Header Page 1 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------
ĐỊCH THỊ KIM HƢƠNG
NGHIÊN CỨU, PHÂN LẬP VÀ NUÔI CẤY TĂNG SINH
TẾ BÀO GỐC MỠ ĐỊNH HƢỚNG GHÉP TỰ THÂN
TRONG ĐIỀU TRỊ VẾT THƢƠNG MẠN TÍNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2016
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------
ĐỊCH THỊ KIM HƢƠNG
NGHIÊN CỨU, PHÂN LẬP VÀ NUÔI CẤY TĂNG SINH
TẾ BÀO GỐC MỠ ĐỊNH HƢỚNG GHÉP TỰ THÂN
TRONG ĐIỀU TRỊ VẾT THƢƠNG MẠN TÍNH
Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
hỗ trợ, tạo điều kiện để em thực hiện đề tài.
Cuối cùng, xin được gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè và tất cả những người thân
yêu đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ em trong quá trình học tập để em hoàn thành
bản luận văn này!
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2016
Học viên
Địch Thị Kim Hương
Footer Page 3 of 126.
Header Page 4 of 126.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
Chƣơng 1 ........................................................................................................................ 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................................................. 3
1.1. Tổng quan về tế bào gốc ....................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm tế bào gốc ..................................................................................... 3
1.1.2. Phân loại tế bào gốc ....................................................................................... 3
1.2. Tế bào gốc trung mô (Mesenchymal stem cells – MSCs) và tế bào gốc trung mô
từ mô mỡ...................................................................................................................... 5
1.3. Vết thương và các yếu tố tham gia liền vết thương .............................................. 9
1.3.1. Diễn biến quá trình liền vết thương ............................................................... 9
1.3.2. Các thành phần tế bào chủ yếu tham gia liền vết thương ............................ 11
1.4. Vết thương mạn tính ........................................................................................... 12
1.4.1. Các đặc điểm chính của vết thương mạn tính ............................................. 12
1.4.2. Một số loại vết thương mạn tính điển hình ................................................. 13
2.2.9. Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của tế bào gốc mô mỡ đến nguyên bào
sợi in vitro .............................................................................................................. 34
2.2.10. Theo dõi bệnh nhân có vết thương mạn tính được ghép tế bào gốc trung
mô từ mô mỡ ........................................................................................................ 35
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN........................................ 377
3.1. Phân lập tế bào gốc trung mô từ mô mỡ........................................................... 377
3.2. Đặc điểm phân lập và hình thái tế bào ............................................................... 38
3.3. Khả năng tạo colony của tế bào gốc mỡ............................................................. 40
3.4. Nuôi cấy tăng sinh và nhân rộng tế bào gốc trung mô từ mô mỡ .................... 444
3.5. Về việc đánh giá tính an toàn của ASCs sau nuôi cấy tăng sinh ...................... 455
3.6. Tác động của tế bào gốc mỡ bệnh nhân lên nguyên bào sợi da in vitro ............ 51
3.7. Theo dõi quá trình liền vết thương ở một ca sau ghép tế bào gốc trung mô từ mô
mỡ .............................................................................................................................. 52
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 56
KIẾN NGHỊ ................................................................................................................ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Footer Page 5 of 126.
Header Page 6 of 126.
