tóm tắt Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀM THỊ HOA

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN
SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016
i
Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀM THỊ HOA

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03


Header Page 4 of 126.

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
BLDS: Bộ luật dân sự
BLLĐ: Bộ luật lao động
NLPLTTDS: Năng lực pháp luật tố tụng dân sự
NLHVTTDS: Năng lực hành vi tố tụng dân sự
PLTTGQCVADS: Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự
PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế
PLTTGQTCLĐ : Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
VADS : Vụ án dân sự
UBND: Ủy ban nhân dân.

iv
Footer Page 4 of 126.


Header Page 5 of 126.

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ
ÁN DÂN SỰ

7


1.2.4. Từ năm 2005 đến nay

22

1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể

24

1.3.1 Quy định của pháp luật – yếu tố ảnh hƣởng có tính chất quyết định quyền tự
do khởi kiện của chủ thể.

25

1.3.2. Nhận thức của chủ thể - yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến thực hiện quyền
tự do khởi kiện chủ chủ thể.

26

1.3.3 Trách nhiệm của Toà án, cơ quan trực tiếp thụ lý giải quyết các vụ án – yếu
tố ảnh hƣởng tích cực đến thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể.

28

1.3.4 Hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức khác – yếu tố
ảnh hƣởng không nhỏ đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể.

29

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1


2.3. Bảo đảm quyền tự do khởi kiện của chủ thể thông qua các quy định về hoạt
động của cơ quan tiến hành tố tụng và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.

62

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

73

CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO
KHỞI KIỆN VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
THEP PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ

75

3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

75

3.1.1. Về kết quả đạt đƣợc trong việc thực hiện các quy định về quyền tự do khởi
kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam

75

3.1.2. Về những bất cập, vƣớng mắc nảy sinh trong việc thực hiện các quy định
về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam.

76

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do khởi kiện vụ án

đầu từ ngày 01/01/2017 đã đặc biệt đề cao quyền con ngƣời, quyền dân sự trong đó
quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự của chủ thể pháp luật đƣợc thể hiện khá rõ nét.
Có thể nói, sau hơn 10 năm Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 và Bộ luật Dân sự 2005
và một số luật chuyên ngành khác có hiệu lực thi hành, các quy định về quyền tự do
khởi kiện đã bộc lộ những hạn chế nhất định, quyền khởi kiện của chủ thể chƣa đƣợc
đảm bảo triệt để do quy định của pháp luật tố tụng còn chung chung hoặc do thiếu vắng
các quy định của luật nội dung nên các cơ quan tài phán chƣa làm hết trách nhiệm của
mình dẫn đến quyền dân sự của chủ thể chƣa đảm bảo triệt để. Bộ luật Dân sự và Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015 đƣợc xây dựng trên cơ sở kế thừa và cơ bản sẽ khắc phục
đƣợc phần lớn những khiếm khuyết của Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Tố tụng dân sự
2004, đề cao quyền tự do khởi kiện của các chủ thể, trách nhiệm của cơ quan tài phán
trong xử lý vụ việc, tranh chấp dân sự. Tuy nhiên những quy định về quyền tự do khởi
kiện của chủ thể pháp luật dân sự trong pháp luật dân sự hiện nay, cụ thể là trong Bộ
luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 có hiệu lực một phần vào ngày 01/7/2016 và hiệu lực toàn bộ vào ngày
01/01/2017 và một số luật chuyên ngành khác nhƣ Luật Doanh nghiệp, Luật hôn nhân
và gia đình, luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em... chƣa thực sự đảm bảo trọn vẹn cho việc
thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể trong giao lƣu dân sự?. Nội dung Bộ luật
1
Footer Page 7 of 126.


Header Page 8 of 126.

Dân sự, với các văn bản luật chuyên ngành và Bộ luật Tố tụng dân sự có đảm bảo sự
thống nhất hay vẫn còn những quy định về quyền tự do khởi kiện còn chồng chéo?
Chính từ thực trạng đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và
đầy đủ về chế định Quyền tự do khởi kiện trong pháp luật dân sự Việt Nam nhằm góp
phần hoàn thiện những quy định của pháp luật dân sự, đảm bảo quyền tự do khởi kiện
của chủ thể mỗi khi quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm. Với những lý

