Chế định thương nhân ở Việt Nam - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ PHƢƠNG THẢO

CHẾ ĐỊNH THƢƠNG NHÂN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ PHƢƠNG THẢO

CHẾ ĐỊNH THƢƠNG NHÂN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGÔ HUY CƢƠNG


1.1.1 Khái niệm về thương nhân ....................................................................... 6
1.1.2 Đặc điểm về thương nhân ........................................................................ 9
1.2 Điều kiện trở thành thương nhân .............................................................. 11
1.3 Điều chỉnh của pháp luật về thương nhân ................................................. 13
1.3.1 Lược sử phát triển pháp luật về thương nhân ở Việt nam ..................... 13
1.3.2 Chức năng của pháp luật về thương nhân ở Việt Nam .......................... 15
1.3.3 Nguồn của pháp luật về thương nhân ở Việt Nam................................. 18
1.4 Phân loại thương nhân............................................................................... 22
1.4.1 Các cách phân loại thương nhân ............................................................ 22
1.4.2 Thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân ................................ 23
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
THƢƠNG NHÂN ....................................................................... 31
2.1 Thương nhân thể nhân............................................................................... 31
2.1.1 Khái niệm và Điều kiện của thương nhân thể nhân theo pháp
luật Việt Nam. ...................................................................................... 31
2.1.2 Các loại thương nhân thể nhân............................................................... 32
2.2 Thương nhân pháp nhân ............................................................................ 46
2.2.1 Khái niệm và Điều kiện của thương nhân pháp nhân theo pháp
luật Việt Nam. ...................................................................................... 46
2.2.2 Các loại thương nhân pháp nhân ............................................................ 47
CHƢƠNG 3 NHỮNG BẤT CẬP, ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THƢƠNG NHÂN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ......................................................... 66

Footer Page 4 of 126.


Header Page 5 of 126.

3.1. Một số bất cập và định hướng hoàn thiện pháp luật về thương nhân ở

LDN

Luật doanh nghiệp

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn


Header Page 7 of 126.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sau khi giành được độc lập năm 1945, một thời gian dài, nhiều thập
niên sau đó nền kinh tế của Việt Nam bị lâm vào khủng hoảng và trì trệ. Với
nhiều lý do khác nhau, nước ta đã trở thành một trong những nước nghèo nhất
thế giới. Chỉ đến những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, đất nước mới
bắt đầu thời kỳ mở cửa và hội nhập với thế giới bên ngoài. Đồng thời khi đó
nền kinh tế Việt Nam bước và thời kỳ “sửa sai” và “đổi mới”. Bước chuyển
mình này đã có một số kết quả ban đầu, kinh tế phát triển vượt bậc, đưa nước
ta từ nhóm nước có thu nhập thấp vào năm 1988 trở thành một nước có thu
nhập bình quân trung bình trên thế giới.
Trong sự thành công này, pháp luật về kinh tế đã góp một vai trò rất
quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển ổn định và bền
vững của các quan hệ kinh tế. Nhiều văn bản pháp luật về kinh tế đã dần được
ban hành theo những quan điểm của Đảng và Nhà nước thành pháp luật để áp
dụng trong đời sống kinh tế.
Trong hệ thống pháp luật về kinh tế, Luật thương mại và Luật Doanh
nghiệp là những văn bản pháp luật quan trọng nhất. Luật Thương mại ra đời
từ năm 1997 và Luật Doanh nghiệp 1995 là những cơ sở pháp lý đầu tiên điều

năm 2013. Giáo trình đã nêu lên được một cách hệ thống những vấn đề lý
luận về thương nhâ, phân loại thương nhân theo pháp luật của các quốc gia
trên thế giới và của Việt Nam.
- "Chuyên khảo luật kinh tế" của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa được xuất
bản tại Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004. Cuốn chuyên khảo đã phân
tích, đánh giá về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
- "Giáo trình luật kinh tế Việt Nam" do PGS.TS Nguyễn Như Phát làm
chủ biên được xuất bản tại Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2013. Cuốn giáo trình
này đã nêu lên những vấn đề tổng quan về luật thương mại, những vấn đề lý
luận về luật thương mại và trình bày khái quát một số vấn đề về hành vi
thương mại và thương nhân.
- "Giáo trình luật thương mại" do TS. Bùi Ngọc Cường làm chủ biên
được xuất bản tại Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2008. Giáo trình đã phân tích,

2
Footer Page 8 of 126.


Header Page 9 of 126.

