Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật việt nam (tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀM THỊ HOA

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN
SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016
i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀM THỊ HOA

QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. BÙI THỊ HUYỀN

Hà Nội – 2016

VADS : Vụ án dân sự
UBND: Ủy ban nhân dân.

iv


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ
ÁN DÂN SỰ

7

1.1. Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

7

1.1.1. Khái niệm quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự

7

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định pháp luật về quyền tự do khởi
kiện

15

1.2 Lƣợc sử các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong

tự do khởi kiện chủ chủ thể.

26

1.3.3 Trách nhiệm của Toà án, cơ quan trực tiếp thụ lý giải quyết các vụ án – yếu
tố ảnh hƣởng tích cực đến thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể.

28

1.3.4 Hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức khác – yếu tố
ảnh hƣởng không nhỏ đến quyền tự do khởi kiện của chủ thể.

29

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

31

CHƢƠNG 2: QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO

32

PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

32

2.1. Các quy định của pháp luật nội dung về quyền tự do khởi kiện

32


75

3.1.1. Về kết quả đạt đƣợc trong việc thực hiện các quy định về quyền tự do khởi
kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam

75

3.1.2. Về những bất cập, vƣớng mắc nảy sinh trong việc thực hiện các quy định
về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam.

76

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do khởi kiện vụ án
dân sự theo pháp luật Việt Nam

85

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3

91

KẾT LUẬN CHUNG

92

vi


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu


Dân sự, với các văn bản luật chuyên ngành và Bộ luật Tố tụng dân sự có đảm bảo sự
thống nhất hay vẫn còn những quy định về quyền tự do khởi kiện còn chồng chéo?
Chính từ thực trạng đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và
đầy đủ về chế định Quyền tự do khởi kiện trong pháp luật dân sự Việt Nam nhằm góp
phần hoàn thiện những quy định của pháp luật dân sự, đảm bảo quyền tự do khởi kiện
của chủ thể mỗi khi quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm. Với những lý
do đó, việc nghiên cứu đề tài " Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật
Việt Nam" có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền khởi kiện vụ án dân sự là một đề tài thu hút khá nhiều sinh viên, học viên,
nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu vì nó có tính ứng dụng trong thực tiễn đời sống
xã hội. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu nhƣ luận văn cao học luật với đề tài
“Đƣơng sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn
Triều Dƣơng (bảo vệ tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2005); luận văn “Thụ lý vụ
án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Liễu Thị Hạnh (bảo vệ tại
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2009); luận văn “ Khởi kiện vụ án dân sự theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004” của tác giả Nguyễn Thị Hƣơng ( bảo vệ tại
Khoa Luật Trƣờng Đại học quốc gia Hà Nội năm 2011) hay luận văn “ Hoàn thiện chế
định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Thu Hiền ( bảo vệ tại khoa Luật trƣờng Đại học quốc gia Hà Nội năm
2012)....Tuy nhiên các công trình này cũng chỉ đề cập đến một nội dung cụ thể nào đó
của quyền khởi kiện hoặc nghiên cứu một cách gián tiếp về quyền khởi kiện của đƣơng
sự và chỉ nghiên cứu tập trung vào các quy định của luật tố tụng dân sự ( luật hình
thức) mà không đi sâu nghiên cứu quyền tự do khởi kiện dƣới góc độ luật nội dung và
tố tụng, các đề tài trên đều nghiên cứu trên cơ sở quy định BLTTDS năm 2004,
BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011. Ngoài ra, cũng có một số bài viết trên các tạp chí
chuyên ngành về một nội dung nào đó của quyền khởi kiện hoặc bình luận về các vụ
việc cụ thể liên quan đến quyền khởi kiện. Chẳng hạn nhƣ bài viết “Vấn đề khởi kiện
và thụ lý vụ án dân sự” của ThS. Lê Thị Bích Lan đăng tải trên Tạp chí Luật học của

dân sự.