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả xử lý mẫu mô mỡ và test mycoplasma ........................................... 36
Bảng 3.2. Số lượng tế bào thu được từ mô sau khi xử lý bằng collagenase ................. 38
Bảng 3.3. Tỷ lệ tạo colony của hỗn dịch tế bào thu được từ mô mỡ …… ............... …41
Bảng 3.4. Khả năng tạo CFU-F theo các thế hệ tế bào ................................................ 44
Bảng 3.5. Thời gian đạt trạng thái cận che phủ hoàn toàn của tế bào gốc mô mỡ ........ 46
Bảng 3.6. Nồng độ Telomerase của các thế hệ tế bào nuôi cấy tăng sinh .................... 49
Bảng 3.7. Số lượng tế bào ở mẫu nghiên cứu và đối chứng ........................................ 51
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AB
Antibiotic/Antimycotic - Kháng sinh
ASCs
Adipose-derived Stem Cells - Tế bào gốc mỡ
bFGF
Basic fibroblast growth factor – Nhân tố tăng trưởng nguyên bào sợi
D’MEM
Dubeco’s Modified Eagle Medium – Môi trường nuôi cấy tế bào
DMEM
EGF
Epidermal Growth Factor - Yếu tố tăng trưởng biểu bì
FBS
Fetal Bovine Serum - Huyết thanh bào thai bò
FGF
MỞ ĐẦU
Ứng dụng của tế bào gốc đã tạo ra tiềm năng lớn cho y học tái tạo nhờ khả
năng duy trì được đặc tính gốc trong thời gian dài cùng với đặc tính biệt hóa thành
nhiều loại tế bào khác nhau trong những điều kiện nhất định. Tế bào gốc có khả
năng thay thế các tế bào bị hư hỏng và nhờ đó có khả năng điều trị bệnh. Đặc tính
thay thế này đã được sử dụng trong điều trị bỏng sâu, rộng; khôi phục hệ thống máu
ở những bệnh nhân bị các bệnh rối loạn về máu; chữa trị các tổn thương trong gan
và não bộ. Đồng thời, nó mở ra triển vọng hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư.
Tế bào gốc là công cụ rất quan trọng trong nghiên cứu bệnh tật và có tiềm
năng lớn để sử dụng trong lâm sàng. Cho đến nay, các loại tế bào gốc không phải là
tế bào gốc phôi được ứng dụng trong y học thành công hơn cả mặc dù tiềm năng
của chúng đã ít nhiều bị hạn chế hơn so với tế bào gốc phôi. Loại tế bào gốc hiện
đang được sử dụng cho điều trị bao gồm 3 nhóm chính: Tế bào gốc tạo máu; Tế bào
gốc trung mô và Tế bào gốc biểu mô. Trong số 3 nhóm nói trên, tế bào gốc trung
mô từ mô mỡ (Adipose Derived Stem Cells – ASCs) đã và đang được quan tâm rất
nhiều bởi tiềm năng to lớn trong ứng dụng điều trị. Thứ nhất, mô này rất phổ biến,
có nhiều trong cơ thể người, dễ dàng thu nhận mà không gây xâm hại lớn tới cơ thể
như tủy xương. Điều này đồng nghĩa với việc thu nhận được lượng tế bào gốc trung
mô trong mỡ phong phú hơn so với tủy xương. Hơn nữa, để thu thập mô mỡ, bệnh
nhân chỉ cần phải gây tê cục bộ và vết thương trên bệnh nhân sau khi thu mỡ dễ
dàng liền lại trong thời gian ngắn. Thứ hai, mô này dễ dàng được tự bồi đắp trong
cơ thể. Thứ ba và đây là lý do quan trọng nhất, nó là nguồn tế bào gốc thuận lợi cho
sử dụng để ghép tự thân. Với những lý do nói trên, tế bào gốc trung mô từ mô mỡ
được coi là nguồn tế bào gốc trưởng thành tự thân lý tưởng cho các nghiên về y học
tái tạo, công nghệ mô và liền vết thương.
Vết thương mạn tính là hệ quả của nhiều căn bệnh như dị ứng, tiểu đường,
bỏng sâu, bệnh về hệ cứu thống miễn dịch da hoặc các trường hợp tai nạn giao
thông dẫn tới liệt hoặc những người già ốm nằm một chỗ lâu ngày gây loét da... Các
vết thương này nếu không điều trị nhanh chóng thì sẽ gây viêm nhiễm kéo dài làm
Header Page 11 of 126.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về tế bào gốc
1.1.1. Khái niệm tế bào gốc
Tế bào gốc là loại tế bào có khả năng phân chia không giới hạn để tạo ra các
tế bào gốc có chức năng tương tự (duy trì tính gốc) và trong những điều kiện nhất
định, chúng có thể biệt hóa thành các loại tế bào có chức năng riêng biệt nhằm bổ
sung và/ hoặc thay thế các tế bào bị tổn thương hay già cỗi.