“Xây dựng quy định pháp lý đảm bảo quyền khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật cạnh
tranh tại toà án” của tác giả Lê Thế Phúc (Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 6 năm
2007); “Bàn về điều kiện khởi kiện của các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp bảo
đảm tiền vay” của tác giả Trịnh Huy Tân (Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân
Tối cao số 9/2008); “Về việc rút đơn khởi kiện của đƣơng sự trong tố tụng dân sự” của
ThS Nguyễn Triều Dƣơng (Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 11/2009); “Về điều kiện
khởi kiện tranh chấp thƣơng mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án trong một vụ
án cụ thể” của tác giả Ngô Đình Quyến (Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 3/2008);
"Quyền khởi kiện và việc xác định tƣ cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần Anh
Tuấn (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23/2008), “Thời hạn giao nộp chứng cứ của đƣơng
sự và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Bùi Thị Huyền ( Tạp chí Kiểm sát số
10/2016)...
Các công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải quyết vấn đề quyền khởi kiện ở một
góc độ khác nhau và chủ yếu tập trung nghiên cứu trên cơ sở Luật tố tụng dân sự ( luật
hình thức) mà chƣa có công trình nghiên cứu nào toàn diện, chuyên sâu cả về Luật nội
dung đến Luật hình thức về chế định quyền khởi kiện, đặc biệt hiện nay khi Hiến pháp
năm 2013 có hiệu lực thi hành, nội dung đặc biệt đề cao quyền con ngƣời, đòi hỏi các
ngành luật phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, thống nhất với các quy định trong Hiến
pháp. Pháp luật dân sự không phải là một ngoại lệ, đặc biệt là Bộ luật Tố tụng dân sự,
Bộ luật dân sự 2015 đã đƣợc Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 và sẽ có hiệu lực thi
hành toàn bộ kể từ ngày 01/01/2017 và nhiều luật chuyên ngành khác cũng đã đƣợc
Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành nhƣ Luật hôn nhân và gia đình... Trƣớc tình
hình đó, tôi đã chọn đề tài "Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt
Nam” làm luận văn thạc sỹ của mình. Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu,
toàn diện và có hệ thống về quyền khởi kiện vụ án dân sự của chủ thể trong pháp luật
dân sự.

3
Footer Page 9 of 126.

chức dƣới góc nhìn lý luận, luật thực định và thực tiễn. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài
sẽ đƣợc giới hạn trong phạm vi sau đây:
4
Footer Page 10 of 126.


Header Page 11 of 126.

Pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Việt Nam và một số luật chuyên ngành về
quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự.
Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tự do khởi kiện vụa án
dân sự trong đó tập trung nghiên cứu Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự 2015 và
một số luật chuyên ngành khác nhƣ Luật doanh nghiệp, Luật hôn nhân và gia đình,
Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em......; Đề tài đƣợc nghiên cứu trong giai đoạn BLTTDS
2004 và BLDS 2005 sắp hết hết hiệu lực thi hành trong khi BLTTDS và BLDS 2015
đã đƣợc Quốc hội thông qua và đã có hiệu lực hoặc có hiệu lực một phần. Do vậy luận
văn sẽ đi sâu phân tích , đánh giá khoa học, có sự so sánh giữa các quy định của luật cũ
và mới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành luật BLDS 2005 và BLTTDS năm 2004
để tìm ra những điểm bất cập trong quy định của BLDS và BLTTDS năm 2015. Vấn
đề thực thi quyền khởi kiện đang áp dụng thông qua các hoạt động tố tụng dân sự tại
Tòa án theo BLTTDS năm 2004 và BLDS năm 2005 và những ngành luật chuyên
ngành khác, đề xuất giải pháp kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục tiêu nghiên cứu đề tài trên, tác giả tiến hành nghiên cứu
dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
Nhà nƣớc và pháp luật. Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của
đề tài, luận văn sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác
nhƣ phƣơng pháp phân tích hệ thống; phƣơng pháp tổng hợp; phƣơng pháp so sánh;
phƣơng pháp thống kê...v.v.

Footer Page 12 of 126.


Header Page 13 of 126.

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự
1.1.1. Khái niệm quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự
1.1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự
“ Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào
quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố
tụng dân sự „ [3, tr 230]. Thống nhất với quan điểm trên, theo TS. Hoàng Ngọc Thỉnh
thì “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể…Việc
thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện vụ án dân sự” và “Khởi
kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tố chức hoặc các chủ thể khác theo quy
định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác”[4, tr238]. Khởi kiện trƣớc hết
là quyền dân sự của các chủ thể, là phƣơng thức mà các chủ thể yêu cầu toà án bảo vệ
quyền dân sự cho mình, cho nhà nứớc hoặc ngƣời khác. Quyền dân sự này đƣợc pháp
luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện nó đƣợc thể hiện bằng việc toà án xem xét, thụ lý
và giải quyết.
Khi Nhà nƣớc ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
đƣợc ghi nhận bằng pháp luật của Nhà nƣớc và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết
chế do Nhà nƣớc thiết lập. Theo đó, quyền khởi kiện của cơ quan tổ chức, cá nhân đã
đƣợc pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nƣớc quy định bảo
vệ quyền, lợi hợp pháp của mình.
Trong cổ luật La Mã, đã có những quy định đầu tiên về quyền khởi kiện của công