3


3. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ đƣợc những vấn đề lý luận cũng nhƣ
thực tiễn nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tự do khởi
kiện vụ án dân sự, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chƣa hợp lý, chƣa thống nhất
trong các quy định hiện hành của pháp luật về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự.
Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng nhằm làm sáng rõ phạm vi quyền tự do khởi kiện của
chủ thể khởi kiện, trách nhiệm cơ quan nhà nƣớc trong việc bảo đảm quyền tự do khởi
kiện của chủ thể. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, luận văn sẽ đề xuất một số
giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện vụ
án dân sự nhằm đảm bảo quy định thống nhất quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự của
cá nhân, cơ quan, tổ chức khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự .
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện vụ
án dân sự, phạm vi quyền khởi kiện và thực thi quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Toà
án. Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, thiếu hợp lý, chƣa thông nhất trong các quy định
của pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện Vụ án dân sự;
- Đƣa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền
tự do khởi kiện Vụ án dân sự.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quyền tự do khởi kiện Vụ án dân sự của chủ
thể và trách nhiệm của Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm
thực hiện quyền tự do khởi kiện của chủ thể theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ

trong đó tập trung nghiên cứu nội dung quyền tự do khởi kiện, chủ thể thực hiện quyền
khởi kiện và chủ thể trực tiếp giải quyết nội dung khởi kiện theo pháp luật dân sự Việt
Nam. Với việc nghiên cứu quyền khởi kiện một cách có hệ thống và toàn diện cả về lý
luận, luật thực định và thực tiễn thực hiện lần đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về các
quy định của pháp luật quyền khởi kiện ở cả luật hình thức và luật nội dung nhằm chỉ
5


ra thực trạng thực thi quyền khởi kiện cũng nhƣ những bất cập, vƣớng mắc trong việc
thực hiện pháp luật, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về
quyền khởi kiện trong pháp luật dân sự, nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền tự
do khởi kiện trên thực tế. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, nếu luận văn đƣợc bảo vệ
thành công thì sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ quan tƣ pháp trong thực thi Bộ
luật Tố tụng dân sự , Bộ luật dân sự năm 2015 và một số luật chuyên ngành.
6. Địa điểm nghiên cứu:
Luận văn đƣợc giới hạn phạm vi nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết
cầu bởi 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự
Chƣơng 2: Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Chƣơng 3: Thực tiễn thực thi quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật
Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện.

6


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

ý chí của ngƣời đó [4, tr 212].
Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, quyền khởi kiện đƣợc ghi nhận là một
quyền con ngƣời trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các công ƣớc
quốc tế khác. Quyền khởi kiện là một trong những nhóm quyền tố tụng thuộc quyền
con ngƣời và suy cho cùng thì quyền khởi kiện là quyền của một chủ thể trong mối
quan hệ xã hội đƣợc pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo tốt nhất cho những quyền, lợi
ích hợp pháp của mình đƣợc thực hiện.
Theo các nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp thì “tố quyền” là khả năng đƣợc
thừa nhận đối với cá nhân đƣợc yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt đƣợc sự tôn
trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Theo từ điển thuật ngữ luật học của
Pháp thì tố quyền trƣớc công lý là khả năng đƣợc thừa nhận đối với các chủ thể đƣợc
cầu viện tới công lý để đạt đƣợc sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng. Theo
Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự mới của Pháp thì thuật ngữ “action” – “tố quyền” đƣợc
dịch là quyền tham gia tố tụng theo đó “quyền tham gia tố tụng đối với ngƣời có yêu
cầu là quyền đƣợc trình bày về nội dung yêu cầu của mình để Thẩm phán quyết định
xem xét yêu cầu nhƣ vậy là có căn cứ hay không có căn cứ; đối với bên bị kiện quyền
tham gia tố tụng là quyền đƣợc tranh luận về căn cứ của yêu cầu do bên kia đƣa ra”[4,
tr23].
Ở Việt Nam, về phƣơng diện lý luận thì nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh cho rằng
“tố quyền tức là có quyền đi kiện”[6, tr23]. TS. Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳng định
trong Giáo trình Luật tố tụng dân của trƣờng Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng “Quyền
khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội
yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể của Nhà
nƣớc hay của ngƣời khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”[7, tr109-110]. Khái niệm
này dƣờng nhƣ không đề cập tới các việc không có tranh chấp nhƣng nghiên cứu về
khái niệm vụ án dân sự trong Giáo trình này” [7,tr6-7], Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự 1989 và thực tiễn tố tụng tại Toà án thì có thể khẳng định trong
khái niệm trên quyền khởi kiện đƣợc thực hiện đối với cả các việc dân sự không có
tranh chấp.
8