Tế bào gốc được phân biệt với tế bào thông thường bởi 2 đặc điểm chính:
Thứ nhất, chúng là các tế bào chưa biệt hóa có khả năng tự đổi mới thông qua quá
trình nguyên phân, thường ở trạng thái ít hoạt động (đôi khi chúng ở trạng thái bất
hoạt trong thời gian dài). Thứ hai, dưới tác động của các điều kiện môi trường xung
quanh, chúng có thể biến đổi thành các tế bào đặc hiệu cho mô hoặc cơ quan với các
chức năng đặc biệt. Ở một số cơ quan như niêm mạc ruột, biểu bì da hay tủy xương,
các tế bào gốc thường phân chia liên tục để sửa chữa và thay thế các tế bào già yếu
hoặc bị tổn thương. Tuy nhiên, ở nhiều cơ quan khác như tụy, tim, cơ, thần kinh thì
các tế bào gốc chỉ phân chia dưới các điều kiện đặc biệt [14].
1.1.2. Phân loại tế bào gốc
Dựa theo khả năng biệt hoá, tế bào gốc có thể phân loại thành các loại sau
[51]:
- Tế bào gốc toàn năng (Totipotent Stem Cells): chỉ thấy ở thời kỳ sớm của
phôi thai trong giai đoạn phôi 8 tế bào. Mỗi tế bào đều có khả năng tạo thành một
cơ thể hoàn chỉnh với khả năng biệt hóa thành tất cả các loại tế bào trong cơ thể.
- Tế bào gốc vạn năng (Pluripotent Stem Cells): Loại tế bào này tồn tại dạng
không biệt hoá ở lớp tế bào trong của túi phôi, có thể biệt hóa thành hơn 200 loại tế
bào khác nhau trong cơ thể.
- Tế bào gốc đa tiềm năng (Multipotent Stem Cells): Đây là loại tế bào có
nguồn gốc từ mô của bào thai, máu cuống rốn, và tế bào gốc trưởng thành. Chúng
thể trưởng thành, được tìm thấy ở mô hay cơ quan xác định và thường tồn tại trong
các ổ (stem cell niche) như máu cuống rốn, nhau thai, dịch ối, tủy xương,... Chúng
là các tế bào gốc đơn tiềm năng hay đa tiềm năng vì có thể tự đổi mới và biệt hóa
thành một hay một số loại tế bào đặc hiệu mô. Vai trò chính của các tế bào gốc
trưởng thành trong cơ thể sống là duy trì và sửa chữa mô mà chúng có khả năng biệt
hóa thành các tế bào chuyên hóa cho mô đó. Gần đây, nhiều nghiên cứu tập trung
khai thác các tế bào gốc từ bánh nhau, dây rốn. Thành công về công nghệ đã có thể
tách và nhân lên các tế bào gốc nhưng chỉ có những bệnh nhân có bảo quản dây rốn
- bánh nhau khi sinh ra mới có cơ hội được dùng những nguồn tế bào gốc này. Hiện
nay, chỉ có số ít người lưu trữ dây rốn hay bánh nhau của em bé sau khi sinh do chi
4
Footer Page 12 of 126.
Header Page 13 of 126.
phí bảo quản khá tốn kém và xác suất những người lưu trữ mô lại có bệnh cần được
điều trị bằng tế bào gốc này cũng không phải cao.
Các tế bào gốc ung thư được định nghĩa là những tế bào gốc có mặt trong
khối u. Chúng có khả năng tự biến đổi và phân chia mà không có khả năng kiểm
soát số lượng tế bào. Tuy chiếm tỷ lệ rất ít trong khối u nhưng chúng lại có trách
nhiệm trong sự tăng trưởng của khối u. Các tế bào gốc ung thư hiếm gặp đã được
phân lập từ một số khối u của con người, bao gồm ung thư máu, não, ruột và ung
thư vú. Các khái niệm ung thư tế bào gốc có ý nghĩa quan trọng trong điều trị ung thư.
