mù Cang Chải.
Nhiệt độ mặt đất trung bìnhcủa các tháng luôn cao hơn nhiệt độ không khí và cũng
thay đổi theo độ cao, càng lên cao nhiệt độ càng thấp.
Chế độ ẩm
Theo số liệu khí tượng thì năm 2009 Yên Bái có độ ẩm tương đối trung bình cả năm ở
trạm Yên Bái là 85%, Văn Chấn là 83%, Mù Cang Chải là 81%. Sự chênh lệch về độ ẩm
giữa các tháng trong năm và giữa các vùng trong tỉnh là không lớn, từ 3-5%. Càng lên
cao độ ẩm tương đối càng giảm. Độ ẩm giữa các tháng có sự chênh lệch do phụ thuộc vào
lượng mưa và chế độ bốc hơi. Tháng có độ ẩm thấp nhất là 11,12,1 với độ ẩm từ 80-85%.
tháng có độ ẩm cao nhất là các tháng 6,7,8 với độ ẩm từ 80-85%.
Yên Bái là tỉnh nằm sâu trong nội địa, có nhiều sông suối, hồ ao, đặc biệt do chịu ảnh
hưởng của hồ Thác Bà nên lượng mưa hàng năm lớn, độ ẩm tương đối cao so với các tỉnh
khác trong vùng nên thảm thực vật xanh tốt quanh năm, thế hiện rất rõ chế độ khí hậu
nhiệt đới gió mùa.
Lượng mây, giờ nắng
- Lượng mây trung bình các tháng và trong năm có sự chênh lệch giữa các tháng trong
năm và các vùng trong tỉnh. Vùng có lượng mây lớn là các huyện Trấn Yên, Yên Bình,
Do điều kiện địa hình đồi núi dốc mạnh, lượng mưa lớn và tập trung đã tạo cho Yên
Bái một hệ thống sông, suối khá dày đặc, có tốc độ dòng chảy lớn và lưu lượng nước thay
đổi theo mùa. Mùa khô nước cạn, mùa mưa dễ gây lũ lụt lớn ở các vùng ven sông, suối.
Hệ thống sông ngòi được hình thành từ các lưu vực chính: sông Hồng, sông Chảy, ngòi
Thia và vùng hồ Thác Bà.
- Sông Hồng: bắt nguồn từ dãy núi Nguy Sơn, cao 1.766m ở tỉnh Vân Nam, Trung
Quốc, chảy qua tỉnh Yên Bái theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Các chi lưu của sông
Hồng ở địa phận Yên Bái đều ở hữu ngạn và bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên - Pú Luông
như ngòi Thi, ngòi Bo, ngòi Hút… Sông Hồng chảy qua các huyện Văn Yên, Trấn Yên,
Thành phố Yên Bái. Lưu lượng nước sông Hồng thay đổi thất thường, mùa khô lưu lượng
xuống quá mức so với trung bình, gây ra tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp
và đời sống nhân dân.
Trong mùa mưa, lưu lượng và mực nước tăng nhanh, nước lũ tràn về đột ngột gây ra
tình trạng ngập lụt, thiệt hại mùa màng và các công trình thuỷ lợi, giao thông. Với chu kỳ
50-60 năm thường có những trận lũ lụt đột ngột đổ về tàn phá nhà cửa, ruộng nương hai
bên bờ sông. Điển hình là trận lụt lịch sử vừa xảy ra tại Yên Bái tháng 8/2008.
Sông Hồng phát nguyên và và chảy qua vùng đất đỏ, đá vôi, đá biến chất và vùng trầm
tích nên những cánh đồng phù sa bồi đắp hai bên sông Hồng ở các vùng thấp như Văn
Yên, Trấn Yên, Thành phố Yên Bái rất màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng.