án kinh tế và vụ án lao động. Khái niệm vụ án dân sự không bao gồm các tranh chấp
phát sinh từ quan hệ lao động, kinh doanh, thƣơng mại, Vụ án dân sự chỉ bao gồm
9


những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình
nhƣ: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc
những việc tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết... mà đƣợc
tòa án thụ lý giải quyết.
BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015 đều không đƣa ra khái niệm về vụ án
dân sự mà chỉ liệt kê những loại việc nào đƣợc xác định là vụ án dân sự, loại việc nào
đƣợc xác định là yêu cầu dân sự, cụ thể tại điều 1 BLTTDS năm 2015 quy định “Bộ
luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự,
thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về
tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây
gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về
yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi
chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây
gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án;”.
Nhƣ vậy, có thể hiểu, Vụ án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan,
tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định
của pháp luật TTDS. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nội dung khởi kiện vụ án dân
sự mà không nghiên cứu về yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự.
Chủ thể của quyền khởi kiện là ai? Hay ai là ngƣời có thể thực hiện quyền khởi
kiện? Có 2 quan điểm khác nhau về chủ thể của quyền khởi kiện.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ
quyền lợi của nguyên đơn. Điều 68 khoản 2 BLTTDS năm 2015 quy định:
“ Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ

yêu cầu của nguyên đơn và ngƣời có yêu cầu độc lập khi thoả mãn những điều kiện
nhất định. Thực chất của phản tố là một việc kiện ngƣợc lại của bị đơn đối với nguyên
đơn và ngƣời có yêu cầu độc lập nhƣng đƣợc xét cùng với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan chặt chẽ với nhau. Nhƣ
vậy, xét theo nghĩa rộng về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện thì có thể
xem quyền phản tố cũng là quyền khởi kiện nhƣng là quyền khởi kiện ngƣợc lại của bị
đơn đối với nguyên đơn và ngƣời có yêu cầu độc lập do các yêu cầu này có mối liên hệ
nhất định.
11


Cũng theo góc nhìn về sự bình đẳng giữa các đƣơng sự trong việc bảo vệ quyền
lợi của mình thì ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có
quyền đƣa ra yêu cầu độc lập của mình trong vụ án đã đƣợc thiết lập giữa nguyên đơn
và bị đơn. Yêu cầu tố tụng này có thể chống nguyên đơn, bị đơn hoặc chống cả nguyên
đơn và bị đơn. Bản chất của yêu cầu độc lập này là một yêu cầu tố tụng của ngƣời thứ
ba nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm trong một vụ án đã
phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn. Khi nghiên cứu về vấn đề này TS. Nguyễn Công
Bình cho rằng: “Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của ngƣời có quyền và nghĩa vụ
liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn và
bị đơn. Thông thƣờng ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập
có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhƣng do vụ án dân sự đã xuất hiện
giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ sau đó sẽ gặp khó khăn”
[2, tr108].
Xét về bản chất thì quyền phản tố của bị đơn có thể hiểu là quyền khởi kiện
ngƣợc lại của bị đơn, quyền yêu cầu của ngƣời có quyền nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập là quyền khởi kiện chống lại cả nguyên đơn và bị đơn hoặc chỉ chống lại
nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án dân sự.
Nhất trí với quan điểm thứ hai về chủ thể quyền khởi kiện, luận văn nghiên cứu

phúc. Để đảm bảo những quyền này, các nhà nƣớc đƣợc hình thành trên cơ sở sự đồng
thuận của các thành viên trong một xã hội. Nếu hiểu theo nghĩa này thì tự do là một
khái niệm rất nhân văn, nó gắn liền với cái Tự nhiên (nói chung) và con ngƣời (nói
riêng). [1, tr46] Điều này đƣợc thể hiện trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
ngƣời năm 1948 (đoạn 1 lời nói đầu) đã ghi rõ rằng:... thừa nhận phẩm giá vốn có và
các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại.
Ở góc độ quốc gia, bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776
ghi rằng:“ mọi ngƣời sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có hể xâm phạm đƣợc, trong những quyền đó có quyền đƣợc sống, quyền tự
do và quyền mƣu cầu hạnh phúc „ những quyền này còn đƣợc thể hiện trong Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 và Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của
Việt Nam. Có thể hiểu quyền tự do của con ngƣời là quyền tự nhiên, vốn có nhƣng
trong khuôn khổ pháp luật của mỗi nhà nƣớc.
13