Năm 2006, các nhà khoa học đã tạo ra một bước đột phá bằng cách xác định
các điều kiện có thể cho phép các yếu tố và gen quan trọng biểu hiện nhằm duy trì
các đặc tính của tế bào gốc phôi ở tế bào đã biệt hóa. Đây là loại tế bào gốc nhân
tạo, được gọi là tế bào gốc vạn tiềm năng cảm ứng (Induced Pluripotent Stem Cells
hóa thành một vài loại tế bào chuyên hóa khác nhau như tế bào xương, sụn, mỡ và
mô liên kết. Vai trò nội sinh của MSC nói chung là duy trì các ổ tế bào gốc và từ đó,
chúng tham gia vào cân bằng nội môi, chữa lành vết thương, và tái tạo mô. Nguồn
tế bào gốc này vượt trội hơn so với tế bào gốc phôi hay tế bào gốc trưởng thành bởi
những ưu điểm sau:
- Không gặp phải vấn đề về y đức: Việc sử dụng mỗi tế bào gốc phôi đồng
nghĩa với việc phá hủy một cá thể người nên tế bào gốc phôi bị cấm sử dụng trong
các nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, việc sử dụng tế bào gốc mỡ rất ít ảnh hưởng
tới sức sống của người hiến và mô mỡ khá dễ được tái tạo trở lại.
- Giảm thiểu hiện tượng đào thải miễn dịch
- Có khả năng sinh sản mạnh mẽ khi nuôi cấy trong môi trường thích hợp và
tiềm năng biệt hoá cao
Nhờ những ưu điểm này mà MSCs thu hút được nhiều sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu và là nguồn tế bào hứa hẹn đầy triển vọng trong tái tạo mô. Trước
đây, nguồn tế bào gốc tạo máu như tủy xương và tế bào gốc máu cuống rốn được
đưa vào sử dụng trong nghiên cứu và điều trị các bệnh về máu, còn các bệnh nhân
cần có sự tái tạo thuộc hệ thống trung mô rất thường gặp như các vết thương, vết
loét, bệnh lý hệ mạch, não, tim,…thì lại rất ít được ứng dụng.
Nuôi cấy và phân lập tế bào gốc trung mô
Tế bào gốc trung mô ở người được phân lập dựa trên đặc tính bám dính và có
khả năng phân chia tế bào trên bề mặt đĩa nuôi cấy. Tuy nhiên, phương pháp này
dẫn tới sự hình thành nhiều loại tế bào không đồng nhất (các tế bào gốc tồn tại cùng
các tế bào tiền thân của chúng). Vì vậy, thiết lập một quy trình hoàn thiện về phân
lập, xác định đặc điểm và nuôi cấy tăng sinh MSCs là điểm mấu chốt để sử dụng
chúng một cách thành công trong y học tái tạo [34]. MSCs từ tủy xương, máu ngoại
vi và dịch khớp đã được phân lập bằng phương pháp ly tâm phân lớp theo tỷ trọng
nhờ sử dụng dung dịch Ficoll rồi cấy vào các đĩa nhựa [60, 46, 37]. Trong quá trình
phân lập MSCs từ tủy xương, một số tế bào gốc tạo máu cũng bám dính vào đĩa
6
màng. Trái lại, tế bào sống không cho phép thuốc nhuộm hay các chất gây độc tế
bào đi qua màng nên không bắt màu thuốc nhuộm. chúng. Phức tạp hơn, người ta có
thể sử dụng kỹ thuật đánh giá sự hô hấp nội sinh ở tế bào còn sống như kỹ thuật
MTT (MTT assays). Phương pháp này dựa trên sự chuyển chất MTT (3-(4,5dimethylthiazol-2-yl)-2,5 diphenyl tetrazolium bromide) thành MTT-formazan có
màu xanh tím nhờ enzyme hô hấp ở ty thể. Số lượng tế bào tỷ lệ thuận với nồng độ
formazan, thể hiện qua giá trị OD -570 nm.
7
Footer Page 15 of 126.
Header Page 16 of 126.