“tố quyền tức là có quyền đi kiện”[6, tr23]. TS. Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳng định
trong Giáo trình Luật tố tụng dân của trƣờng Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng “Quyền
khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội
yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể của Nhà
nƣớc hay của ngƣời khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”[7, tr109-110]. Khái niệm
này dƣờng nhƣ không đề cập tới các việc không có tranh chấp nhƣng nghiên cứu về
khái niệm vụ án dân sự trong Giáo trình này” [7,tr6-7], Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự 1989 và thực tiễn tố tụng tại Toà án thì có thể khẳng định trong
khái niệm trên quyền khởi kiện đƣợc thực hiện đối với cả các việc dân sự không có
tranh chấp.
8
Footer Page 14 of 126.


Header Page 15 of 126.

Trong lịch sử pháp lý nƣớc ta, có thời kỳ khái niệm quyền khởi kiện đƣợc hiểu
theo nghĩa rất rộng và đồng nhất với quyền yêu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo
BLTTDS hiện nay. Theo đó, quyền khởi kiện đƣợc hiểu là khả năng Nhà nƣớc cho
phép công dân đƣợc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
mình khi cho rằng quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận
một sự kiện pháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao
động. Tuy nhiên, trên cơ sở kế thừa BLTTDS 2004, BLTTDS năm 2015 đã tách thủ
tục giải quyết vụ án dân sự trƣớc đây thành hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải
quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện
đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn trƣớc đây, quyền khởi kiện vụ án dân sự không còn bao
hàm cả quyền yêu cầu xem xét về việc công nhận hay không công nhận một sự kiện
pháp lý hoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thƣơng mại, lao
động nhƣ trƣớc đây nữa mà quyền khởi kiện vụ án dân sự đƣợc hiểu là quyền yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong vụ án dân sự.

thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về
tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây
gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về
yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi
chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây
gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án;”.
Nhƣ vậy, có thể hiểu, Vụ án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan,
tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định
của pháp luật TTDS. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nội dung khởi kiện vụ án dân
sự mà không nghiên cứu về yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự.
Chủ thể của quyền khởi kiện là ai? Hay ai là ngƣời có thể thực hiện quyền khởi
kiện? Có 2 quan điểm khác nhau về chủ thể của quyền khởi kiện.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ
quyền lợi của nguyên đơn. Điều 68 khoản 2 BLTTDS năm 2015 quy định:
“ Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ
án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa
án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng
là nguyên đơn.”

10
Footer Page 16 of 126.


Header Page 17 of 126.

Quyền khởi kiện của nguyên đơn là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của
chủ thể có quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền



Header Page 18 of 126.

Cũng theo góc nhìn về sự bình đẳng giữa các đƣơng sự trong việc bảo vệ quyền
lợi của mình thì ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có
quyền đƣa ra yêu cầu độc lập của mình trong vụ án đã đƣợc thiết lập giữa nguyên đơn
và bị đơn. Yêu cầu tố tụng này có thể chống nguyên đơn, bị đơn hoặc chống cả nguyên
đơn và bị đơn. Bản chất của yêu cầu độc lập này là một yêu cầu tố tụng của ngƣời thứ
ba nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm trong một vụ án đã
phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn. Khi nghiên cứu về vấn đề này TS. Nguyễn Công
Bình cho rằng: “Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của ngƣời có quyền và nghĩa vụ
liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn và
bị đơn. Thông thƣờng ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập
có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhƣng do vụ án dân sự đã xuất hiện
giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ sau đó sẽ gặp khó khăn”
[2, tr108].
Xét về bản chất thì quyền phản tố của bị đơn có thể hiểu là quyền khởi kiện
ngƣợc lại của bị đơn, quyền yêu cầu của ngƣời có quyền nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập là quyền khởi kiện chống lại cả nguyên đơn và bị đơn hoặc chỉ chống lại
nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án dân sự.
Nhất trí với quan điểm thứ hai về chủ thể quyền khởi kiện, luận văn nghiên cứu
chủ thể quyền khởi kiện bao hàm quyền khởi kiện của nguyên đơn, quyền phản tố hay
quyền khởi kiện ngƣợc lại của bị đơn, quyền có yêu cầu độc lập hay quyền khởi kiện
chống lại nguyên đơn, bị đơn hay chống cả nguyên đơn, bị đơn của ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình khi mà vụ án giữa
nguyên đơn và bị đơn đã đƣợc thiết lập.
Nhƣ vậy theo pháp luật Việt Nam, khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ
quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp

ngƣời năm 1948 (đoạn 1 lời nói đầu) đã ghi rõ rằng:... thừa nhận phẩm giá vốn có và
các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại.
Ở góc độ quốc gia, bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776
ghi rằng:“ mọi ngƣời sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có hể xâm phạm đƣợc, trong những quyền đó có quyền đƣợc sống, quyền tự
do và quyền mƣu cầu hạnh phúc „ những quyền này còn đƣợc thể hiện trong Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 và Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của
Việt Nam. Có thể hiểu quyền tự do của con ngƣời là quyền tự nhiên, vốn có nhƣng
trong khuôn khổ pháp luật của mỗi nhà nƣớc.
13
Footer Page 19 of 126.


Header Page 20 of 126.

Quyền tự do khởi kiện có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Quyền tự do khởi kiện đƣợc thể hiện ở quyền tự quyết định có khởi
kiện hay không khởi kiện khi quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Giáo sƣ
Serge Guinchard – một tố tụng gia đầu ngành của Pháp cho rằng, cần phân biệt các bên
đƣơng sự trong vụ kiện với chủ thể của tố quyền, những chủ thể có tố quyền chỉ trở
thành đƣơng sự trong tố tụng, kể từ ngày họ thực hiện quyền đi kiện của mình bằng
một đơn kiện; ngƣợc lại, ngƣời ta có thể là một bên đƣơng sự trong vụ kiện mà không
là chủ thể của tố quyền, đó là trƣờng hợp nguyên đơn kiện nhƣng sau đó bị phủ nhận
quyền khởi kiện bằng một bản án, do không có lợi ích trong việc kiện, hoặc trƣờng hợp
ngƣời bị đòi ra toà với tƣ cách là bị đơn trong vụ kiện, nhƣng vụ kiện này kết thúc bởi
một phán quyết bác bỏ tƣ cách bị đơn của họ[8, tr506].
Để thực hiện đƣợc quyền tự do khởi kiện của mình, chủ thể quyền khởi kiện phải
đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Điều kiện đầu tiên phải đƣợc kể đến đó là
điều kiện về chủ thể. Chủ thể muốn thực hiện việc khởi kiện thì phải có năng lực pháp
luật tố tụng dân sự (NLPLTTDS) và năng lực hành vi tố tụng dân sự (NLHVTTDS).

mà không bị bất kỳ một cá nhân, tổ chức hay cơ quan nhà nƣớc nào đƣợc phép cản trở
hoặc hạn chế một cách tùy tiện.
Thứ ba, quyền tự do khởi kiện thể hiện ý chí tự nguyện của chủ thể, ý chí này
đƣợc thể hiện trong nhận thức và hành động, không bị ai ép buộc .
Thứ tư, chủ thể có quyền tự do khởi kiện nhƣng quyền khởi kiện đó không vi
phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Quyền tự do của chủ thể
đƣợc đặt trong mối quan hệ với quyền và lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội để
đảm bảo một điều rằng, chủ thể có thể tự do thực hiện quyền khởi kiện nhƣng không
phải lúc nào chủ thể cũng có thể kiện và kiện bất kỳ điều gì. Suy cho cùng, quyền tự do
khởi kiện bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật, những quy định này đƣợc xây
dựng trên cơ sở xem xét đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội.
Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự có thể đƣợc hiểu là chủ thể được tự quyết
định thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích công
cộng , lợi ích Nhà nước theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định pháp luật về quyền tự do khởi
kiện
Quyền và lợi ích của các chủ thể là động lực để các chủ thể tham gia vào các
quan hệ xã hội. Trong giao lƣu dân sự, quyền và lợi ích của các bên đƣợc xem nhƣ là
tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự“ Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu
15
Footer Page 21 of 126.


Header Page 22 of 126.

không có yêu cầu khởi kiện của các bên „ Nhƣ vậy quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ thể là cơ sở để các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện. Các quyền và lợi ích này có
thể là các quyền về tài sản hoặc quyền nhân thân. Tự do khởi kiện vụ án dân sự chính
là công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ các quyền dân sự của chủ thể. Cơ sở để pháp

Header Page 23 of 126.

BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 quy định cụ thể, chính xác và đầy đủ hơn quyền
dân sự trong đó có quyền tự do khởi kiện của chủ thể:
1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công
nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp
cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội,
sức khỏe của cộng đồng. (Điều 2 BLDS năm 2015).
Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự
bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền: Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình;
Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai; Buộc thực hiện
nghĩa vụ; Buộc bồi thƣờng thiệt hại; Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, ngƣời có thẩm quyền; Yêu cầu khác theo quy định của luật.
Việc ghi nhận quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự chính là công cụ hữu hiệu để
bảo vệ quyền dân sự của chủ thể trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên
quan. Có thể nói khởi kiện là“ phƣơng thức luật định mở rộng cho hết thảy những ai
muốn cầu cứu đến công lý, để xin che chở quyền lợi lâm nguy „[30, tr109].
Tuy nhiên để thực hiện quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể của quyền
khởi kiện phải chứng minh giữa chủ thể và ngƣời bị kiện trƣớc đó đã tồn tại quan hệ
pháp luật dân sự mà theo quan hệ pháp luật này chủ thể quyền khởi kiện bị ảnh hƣởng,
xâm phạm về quyền và lợi ích.Việc chứng minh đƣợc thể hiện ở việc cung cấp tài liệu
chứng cứ chứng minh quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên. Điều này đƣợc quy định
trong các luật về nội dung nhƣ Bộ luật dân sự; Luật Doanh nghiệp, Luật bảo vệ và
chăm sóc trẻ em, Luật hôn nhân và gia đình......
Ngoài điều kiện chứng minh quyền và lợi ích bị xâm phạm thì điều kiện tƣ cách
pháp lý của chủ thể có cho phép chủ thể đƣợc đứng đơn khởi kiện hay không? Bộ luật
tố tụng dân sự 2015 đƣợc ban hành trên cơ sở kế thừa các quy định Bộ luật tố tụng dân
sự 2005 đã quy định cụ thể về chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự. Thông

Bộ Luật Gia Long. Tuy nhiên, những quy định trong các Bộ luật này thể hiện quyền
khởi kiện không có sự phân biệt các vụ kiện về dân sự hay hình sự, tất cả các hành vi
vi phạm pháp luật đều bị các chế tài về hình sự kể cả những vụ việc mà ngày nay
chúng ta coi chỉ có tính chất dân sự.
Căn cứ để khởi kiện là các hành vi phạm tội đƣợc ghi nhận trong luật Hồng Đức
và Luật Gia Long. Ngƣời đứng đơn khởi kiện đƣợc gọi là nguyên cáo, là ngƣời có
quyền lợi bị xâm phạm phải chứng minh đƣợc quyền khởi kiện của mình bằng việc đƣa
18
Footer Page 24 of 126.


Header Page 25 of 126.

ra những bằng chứng và chứng cứ để chứng minh về cơ sở của việc kiện. Chẳng hạn,
khởi kiện về điền thổ phải có văn tự, về tài sản phải có chúc thƣ, về nợ phải có giấy tờ
ghi nhận nợ.
Ngƣời bị nguyên cáo kiện đƣợc gọi là bị cáo, cũng có quyền phản đối yêu cầu của
nguyên cáo bằng hình thức tƣơng tự, đƣa ra bằng chứng chứng minh làm cơ sở cho
việc phản đối nộp cho nha môn. Nhƣ vậy, Cổ luật Việt Nam đã có những quy định cơ
bản về điều kiện khởi kiện. Tuy nhiên, Cổ luật cũng có những quy định hạn chế quyền
khởi kiện của các thành viên trong gia đình. Cụ thể là cấm con cháu kiện ông bà, cha
mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng (Điều 511 Luật Hồng Đức, Điều 306 Luật Gia
Long); con cháu cũng không đƣợc tố cáo ông bà cha mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ
chồng (Điều 504 Bộ Luật Hồng Đức, Điều 304 Bộ luật Gia Long)...v.v. Chính các quy
định này đã hạn chế quyền khởi kiện của công dân.
Trong thời kỳ Pháp thuộc thì các Bộ luật dân sự đƣợc áp dụng riêng rẽ cho ba kỳ.
Các bộ luật quan trọng ta phải kể đến đến đó là Bộ Luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu ra
đời năm 1883, Bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng
Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936. Các Bộ luật trên đều ghi nhận quyền công
dân trong lĩnh vực dân sự.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status