bình luận lý thuyết về thương nhân, dấu hiệu xác định thương nhân, các loại
thương nhân theo pháp luật Việt Nam.
- "Thương gia theo thương luật Hoa Kỳ" của TS. Trần Đình Hảo đăng
trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật, số 2, năm
2002. Bài viết đã giới thiệu khái quát về các loại hình công ty đối nhân và đối
vốn theo pháp luật của Hoa Kỳ nhằm cung cấp thông tin so sánh để học hỏi
kinh nghiệm nước ngoài nhằm hoàn thiện pháp luật công ty ở Việt Nam.
- "Dự án sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2005: Bình luận những vấn đề pháp
lý chủ yếu", của PGS.TS Ngô Huy Cương đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 13 (269), Kỳ 1 - Tháng 07/2014. Bài viết này đã lý luận sâu sắc về ý nghĩa

đưa ra những nhận định về địa vị pháp lý của các loại thương nhân trong
nền kinh tế Việt Nam.
3.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề liên quan trực tiếp tới chế định
thương nhân và các qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thương
nhân để kiến nghị sửa hoàn thiện pháp luật hiện hành. Luận văn không phân
tích sâu về lịch sử pháp luật liên quan và chế định thương nhân của các quốc
gia khác trên thế giới trừ khi đề cập tới các vấn đề đó với tính cách là một
phương pháp để hướng tới mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành dựa trên các nguyên tắc, phương pháp luận
của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng
ta về Nhà nước và pháp luật.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm: Phương
pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để giải quyết các vấn đề đặt ra.
5. Tính mới của Luận văn
Luận văn đã phân tích được một cách logic pháp luật về thương nhân, cũng
như đưa ra được các chức năng cơ bản của nó. Đồng thời, phân tích các quy
định pháp luật về thương nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ
sở phân tích đó, khoá luận đã rút ra một số kết luận và định hướng hoàn thiện
các quy định pháp luật về thương nhân ở Việt Nam.

4
Footer Page 10 of 126.


Header Page 11 of 126.

6. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá

của chủ thể. Luật Pháp không quy định về trách nhiệm đăng ký kinh doanh
mà chỉ quy định về loại hành vi thương mại mà chủ thể thực hiện để được coi
là thương nhân. Ngoài việc thực hiện nhiều hành vi thương mại, chủ thể cần
đáp ứng được điều kiện về những hành vi đó như “lấy chúng làm nghề nghiệp
thường xuyên của mình”. Chỉ khi thực hiện các hành vi thương mại một cách
thường xuyên, lâu dài mang tính chất nghề nghiệp (tức hoạt động kinh doanh
mang tính ổn định, lâu dài, có sinh lời mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ
thể) thì chủ thể thực hiện hành vi đó mới được coi là thương nhân.
 Luật thương mại Đức – một trong những bộ luật thương mại tiêu biểu
trên thế giới đại diện cho họ pháp luật La Mã - Đức quy định về thương nhân
có phần phức tạp hơn. Thương nhân theo định nghĩa của Bộ luật thương mại

6
Footer Page 12 of 126.


Header Page 13 of 126.

CHLB Đức là những người hành nghề kinh doanh. Hành nghề kinh doanh là
bất kì cơ sở hành nghề nào mang lại lợi nhuận, ngoại trừ các doanh nghiệp mà
căn cứ theo tính chất, phạm vi của nó không đòi hỏi phải thiết lập cơ sở để
hoạt động kinh doanh (Khoản 2 Điều 1 Bộ luật thương mại Đức).[37]
Doanh nghiệp hành nghề mà cơ sở hoạt động của nó chưa phải là hành
nghề kinh doanh theo quy định trên vẫn được coi là hành nghề thương mại
theo định nghĩa của Bộ luật này nếu hãng của doanh nghiệp có đăng ký trong
danh bạ thương mại. Khi đã đăng ký thì việc xóa tên của hãng cũ có thể xảy
ra theo đơn đề nghị của doanh nghiệp, trong trường hợp không có cơ sở theo
quy định tại khoản 2 Điều 1 Bộ luật thương mại. Khi một hãng đã đăng ký
trong danh bạ thương mại thì không thể bị ai đó dựa vào việc đăng ký để cáo
buộc rằng cơ sở ngành nghề trực thuộc hãng không phải là cơ sở hành nghề