Để phân tích sự tăng sinh của tế bào có khả năng bám dính vào bề mặt
nuôi cấy theo thời gian, người ta còn sử dụng hệ thống xCELLigence dựa trên việc
sử dụng các đĩa nuôi cấy được tráng một lớp fibronection hoặc laminin,
collagen,…và có gắn điện cực vàng ở đáy. Thông thường, tế bào được nuôi cấy ở
mật độ 2x105 tế bào/ giá thể trong 14 ngày cho đến khi độ che phủ đạt khoảng 80 90%. Điện trở của hỗn dịch tế bào được đo sau mỗi 1h và liên tục trong khoảng thời
gian chừng 10 ngày. Từ đó, đường cong tăng trưởng của tế bào được xây dựng dựa
trên thời gian tăng sinh của chúng.
Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ (Adipose-derived stem cells – ASCs)
Tế bào gốc đa tiềm năng được phát hiện trong mô mỡ của người được gọi là
tế bào gốc mô mỡ (ASC). Tế bào gốc mô mỡ lần đầu tiên được xác định là tế bào
gốc trung mô vào năm 2001 [71] và từ đó mô mỡ được nghiên cứu trong công nghệ
mô và y học tái tạo.
Các nhà nghiên cứu đề xuất nhiều cách thức phân lập và nuôi cấy tế bào gốc
trung mô chủ yếu dựa vào hình thái cùng đặc tính bám dính vào bề mặt nuôi cấy
trong môi trường dinh dưỡng thích hợp. Môi trường nuôi cấy cũng được công bố ở
nhiều dạng công thức khác nhau. Các môi trường cơ bản thường được dùng là
cầu. Nhưng hiệu quả của kỹ thuật này còn thấp do tỷ lệ tế bào gốc trong phân lớp
mạch nền không cao [31]. Để phân lập tế bào gốc trung mô từ mô mỡ, tất cả các tế
bào đều được nuôi trên bề mặt nuôi cấy plastic trong một khoảng thời gian. Khi đó,
các tế bào có khả năng bám dính bám trên bề mặt nuôi cấy có khả năng sống sót
trong khi các tế bào phát triển huyền phù như tế bào tạo máu không có khả năng
tăng sinh sẽ bị loại bỏ trong quá trình nuôi cấy. Sau vài lần cấy truyền, các tế bào
không phải tế bào gốc như tế bào nội mô có khả năng tăng sinh và chu kỳ sống có
giới hạn không thể duy trì trong điều kiện nuôi cấy nên cũng mất đi trong quá trình
nuôi. Quần thể tế bào bám dính vào bề mặt nuôi cấy này có thể được duy trì trong
điều kiện in vitro trong thời gian tương đối dài với khả năng tăng sinh ổn định và có
khả năng biệt hóa thành các dạng tế bào khác nhau.
1.3. Vết thƣơng và các yếu tố tham gia liền vết thƣơng
Vết thương là tình trạng tổn thương thường gặp do tai nạn hoặc do các thủ
thuật can thiệp chẩn đoán và điều trị. Ngoài ra, vết thương còn là biến chứng của
nhiều bệnh nội – ngoại khoa khác như loét do tỳ đè, loét do tiểu đường, loét do suy
tĩnh mạch hay xạ trị,…[1].
1.3.1. Diễn biến quá trình liền vết thương
Diễn biến liền vết thương nói chung đều trải qua 4 giai đoạn chính: giai đoạn
đông máu, giai đoạn viêm, giai đoạn tăng sinh và giai đoạn tái lập mô [22]. Đây là
quá trình mà mô bị tổn thương được phục hồi, tái tạo các tế bào mới và tổ chức, sắp xếp
lại các thành phần của mô để tạo sẹo hoặc phục hồi chức năng của mô/ cơ quan.
Giai đoạn đông máu: Ngay sau khi bị thương, tiểu cầu cùng các yếu tố tăng
trưởng, các yếu tố đông máu được hoạt hóa và tác động tới các mao mạch nhỏ. Từ
9
Footer Page 17 of 126.
Header Page 18 of 126.
thương, trong đó có sự giảm nhanh của đại thực bào và thay thế vào đó là sự tăng
sinh của nguyên bào sợi. Thêm vào đó, nguyên bào sợi được kích thích tiết ra
10
Footer Page 18 of 126.
Header Page 19 of 126.