Quyền tự do khởi kiện có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Quyền tự do khởi kiện đƣợc thể hiện ở quyền tự quyết định có khởi
kiện hay không khởi kiện khi quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Giáo sƣ
Serge Guinchard – một tố tụng gia đầu ngành của Pháp cho rằng, cần phân biệt các bên
đƣơng sự trong vụ kiện với chủ thể của tố quyền, những chủ thể có tố quyền chỉ trở
thành đƣơng sự trong tố tụng, kể từ ngày họ thực hiện quyền đi kiện của mình bằng
một đơn kiện; ngƣợc lại, ngƣời ta có thể là một bên đƣơng sự trong vụ kiện mà không
là chủ thể của tố quyền, đó là trƣờng hợp nguyên đơn kiện nhƣng sau đó bị phủ nhận
quyền khởi kiện bằng một bản án, do không có lợi ích trong việc kiện, hoặc trƣờng hợp
ngƣời bị đòi ra toà với tƣ cách là bị đơn trong vụ kiện, nhƣng vụ kiện này kết thúc bởi
một phán quyết bác bỏ tƣ cách bị đơn của họ[8, tr506].
Để thực hiện đƣợc quyền tự do khởi kiện của mình, chủ thể quyền khởi kiện phải
đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Điều kiện đầu tiên phải đƣợc kể đến đó là
điều kiện về chủ thể. Chủ thể muốn thực hiện việc khởi kiện thì phải có năng lực pháp

Thứ ba, quyền tự do khởi kiện thể hiện ý chí tự nguyện của chủ thể, ý chí này
đƣợc thể hiện trong nhận thức và hành động, không bị ai ép buộc .
Thứ tư, chủ thể có quyền tự do khởi kiện nhƣng quyền khởi kiện đó không vi
phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Quyền tự do của chủ thể
đƣợc đặt trong mối quan hệ với quyền và lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội để
đảm bảo một điều rằng, chủ thể có thể tự do thực hiện quyền khởi kiện nhƣng không
phải lúc nào chủ thể cũng có thể kiện và kiện bất kỳ điều gì. Suy cho cùng, quyền tự do
khởi kiện bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật, những quy định này đƣợc xây
dựng trên cơ sở xem xét đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội.
Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự có thể đƣợc hiểu là chủ thể được tự quyết
định thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích công
cộng , lợi ích Nhà nước theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng quy định pháp luật về quyền tự do khởi
kiện
Quyền và lợi ích của các chủ thể là động lực để các chủ thể tham gia vào các
quan hệ xã hội. Trong giao lƣu dân sự, quyền và lợi ích của các bên đƣợc xem nhƣ là
tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự“ Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu
15


không có yêu cầu khởi kiện của các bên „ Nhƣ vậy quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ thể là cơ sở để các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện. Các quyền và lợi ích này có
thể là các quyền về tài sản hoặc quyền nhân thân. Tự do khởi kiện vụ án dân sự chính
là công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ các quyền dân sự của chủ thể. Cơ sở để pháp
luật quy định khởi kiện vụ án xuất phát từ nguyên tắc quyền dân sự của cá nhân đƣợc
tôn trọng và bảo vệ. Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 có ghi “Mọi
ngƣời đều có quyền đƣợc bảo vệ bằng các Tòa án quốc gia có thẩm quyền với phƣơng
tiện pháp lý có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã đƣợc
Hiến pháp và pháp luật công nhận”. Nhƣ vậy, quyền khởi kiện đƣợc ghi nhận trong