nhân trong luật Hoa Kỳ bao gồm một nhóm người thực hiện các hoạt động
kinh doanh hàng hóa như những công việc thường xuyên lâu dài của họ. Luật
thương mại Hoa Kỳ không điều chỉnh với các loại hàng hóa là bất động sản
và dịch vụ mà chỉ điều chỉnh với các loại hàng hóa động sản.
 Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về thương nhân từ những
văn bản pháp luật về thương mại đầu tiên là Luật thương mại 1997 và sau đó
là Luật thương mại 2005.
Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định tại Khoản 6 Điều 5 về
thương nhân như sau: “Thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp
tác, hộ gia đình có đăng ký hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên”.[26]
Sau quá trình sửa đổi, Luật thương mại 2005 định nghĩa lại về khái
niệm thương nhân tại Điều 6 như sau: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế
được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập
thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.[27]
Từ quy định trên, ta có thể thấy Luật thương mại Việt Nam đang định
nghĩa thương nhân theo kiểu hình thức. Theo đó, các chủ thể chỉ được công
nhận là thương nhân khi đáp ứng đủ yêu cầu về hình thức như “tổ chức kinh
tế được thành lập hợp pháp, cá nhân có đăng ký kinh doanh ”. Tư cách
thương nhân được xác định dựa theo việc đăng ký với cơ quan nhà nước có

8
Footer Page 14 of 126.


Header Page 15 of 126.

thẩm quyền mà không căn cứ vào hoạt động thương mại do chủ thể kinh
doanh thực hiện.
Tóm lại, các quốc gia trên thế giới hiện nay có những các thức định


được coi là thương nhân khi thực hiện một hoạt động thương mại lặp đi lặp lại
mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên và có sinh lời.
Thứ hai, thương nhân hoạt động thương mại một cách độc lập.
Trong quá trình hoạt động thương mại, thương nhân có thể trực tiếp thực
hiện các hành vi thương mại hoặc ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực
hiện hành vi thương mại đó. Tuy nhiên, mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt
động mà người được ủy quyền thực hiện do ủy quyền thì đều thuộc về người ủy
quyền. Điều này được hiểu là người làm công, người quản lý được trả công đều
không phải là thương nhân. Ngược lại, người thuê và quản lý một cơ sở kinh
doanh để kinh doanh mới là thương nhân. Thương nhân là chủ thể chịu trách
nhiệm với toàn bộ quyền và nghĩa vụ của cơ sở kinh doanh do mình làm chủ.
Ngoài ra, đối với một số nước có quy định công ty hợp danh và công ty
hợp vốn đơn giản là pháp nhân – hoạt động của những công ty này được nhà
nước bảo hộ như những doanh nghiệp khác thì những thành viên của công ty
hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản dù những hoạt động của họ vì lợi ích
chung của cả công ty nhưng họ vẫn được coi là thương nhân vì họ phải chịu
trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty.
Thứ ba, thương nhân hoạt động phải có đăng ký kinh doanh.
Đặc điểm này được áp dụng với những quốc gia quy định về thương
nhân theo hình thức. Ở những quốc gia này, để trở thành thương nhân chủ thể
thực hiện hành vi thương mại cần đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Chỉ khi có đăng ký kinh doanh, chủ thể sẽ được công nhận tư
cách thương nhân và được nhà nước thừa nhận, bảo hộ quyền lợi hợp pháp
của mình trong đời sống kinh doanh.
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, thương nhân là những người thực
hiện các hoạt động thương mại như một nghề nghiệp thường xuyên, lâu dài và
chịu mọi trách nhiệm với các hoạt động thương mại do mình thực hiện.

10

do phụ thuộc.

11
Footer Page 17 of 126.


Header Page 18 of 126.

- Hành vi thương mại thuần túy: gồm những hành vi có tính chất thương mại:
Những hành vi do thương nhân thực hiện: hoạt động thương nhân cho
thuê động sản.
Những hành vi liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa: hoạt động
giao nhận hàng hóa.
Những hành vi mà hình thức của nó được pháp luật coi là hành vi
thương mại vì bản chất của nó thuộc về công việc buôn bán: hoạt động kí phát
hối phiếu, hành vi thành lập công ty thương mại.
- Hành vi thương mại phụ thuộc:
Những hành vi có bản chất dân sự nhưng do thương nhân thực hiện
theo yêu cầu nghề nghiệp: hoạt động kí hợp đồng mua bán hàng hóa của
thương nhân.
Những hành vi dân sự dân sự nhưng được thực hiện do phụ thuộc vào
một hành vi thương mại khác
Nhìn chung, mọi hành vi do thương nhân thực hiện trong hoạt động
kinh doanh đều là những hành vi thương mại trừ trường hợp thương nhân
chứng minh được rằng hành vi đó thực hiện không vì mục đích thương mại.
Ví dụ: Việc thương nhân quyên góp từ thiện cho tổ chức từ thiện.
Khái niệm thương nhân và hành vi thương mại là hai khái niệm có mối
quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Một hành vi chỉ được coi là hành vi thương mại
khi nó được thực hiện bởi các thương nhân hoặc thực hiện trong khuôn khổ
các hoạt động thương mại của thương nhân. Bên cạnh đó, một chủ thể chỉ