- Sông Chảy: bắt nguồn từ dãy núi Tây Côn Lĩnh cao 2410m của tỉnh Hà Giang chảy
về Yên Bái qua hai huyện Lục Yên và Yên Bình rồi nhập vào sông Lô, sông Chảy theo
hướng tây bắc - đông nam, các chi lưu chính nằm ở phía tả ngạn như ngòi Biệc, ngòi Đại
Kại nằm ở hạ lưu sông Chảy thuộc huyện Lục Yên đã trở thành lòng hồ Thác Bà. Vùng
thượng lưu của sông Chảy đoạn qua huyện Lục Yên nước chảy xiết, nhiều ghềnh thác,
modun dòng chảy bình quân là 30,5lit/giây/km2. Mực nước bình quân các tháng trong
năm đo tại trạm Long Phúc là 67,26m. Lưu lượng và mực nước sông Chảy biến đổi thất
thường gây ra hiện tượng vào mùa khô mưa ít, lưu lượng nước sông thấp làm khô hạn
nhiều diện tích đất canh tác. Mùa mưa lưu lượng nước sông lớn, tốc độ dòng chảy mạnh
gây ngập lụt, phá hoại mùa màng, gây nhiều thiệt hại về người và của. Do bắt nguồn và
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
TB
96
140
9
-173
-123
-165
-139
-100
-168
-60
-197
4
10
30
68
110
244
-98
-52
-90
-19
-109
Sông Hồng
Độ
lệch
(+)
Độ lệch (-)
Sông Chảy
Độ
lệch
(+)
Độ lệch (-)
Nguồn: Niên gián thống kê tỉnh Yên Bái năm 2009
Ngoài ra, Yên Bái còn có nhiều hệ thống sông ngòi nhỏ khác có lòng hẹp, độ dốc lớn,
chiều dài nhỏ, mực nước thay đổi thất thường, khô hạn về mùa khô và dễ gây lũ lụt về
mùa mưa.
Hệ thống ao hồ: các ao hồ lớn của tỉnh Yên Bái phần lớn nằm ở các huyện Yên Bình,
Lục Yên, Trấn Yên. Trong đó các đầm lớn tự nhiên phân bố ở các xã Giới Phiên, Hợp
Minh, Minh Quân, chúng có nguồn gốc là dòng cũ của sông Hồng. Các đầm hồ nhân tạo
lớn nhất là hồ Thác Bà trên sông Chảy rộng 19.050 ha có sức chứa 3–3,9 tỷ m³, được
hình thành do việc đắp đập làm thuỷ điện.
nguyên đất, dẫn đến tình trạng thoái hoá đất, sử dụng không hiệu quả.
5.2 Tài nguyên nước
* Nước mưa
Yên Bái thuộc vùng có lượng mưa trung bình, hàng năm có lượng mưa bình quân
trong toàn tỉnh là 1.864 mm với tổng lượng nước mưa là 13 tỷ m3 nhưng lượng nước
mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian. Theo số liệu của cơ quan khí tượng
thuỷ văn tỉnh thì tổng lượng mưa trung bình năm của 10 năm trở lại đây ở trạm Yên Bái
là 17.517mm, ở trạm Lục Yên 18.042mm, ở Mù Cang Chải là 17.454mm.
- Về thời gian: Yên Bái có 2 mùa rõ rệt: 80% lượng nước mưa tập trung vào 4 tháng
mùa mưa (từ tháng VI đến tháng IX) gây nên nhiều trận lũ lụt ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế và đời sống nhân dân. Còn lại 20% tổng lượng nước mưa ở 8 tháng mùa khô
(từ tháng X đến tháng V năm sau) nên không đáp ứng được nhu cầu dùng nước của các
ngành kinh tế đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt của đồng bào các dân
tộc vùng cao.
- Về không gian: Yên Bái có nhiều tiểu vùng: Vùng có lượng mưa lớn nhất tỉnh là
vùng hạ huyện Trấn Yên, điển hình là Minh Quân có lượng mưa lớn nhất là 2.634
mm/năm. Vùng có lượng mưa nhỏ nhất là thung lũng huyện Văn Yên điển hình là Trái
Hút có lượng mưa nhỏ nhất là 975 mm/năm.
Do lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm vào những tháng
mùa khô lượng mưa trung bình chỉ đạt 52,5mm/tháng nên thường xảy ra tình trạng hạn
hán, thiếu nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân. Nước mưa là nguồn nước
quan trọng tại các vùng gặp khó khăn nguồn nước mặt, nước ngầm.