sức khỏe của cộng đồng. (Điều 2 BLDS năm 2015).
Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự
bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền: Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình;
Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc xin lỗi, cải chính công khai; Buộc thực hiện
nghĩa vụ; Buộc bồi thƣờng thiệt hại; Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, ngƣời có thẩm quyền; Yêu cầu khác theo quy định của luật.
Việc ghi nhận quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự chính là công cụ hữu hiệu để
bảo vệ quyền dân sự của chủ thể trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên
quan. Có thể nói khởi kiện là“ phƣơng thức luật định mở rộng cho hết thảy những ai
muốn cầu cứu đến công lý, để xin che chở quyền lợi lâm nguy „[30, tr109].
Tuy nhiên để thực hiện quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể của quyền
khởi kiện phải chứng minh giữa chủ thể và ngƣời bị kiện trƣớc đó đã tồn tại quan hệ
pháp luật dân sự mà theo quan hệ pháp luật này chủ thể quyền khởi kiện bị ảnh hƣởng,
xâm phạm về quyền và lợi ích.Việc chứng minh đƣợc thể hiện ở việc cung cấp tài liệu
chứng cứ chứng minh quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên. Điều này đƣợc quy định
trong các luật về nội dung nhƣ Bộ luật dân sự; Luật Doanh nghiệp, Luật bảo vệ và
chăm sóc trẻ em, Luật hôn nhân và gia đình......
Ngoài điều kiện chứng minh quyền và lợi ích bị xâm phạm thì điều kiện tƣ cách
pháp lý của chủ thể có cho phép chủ thể đƣợc đứng đơn khởi kiện hay không? Bộ luật
tố tụng dân sự 2015 đƣợc ban hành trên cơ sở kế thừa các quy định Bộ luật tố tụng dân
sự 2005 đã quy định cụ thể về chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự. Thông
thƣờng chủ thể của quyền khởi kiện là nguyên đơn, ngƣời có quyền và lợi ích hợp
pháp bị coi là xâm phạm hoặc có tranh chấp. Để thực hiện đƣợc quyền tự do khởi kiện,
17


chủ thể phải có đủ NLPLTTDS và NLHVTTDS. Để thực hiện quyền tự do khởi kiện,
chủ thể phải đảm bảo độ tuổi do luật định, từ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức,
làm chủ đƣợc hành vi của mình, không bị mất năng lực hành vi dân sự. Đối với những

khởi kiện về điền thổ phải có văn tự, về tài sản phải có chúc thƣ, về nợ phải có giấy tờ
ghi nhận nợ.
Ngƣời bị nguyên cáo kiện đƣợc gọi là bị cáo, cũng có quyền phản đối yêu cầu của
nguyên cáo bằng hình thức tƣơng tự, đƣa ra bằng chứng chứng minh làm cơ sở cho
việc phản đối nộp cho nha môn. Nhƣ vậy, Cổ luật Việt Nam đã có những quy định cơ
bản về điều kiện khởi kiện. Tuy nhiên, Cổ luật cũng có những quy định hạn chế quyền
khởi kiện của các thành viên trong gia đình. Cụ thể là cấm con cháu kiện ông bà, cha
mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng (Điều 511 Luật Hồng Đức, Điều 306 Luật Gia
Long); con cháu cũng không đƣợc tố cáo ông bà cha mẹ, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ
chồng (Điều 504 Bộ Luật Hồng Đức, Điều 304 Bộ luật Gia Long)...v.v. Chính các quy
định này đã hạn chế quyền khởi kiện của công dân.
Trong thời kỳ Pháp thuộc thì các Bộ luật dân sự đƣợc áp dụng riêng rẽ cho ba kỳ.
Các bộ luật quan trọng ta phải kể đến đến đó là Bộ Luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu ra
đời năm 1883, Bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng
Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936. Các Bộ luật trên đều ghi nhận quyền công
dân trong lĩnh vực dân sự.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Trong thời kỳ đầu của cách mạng Tháng 8 năm 1945 Nhà nƣớc ta chủ yếu ban
hành các sắc lệnh nhƣ Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho giữ tạm thời những luật
lệ hiện hành của chế độ cũ. Sau đó, Nhà nƣớc đã ban hành hàng loạt các sắc lệnh trong
lĩnh vực dân sự quyền dân sự, quyền khởi kiện đã đƣợc ghi nhận cụ thể, trong đó phải
kể đến Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950“ Sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân
luật „ có một ý nghĩa đặc biệt đặt cơ sở, những nguyên tắc cho sự hình thành và phát
triển của dân luật. Đó là nguyên tắc“ Những quyền dân sự đều đƣợc luật bảo vệ khi
ngƣời ta hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân „ ( Điều 1) hoặc nhƣ“ ngƣời ta
chỉ đƣợc hƣởng dụng và sử dụng các vật thộc quyền sở hữu của mình một cách hợp
pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân „ ( Điều 12)... Trong lĩnh vực
tố tụng Nhà nƣớc ban hành các Sắc lệnh cho phép Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng để
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status