PDGF, TNF – β để điều khiển quá trình tổng hợp và lắng đọng các thành phần đệm
gian bào bao gồm: fibronectin, laminin, glycosaminoglycans (GAGs) và collagen
[50]. Sự kết hợp giữa nguyên bào sợi với các thành phần đệm gian bào hình thành
chất nền mô liên kết, thúc đẩy quá trình hình thành cấy trúc mô bị tổn thương và tạo
ra độ bền vững cho vết thương.
Sau khi có đệm gian bào, quá trình tăng sinh biểu mô diễn ra nhằm tái lập
hàng rào bảo vệ bề mặt vết thương và được xem là quá trình then chốt của quá trình
liền vết thương. Với vết thương nhỏ, quá trình tăng sinh biểu mô diễn ra nhanh hơn
và vì vậy vết thương mau lành. Ở vết thương lớn hoặc vết thương mạn tính, quá
trình tăng sinh biểu mô diễn ra khó khăn hơn, đôi khi phải nhờ tớiphẫu thuật cấy
ghép để hỗ trợ quá trình liền vết thương.
Giai đoạn tái lập mô và liền sẹo: Giai đoạn này bắt đầu vào khoảng tuần thứ
3 sau khi bị thương và kéo dài nhiều tháng tới nhiều năm nhằmđảm bảo tính toàn
vẹn về cấu trúc và chức năng của mô. Đặc trưng của giai đoạn tái lập mô là tăng
liên kết chéo collagen để tăng tính bền vững của mô liên kết; collagenase được kích
hoạt để giảm sự tích tụ quá mức của collagen, hạn chế sẹo; giảm mạng lưới mao
mạch; giảm thành phần proteoglycan và thay thế bằng thành phần nước của mô.
1.3.2. Các thành phần tế bào chủ yếu tham gia liền vết thương
Diễn biến liền vết thương nói chung đều trải qua các giai đoạn đông máu,
viêm, tăng sinh, tái lập mô và liền sẹo. Tuy quá trình liền vết thương có nhiều cơ
Các tế bào lớp đáy có cấu trúc cầu nối khác với các lớp ở trên, chúng có thể dễ dàng
bị xoá bỏ và cũng tự tái tạo lại để các tế bào sừng mới sinh ra di chuyển lên trên tạo
ra các lớp tế bào biệt hoá ở phía trên. Bình thường sự phân chia tế bào sừng lớp
mầm cân bằng với sự sừng hoá bong vảy của biểu bì nhưng khi da bị tổn thương thì
chúng tăng cường phân chia để tạo ra nhiều tế bào biểu mô. Các tế bào biểu mô sẽ
di cư vào trung tâm của vết thương ở dạng đơn lớp cho đến khi các tế bào tiếp xúc
trực tiếp với nhau thì tốc độ phân chia chậm lại và biệt hoá thành các lớp gai, lớp
hạt, lớp sừng ở phía trên để thực hiện chức năng bảo vệ của biểu bì. Trong quá trình
di cư chúng cần đệm gian bào đủ chất lượng như trung bì, chúng cần có các sợi
decorin, laminin…để bám vào và trượt dọc theo các sợi đó để di chuyển vào trung
tâm vết thương.
Thông thường, một vết thương sẽ lành trong vòng một vài tuần. Tuy nhiên,
có những vết thương lại không lành mặc dù đã trải qua các quá trình điều trị phục
hồi về mặt giải phẫu và chức năng trong thời gian trên 3 tháng - những vết thương
này được xếp vào nhóm vết thương mạn tính khó lành [22].
1.4. Vết thƣơng mạn tính
1.4.1. Các đặc điểm chính của vết thương mạn tính
Vết thương mạn tính có các đặc điểm chính sau:
- Các quai mạch máu thoái triển, già và ít, các tế bào nội mô giảm phân chia
nên tân mạch giảm, chất lượng mô hạt kém
12
Footer Page 20 of 126.
Header Page 21 of 126.
- Các tế bào biểu mô quanh vết thương giảm hoặc ngừng phân bào, do đó
chúng không phát triển được vào phía trung tâm vết thương
Loét động mạch: Loại loét này có thể gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp, xơ vữa
động mạch gây hẹp tắc, và do cục huyết khối. Các nguyên nhân trên làm giảm
nguồn cung cấp máu dẫn đến một tình trạng thiếu máu cục bộ. Khi việc cung cấp
máu và oxy cùng chất dinh dưỡng đến vết thương bị suy giảm, quá trình lành vết
thương có thể bị trì hoãn làm cho nó trở nên khó liền hoặc không bao giờ liền được.