* Nước mặt
Hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Chảy, đều chảy theo hướng Tây Bắc Đông Nam. Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy còn khoảng 200 ngòi,
suối lớn nhỏ cùng hệ thống hồ đầm.
+ Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), chiều dài chảy qua tỉnh Yên Bái là
115 km. Các phụ lưu của sông Hồng trên địa phận Yên Bái, có tới 50 ngòi, có tổng diện
tích lưu vực là 2.700 km2. Lớn nhất là ngòi Thia, diện tích lưu vực 1.570 km 2, sau đó là
địa Văn Chấn, Lục Yên. Chúng có đặc điểm rừng kín, mật độ cao. xanh tốt quanh năm,
phần lớn là rừng thứ sinh, tầng ưu thế sinh thái không khép tán, cây thân gỗ, nhiều dây
leo chằng chịt, có nhiều tầng nhưng phân bố không rõ. Thành phần thực vật chủ yếu gồm
các cây họ sấu, trò xanh, sến, táu, sui, đây leo có song, mây, dưới tán rừng còn có cây họ
chuối, ráy, hoàng tinh.
Do quá trình chặt phá, khai thác, con người đã chặt đốn cây làm nương rẫy nên rừng ở
đây đã mất tính phát triển đồng đều như thực vật vùng núi cao nên phần lớn rừng ở đây
đã chuyển thành rừng cây thấp, cây tạm hoặc trảng cỏ thứ sinh. Đất đá có biểu hiện xói
mòn về mùa mưa, mùa khô bị hạn, tỷ lệ mùn trong đất thấp.
5.3.2 Vành đai rừng á nhiệt đới vùng núi cao trung bình (700-1800m)
Phân bố ở các khu vực đồi núi như đỉnh núi Con Voi, các bậc thềm của vùng núi cao ở
huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải. Vành đai này có đặc điểm là thành phần khá
đơn giản so với vành đai vành đai rừng nhiệt đới, bao gồm các cây thấp, cây bụi và ít
thảm cỏ xanh.. Đặc biệt ở đây dây leo cũng ít hẳn và thường ngắn, nhỏ chỉ quấn quanh
cây thân gỗ, thực vật phụ sinh phát triển mạnh bám vào cành lá cây khác ở trên tất cả các
tầngvà cả trên mặt đất, phần lớn là họ dương xỉ, họ lan, họ giáy…Cây rừng chủ yếu là
sồi, dẻ…các cây dược liệu như tam thất, đương quy, hoàng bá, đỗ trọng…Ngoài ra tại
khu vực này đồng bào còn phá rừng làm nương rẫy trồng các loại cây ngắn ngày như
ngô, sắn và làm ruộng bậc thang để trồng lúa nước, đặc biệt tại các huyện Trạm Tấu và
Mù Cang Chải.
5.3.3 Vành đai rừng cận nhiệt đới núi cao (trên 1700m)
Phân bố ở vùng núi cao thuộc dãy Hoàng Liên – Pú Luông, Phu Sa Phìn, Phu Chiêm
Ban.Vành đai rừng này có đặc điểm là quần thể thực vật mang nhiều tính đặc trưng của
thực vật vùng ôn đới. Đây là rừng hỗn giao giữa cây lá rộng như sồi, dẻ, đỗ quyên và cây
lá kim như pơ mu, sa mộc, thông, liễu sam. Rừng thường có một hoặc hai tầng, trên thân,
cành và cả mặt đất thường có rêu, dương xỉ, địa y mọc thành lớp dày.
Ngoài 3 vành đai rừng chính nói trên, thản thực vật ở Yên Bái còn có các kiểu rừng
sau:
2007
- Trồng rừng tập trung
Ha
13.361
13.373
- Trồng cây phân tán
Ha
752
755
- Chăm sóc rừng
Ha
16.424
18.560
- Tu bổ rừng
Ha
709,2
Nguồn: Niên gián thống kê Tỉnh Yên Bái 2009
5.4 Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản nhiên liệu:
Than đá: Hiện có 3 điểm quặng trong trầm tích điệp suối Bàng thuộc địa phận Văn
Chấn, ít có khả năng khai thác sử dụng do chất lượng kém.