ngoại quốc và người Việt Nam sinh tại các vùng là thuộc địa của Pháp (Hà
Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng) cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Pháp.
Ngoài những văn bản đó, về sau cũng có những văn bản khác quy định
về từng vấn đề cụ thể như sau: Đạo luật về bán và cầm cố cửa hàng thương
mại 1909; Đạo luật về bảo vệ quyền sở hữu cửa hàng thương mại 1926; Luật
về hối phiếu, thương phiếu năm 1894, 1922, 1935...
Mãi đến năm 1942, triều đình Huế mới ban hành bộ luật thương mại
Trung phần có nội dung cơ bản giống như Bộ luật thương mại của Pháp, có
hiệu lực thi hành tại Trung bộ từ ngày 25/1/1944.

13
Footer Page 19 of 126.


Header Page 20 of 126.

Năm 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền với chế độ chính trị
khác nhau. Ở miền Nam, chính phủ Việt Nam cộng hòa đã ban hành nhiều
văn bản pháp luật về thương mại quan trọng như : Luật số 13/57 về nhãn hiệu
thương mại; Luật số 12/5 về bằng sáng chế Nghị định số 92/BKT/CKN ngày
9/4/198 và Nghị định số 406/BKT/ND ngày 11/10/1968 về danh sách các
ngành nghề tiểu công nghệ...quan trọng nhất là Bộ luật thương mại ban hành
20/12/1972 với nội dung khá phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề của đời
sống thương mại lúc đó ở miền Nam Việt Nam như nhiệm vụ nghề nghiệp
của nhà buôn hay thương gia và sự hành nghề thương mại... Trái lại, ở miền
Bắc, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, việc kinh doanh chủ yếu được
các tổ chức thuộc thành phần kinh tế quốc doanh tiến hành. Do đó, luật kinh
tế điều chỉnh những quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình kinh doanh
XHCN tập trung ghi nhận các chế độ pháp lý liên quan đến việc tổ chức và
hoạt động của các tổ chức kinh tế quốc doanh.

Việt Nam không có truyền thống trong lĩnh vực thương mại giống như các
quốc gia nông nghiệp khác. Cho mãi tới những năm gần đây, nhận thức về
hoạt động thương mại và vị trí của các thương nhân mới được đổi mới theo
đúng xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới. Chúng ta đã có những thay
đổi lớn về cả nội dung lẫn hình thức của các văn bản pháp luật nói chung và
các văn bản liên quan đến kinh tế, thương mại nói riêng, từ đó có thể thấy sự
phát triển của hệ thống pháp luật nước ta ngày càng tiến gần tới sự hoàn thiện.
1.3.2 Chức năng của pháp luật về thƣơng nhân ở Việt Nam
Pháp luật về thương nhân ra đời và phát triển là một hệ quả tất yếu của
quá trình hoạt động kinh doanh thương mại. Các giao dịch thương mại ngày
càng đa dạng và phức tạp thì yêu cầu điều chỉnh của pháp luật càng trở lên
cấp thiết hơn. Chính bởi vậy, mà các quy định của pháp luật về thương nhân
cơ bản phải chứa đựng những chức năng sau:
- Trước tiên, pháp luật về thương nhân đóng vai rò là khuôn khổ pháp
lý quan trọng nhất quy định về tư cách chủ thể của các loại hình thương nhân
– chủ thể chính của pháp luật thương mại. Việc xác định tư cách thương nhân
cho một chủ thể có ý nghĩa hết sức quan trọng vì mỗi loại chủ thể lại chịu sự
điều chỉnh của các quy chế khác nhau vì chúng hàm chứa trong mình những

15
Footer Page 21 of 126.


Header Page 22 of 126.