Trong những trường hợp này cần tới sự xử trí của bác sỹ chuyên khoa vì nếu xử trí
sai thì có thể dẫn tới hậu quả nặng nề, thậm chí tử vong do nhiễm trùng.
Hình 1.3. Vết loét mạch máu (Theo Andrew J.M. Boulton, 2008)
Loét tĩnh mạch: Loét tĩnh mạch chiếm hơn một nửa số trường hợp loét, đặc
biệt là ở chi dưới. Bệnh thường gặp trong các trường hợp có huyết khối ở tĩnh mạch
sâu hay suy giãn các van tĩnh mạch. Loét tĩnh mạch có thể dẫn đến ứ trệ máu ở
ngoại vi, máu không lưu thông được một cách bình thường.
Loét trong bệnh tiểu đường: Đây là một biến chứng thường gặp trong bệnh
đái tháo đường. Do đường máu không được kiểm soát tốt, dẫn đến chức năng miễn
dịch bị suy yếu, thiếu máu do máu lưu thông kém, xơ vữa động mạch và tổn thương
dây thần kinh, cuối cùng dẫn đến tổn thương của da và loét.
14
Footer Page 22 of 126.
Header Page 23 of 126.
Hình 1.4. Vết loét chi dưới do bệnh tiểu đường (Theo Lauren Collins và cs, 2010)
Loét áp lực: Sức ép liên tục và ma sát do trọng lượng cơ thể tì lên một vùng
cơ thể trong thời gian kéo dài có thể dẫn đến tổn thương của da và loét; hay gặp ở vị
trí tì đè trên cơ thể.
mạch, suy van tĩnh mạch, vết bỏng lâu lành, bệnh về hệ thống miễn dịch da... Đáng
chú ý, khá nhiều bệnh nhân bị ung thư phải xạ trị dẫn tới loét.Trên thực tế, nhu cầu
trị liệu vết thương mạn tính rất lớn, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi.
Trong những năm gần đây, thế giới đã có nhiều tiến bộ trong điều trị vết
thương khó lành. Điều đó không chỉ dừng lại ở một vài phương pháp đơn lẻ mà đã
trở thành quá trình trị liệu có hệ thống. Để nâng cao hiệu quả trong điều trị, nhiều
quốc gia đã thành lập các hiệp hội, trung tâm nghiên cứu và điều trị vết thương khó
lành như World Union of Wound Healing Societies (WUWHS), Wound Care
Associates, The Wound Healing Center,…
Ở Việt Nam, khoa Liền vết thương của Viện Bỏng quốc gia (Học viện Quân
y) đã được chính thức thành lập năm 2012 với nhiều trang bị, máy móc hiện đại
nhằm điều trị vết thương khó lành. Đây là cơ sở chuyên khoa đầu tiên trong cả nước
về lĩnh vực liền vết thương, đánh dấu sự phát triển mới của chuyên ngành liền vết
thương tại nước ta với tư cách là một chuyên ngành độc lập. Tại đây, các phương
pháp điều trị vết thương khó lành có thể chia thành các nhóm gồm: Nhóm phương
pháp điều trị cơ bản; nhóm phương pháp điều trị tiến bộ và nhóm phương pháp tích
cực.
Nhóm phương pháp tích cực kích thích quá trình liền vết thương diễn ra
nhanh hơn bình thường. Ngoài các phương pháp truyền thống như thay băng, phẫu
thuật chuyển vạt da, ghép da…, các chuyên gia y tế đã sử dụng các vật liệu sinh
học, các yếu tố tăng trưởng để kích thích quá trình tăng sinh và tăng cường chức
16
Footer Page 24 of 126.
Header Page 25 of 126.
năng của các thành phần tế bào tham gia liền vết thương, sử dụng kỹ thuật ô-xy cao
17
Footer Page 25 of 126.