Than nâu: có 10 trong trầm tích neogen dọc sông Hồng, sông Chảy, trong đó có 2 điểm
được điều tra khai thác là Hồng Quang và Hoàng Thắng. Nhìn chung các điểm than đều
có quy mô nhỏ, chất lượng kém, không có triển vọng.
Than bùn: Có ở Phù Nham huyện Văn Chấn, trữ lượng 103.832 tấn, trong than chứa
mùn, đạm, phốt pho, kaly cao. có khả năng khai thác làm phân vi sinh tốt; ngoài ra có ở
núi Lịch.
Khoáng sản kim loại:
Sắt: Có tới 32 điểm quặng và mỏ, tập trung ở 2 vùng chính là Đại Sơn - Văn Yên; làng
Mỵ - Văn Chấn. Các mỏ vùng Đại Sơn có trữ lượng trên 20 triệu tấn. Quặng sắt ở xã An
Thịnh - Văn Yên có hàm lượng Fe = 32- 67%, trữ lượng 1,5 triệu tấn.
Đồng: có ở Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên đang được tiếp tục khảo sát.
Chì- kẽm: Có ở Tú Lệ - Văn Chấn; Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Yên Bình.
Vàng: Vàng gốc được phát hiện cùng với đồng ở Văn Yên, Văn Chấn, hiện đang được
điều tra đánh giá. Vàng sa khoáng phát hiện ở nhiều nơi như: Ngòi Viễn, Ngòi Tháp, Bản
Ty ở Văn Chấn, Lục Yên, Văn Yên..
Đất hiếm: có ở xã Yên Phú - Văn Yên có quy mô nhỏ, trữ lượng đánh giá ở C 1 + C2 là
17,84 tấn TR2 O3
Khoáng sản không kim loại:
Pirit: Có ở Tân Lĩnh - Lục Yên; Mỹ Gia – Yên Bình. Điểm ở Lục Yên có trữ lượng
khoảng 25.000 tấn, cấp C1 hàm lượng S >33%.
Barit: Có ở núi Hang Hổ, Đại Minh - Yên Bình, chưa điều tra đánh giá.
Phôtforit: có ở Lục Yên với trữ lượng khoảng 10.000 tấn.
Cao lanh: Tập trung ở khu vực thành phố Yên Bái và huyện Yên Bình đã khai thác ở
thiểu số và mỗi dân tộc mang đậm một bản sắc văn hoá riêng, là điều kiện để kết hợp
phát triển, cơ sở hạ tầng thấp kém nên chưa có điều kiện khai thác hết được các tiềm năng
này để phát triển mạnh ngành du lịch. Tỉnh đang tiến hành đầu tư xây dựng khu du lịch
hồ Thác Bà, trong tương lai sẽ là điểm dừng chân cho du khách trên tuyến du lịch Hà Nội
- Lào Cai - Côn Minh (Trung Quốc).
6. Hiện trạng môi trường tỉnh Yên Bái
Cùng với sự tăng trưởng phát triển kinh tế, tỉnh Yên Bái đang đứng trước một số vấn
đề về môi trường, đó là: Môi trường đất, nước, rừng của tỉnh đang bị suy thoái, ô nhiễm
chưa được phục hồi hoàn toàn; môi trường không khí, môi trường nước ở một số khu vực
đang có biểu hiện bị ô nhiễm. Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải bệnh
viện chưa được xử lý đảm bảo yêu cầu. Trong đó, đặc biệt là bãi rác Tuần Quán, thành
phố Yên Bái vẫn chưa được đầu tư xử lý ô nhiễm theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg
ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Điều kiện về nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn chưa tốt, một bộ phận lớn nhân dân vẫn chưa được dùng nước hợp vệ sinh.