đặc đặc điểm tương đối khác nhau. Xác nhận địa vị pháp lý, tư cách của
thương nhân trên thương trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
thương nhân cũng như những người có quan hệ kinh doanh đối với họ. Trên
cơ sở các quy định pháp luật, thương nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ của
mình để tiến hành các giao dịch thương mại với thương nhân cũng như với tổ

pháp luật về thương mại; mở rộng giao lưu thương mại với nước ngoài. Chính
các quy định pháp luật về thương nhân là điều kiện để thương nhân tiến hành
các hoạt động thương mại của mình phù hợp với sự phát triển chung của nền
kinh tế. Qua đó, tạo ra môi trường bình đẳng cho hoạt động của thương nhân,
thương nhân được cạnh tranh hợp pháp trong hoạt động thương mại và
nghiêm cấm các hành vi đầu cơ, lũng đoạn thị trường, bán phá giá để cạnh
tranh, dèm pha thương nhân khác, đe doạ nhân viên hoặc khách hàng của
thương nhân khác, vi phạm quyền sở hữu công nghiệp. Chính điều này đã có
tác dụng tích cực đối với sự phát triển của nền kinh tế. Bởi lẽ, các hoạt động
thương mại của thương nhân trên thị trường là nhằm mục đích phục vụ các
nhu cầu trực tiếp của xã hội.
- Như chúng ta đã biết khi xây dựng pháp luật thương mại người ta
thường dựa vào hai mảng vấn đề lớn: hoặc là chủ thể, coi luật thương mại là
luật riêng của thương nhân như cách làm của Bộ luật Thương mại Đức ban
hành năm 1897 tập trung các quy định vào thương nhân; hoặc là theo khách
thể, coi luật thương mại là luật điều chỉnh hành vi mang tính thương mại như
cách làm của Bộ luật Thương mại Pháp ban hành năm 1807 tập trung các quy
định vào hành vi thương mại. Song thực tiễn phát triển pháp luật thương mại
đã chứng minh rằng cả hai phương pháp trên đều hàm chứa cả vấn đề chủ thể
lẫn vấn đề khách thể. Bởi, thương nhân là chủ thể chính thực hiện các hành vi
thương mại. Do đó, khi xây dựng được một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về
thương nhân cũng là điều kiện tiền đề cho các hành vi thương mại được hiện
thực hoá trên thương trường.
Nói tóm lại, pháp luật về thương nhân đang ngày càng khẳng định được
vị trí quan trọng của mình đối với sự phát triển của thương mại nói riêng và
của đất nước nói chung. Bởi lẽ, với tư cách là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường, thương nhân là người trực tiếp tiến hành các

17
Footer Page 23 of 126.

động thương mại. Hiến pháp là nguồn rất quan trọng của luật thương mại.

18
Footer Page 24 of 126.


Header Page 25 of 126.

b) Bộ luật Dân sự
Sau Hiến pháp, Bộ luật dân sự là đạo luật có vị trí quan trọng trong hệ
thống pháp luật, liên quan mật thiết đến mọi mặt của đời sống thường ngày
của người dân, trong đó có lĩnh vực thương mại. Thông qua những quy định
về các vấn đề như tài sản, quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu, hợp đồng, sở
hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ,...Bộ luật Dân sự quy định các chuẩn mực
pháp lý cho các quan hệ thương mại phát triển trong môi trường thuận lợi,
đưa lại cho các giao dịch độ tin cậy pháp lý cao. Cùng với các văn bản khác
trong hệ thống pháp luật kinh tế, Bộ luật dân sự góp phần xây dựng lên khung
pháp lý cần thiết cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường, tạo nên môi
trường pháp lý thuận lợi, thống nhất cho các thương nhân hoạt động và phát triển.
c) Các luật do Quốc hội thông qua
Ở Việt Nam hiện nay, các văn bản là nguồn luật thương mại do Quốc
hội thông qua có một số lượng khá lớn:
- Các luật quy định về địa vị pháp lý của các thương nhân: Luật Doanh
nghiệp 2014, Luật hợp tác xã 2012...
- Các luật quy định cụ thể về các loại hành vi thương mại như: Luật
thương mại 2005, Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng 2010, Luật đầu tư
2014, Luật chứng khoán...
- Các quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản đối với thương nhân
lâm vào tình trạng phá sản được quy định tại Luật phá sản 2014.
d) Các văn bản dƣới luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status