6.1 Hiện trạng môi trường ở các đô thị và các khu dân cư tập trung
Thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ là 2 đô thị lớn của tỉnh Yên Bái. Cơ cấu của thành
phố, thị xã đã và đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thương mại, dịch vụ - nông nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp, tăng dần
tỷ trọng công nghiệp. Hiện tại, thành phố Yên Bái đang trong quá trình nâng cấp kết cấu
hạ tầng kỹ thuật nhằm mục tiêu trở thành một cầu nối quan trọng trong hành lang kinh tế
Đông Tây.
Về môi trường các khu dân cư tập trung: Việc phát triển hệ thống công viên, cây xanh
ở các đô thị được chú trọng. Các chỉ tiêu về các loại khí thải đều dưới mức cho phép. Chỉ
tiêu về bụi và tiếng ồn ở các đường phố đô thị đều đã sát giới hạn cho phép. Việc xử lý
rác thải sinh hoạt, chưa tiến hành phân loại rác ngay tại nguồn, chưa có biện pháp xử lý
mà mới ở mức thu gom và đưa vào nơi chứa rác. Hiện cũng chưa có hệ thống xử lý nước
thải sinh hoạt tập trung, nước thải sinh hoạt đô thị đã qua xử lý sơ bộ tại các hộ gia đình
và cơ quan hoặc chưa qua xử lý đều đổ ra cống rãnh thoát nước mưa hoặc các khe suối.
đó, chất lượng đất không ổn định và bị thoái hóa dần.
6.3 Hiện trạng môi trường ở các khu vực sản xuất công nghiệp tập trung
Đặc thù tại tỉnh Yên Bái, công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản như khai thác và
nghiền Fenspat (trên 100.000 tấn/năm) và Cacbonat canxi (mỗi năm sản xuất đá bột trên
170.000 tấn, đá hạt khoảng 100.000 tấn), sản xuất vật liệu xây dựng như sản xuất gạch
ngói (khoảng 170.000.000 viên/năm) xi măng (1.500.000 tấn/năm), khai thác quặng sắt
(trên 40.000 tấn/năm), sinh ra rất nhiều khói bụi độc hại nếu không có các biện pháp xử
lý triệt để các nguồn thải này sẽ dẫn đến tình trạng không kiểm soát được gây ra những
ảnh hưởng tiêu cực lên môi trường chung của tỉnh. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Yên Bái,
còn tồn tại một số cơ sở sản xuất các loại hình sẽ sinh ra lượng nước thải có nồng độ các
chất gây ô nhiễm môi trường tương đối cao như các cơ sở sản xuất giấy đế với công suất
khoảng trên 30.000 tấn/năm, cơ sở sản xuất tinh bột sắn với sản lượng 15.000 tấn/năm,
chè chế biến khoảng 14.000 tấn/năm. Hầu hết các cơ sở sản xuất loại hình sản phẩm trên
địa bàn tỉnh Yên Bái đều chưa có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng chưa triệt để.
6.4 Hiện trạng đa dạng sinh học và các khu bảo tồn của tỉnh
6.4.1 Đa dạng hệ thực vật
Theo kết quả điều tra khảo sát của các nhà thực vật học đã được công bố trên các tạp
chí khoa học, sách tra cứu chuyên ngành về hệ thực vật tỉnh Yên Bái, bước đầu đã thống
kê được 657 loài thuộc 447 chi và 153 họ trong 5 ngành Thông đất (Lycopodiophyta),
Tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polyopodiophyta), Hạt trần (Gymonospermoc) và
ngành Hạt kín (Angiospermac).
Các ngành thực vật chiếm vai trò khác nhau nhưng không đồng đều. Ngành Hạt kín
chiếm ưu thế lớn nhất. Với 617 loài (chiếm 93,91%). Số lượng thực tế chắc chắn còn cao
hơn rất nhiều nếu được khảo sát điều tra một cách toàn diện và chi tiết hơn.
Tính đa dạng thực vật không chỉ thể hiện ở số lượng các họ, các loài mà còn liên quan
đến giá trị nguồn gen quý hiếm và sử dụng của chúng trong đời sống.
Trong hệ thực vật tỉnh Yên Bái có số loài cây làm thuốc lớn. Nhiều loài đã được nhân
dân địa phương sử dụng như: Kim cang nhiều tán (Similax elegantissima), Mã tiền lá