Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ PHƯƠNG TÚ

KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ PHƯƠNG TÚ

KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Trần Quang Huy

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH TẠI QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI ................................................................................................................. 66
3.1 Những kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về áp
dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất để thi hành án dân sự. ... 66
3.2 Những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế kê
biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự trên địa bàn quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội ............................................................................................ 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THADS

Thi hành án dân sự

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

TAND

Tòa án nhân dân


sử dụng đất nhằm giải quyết dứt điểm bản án có hiệu lực của Tòa án.
Kê biên quyền sử dụng đất là biện pháp nghiêm khắc nhất mà Chấp
hành viên áp dụng khi tổ chức thi hành án dân sự đòi hỏi rất cao về mặt
chuyên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức
Chấp hành viên. Vì việc tổ chức kê biên quyền sử dụng đất có thuận lợi hay
không, an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội tại địa bản xảy ra việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất
hay không tùy thuộc vào việc có áp dụng thống nhất nguyên tắc này trên thực tế
của Chấp hành viên. Mặt khác, việc kê biên quyền sử dụng đất sự phối hợp của
các ban ngành các cấp là điều không thể thiếu nếu thiếu một thành phần theo
quy định thì việc cưỡng chế kê biên không thể diễn ra đúng luật dẫn đến phải
dừng, hoãn buổi kê biên, gây tổn hại rất lớn về kinh tế, tài sản của các bên.

1


Hơn nữa trong thực tế diễn ra khi cơ quan thi hành án dân sự tiến hành
các biện pháp cưỡng chế thi hành án đặc biệt là cưỡng chế kê biên quyền sử
dụng đất thì các quy định pháp luật về việc này còn thiếu, nhiều vướng mắc
gây khó khăn khi tiến hành trong thực tế.
Vì vậy việc nghiên cứu biện pháp kê biên quyền sử dụng đất trong thi
hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng, nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi
hành án dân sự. Từ những lý do đó tác giả lựa chọn đề tài “Kê biên quyền sử
dụng đất trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực
tiễn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” là đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với xu hướng phát triển không ngừng của xã hội và nhu cầu khách
quan của công tác thi hành án, trong những năm vừa qua đã có nhiều công
trình nghiên cứu về lĩnh vực thi hành án nói chung trong đó có liên quan đến
vấn đề kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự nói riêng. Nó được

hành án án dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về
kê biên quyền sử dụng đất; các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
kê biên quyền sử dụng đất và thực tế việc thực hiện biện pháp cưỡng chế này
trên địa bàn quận Đống Đa. Qua việc nghiên cứu nêu ra những hạn chế, bất
cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên quyền sử
dụng đất và thực tế việc thực hiện kê biên quyền sử dụng đất trên địa bàn
quận Đống Đa từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục để góp phần
nâng cao hiệu quả công tác kê biên quyền sử dụng đất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về kê biên quyền
sử dụng đất, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên quyền
sử dụng đất. Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến thực tiễn áp dụng pháp luật
về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự, đánh giá thực trạng kê
3


biên. Từ đó rút ra những giải pháp thiết thực để hoàn thiện pháp luật về kê biên
quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả chung
trong công tác thi hành án dân sự trong điều kiện mới của nước ta ngày nay.
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động kê biên quyền
sử dụng đất trong thi hành án dân sự cũng như áp dụng pháp luật trong
khoảng thời gian từ năm 2014 đến nay.
Về không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động và áp dụng pháp luật
về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự
trên phạm vi quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Đề tài có nội dung nghiên cứu rộng, tuy nhiên do giới hạn của luận văn
thạc sỹ việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào một số vấn đề lý luận cơ bản
về kê biên quyền sử dụng đất như khái niệm, đặc điểm kê biên quyền sử dụng

Nam hiện hành về kê biên quyền sử dụng đất và thực tiễn thực hiện trên địa
bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy
định của pháp luật THADS Việt Nam về kê biên quyền sử dụng đất.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
kết cấu 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành
án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về kê biên quyền sử
dụng đất trong thi hành án dân sự trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kê biên quyền sử dụng
đất trong thi hành án dân sự và nâng cao hiệu quả thi hành án tại quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội.

5


Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Khái niệm thi hành án dân sự
Theo đại từ điên tiếng Việt, thi hành là “Thực hiện điều đã chính thức
quyết định”[14]. Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án,
quyết định của Tòa án trên thực tế. Bản án quyết định của Tòa án được hiểu là
văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải
quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao
động, kinh tế, hành chính. Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có
hiệu quả, một mặt đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện
sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân

hành án dân sự là thi hành các quyết định của Tòa án tuyên trong bản án,
quyết định mà không giải quyết lại nội dung vụ án và là giai đoạn bảo vệ
quyền lợi cho các đương sự về mặt thực tế. Thi hành án dân sự có ý nghĩa vô
cùng quan trọng đó là bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực
tế trong cuộc sống, bảo đảm quyền lợi của đương sự bên cạnh đó thông qua
việc thi hành án, Cơ quan thi hành án phát hiện sai sót của Tòa án trong việc
áp dụng pháp luật từ đó kiến nghị Tòa án có thẩm quyền kịp thời chỉ đạo công
tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kiến nghị trong việc lập pháp.
Dưới góc độ lý luận, xung quanh khái niệm "dân sự" trong thi hành án
dân sự hiện nay được hiểu là những bản án, quyết định liên quan đến quan hệ
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Phạm vi của
thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: bản án, quyết
định về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết định về tài sản
trong bản án, quyết định hình sự (phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí); quyết
định về tài sản và quyền tài sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài
được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam. Điều này cũng

7


hoàn toàn phù hợp với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới: việc tổ chức
thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (Luật dân
sự, kinh doanh, thương mại, lao động), được thực hiện theo một thủ tục chung
mà không có sự tách bạch căn bản việc thi hành án dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh tế, thương mại hay lao động.
Các bản án, quyết định được thi hành án không chỉ là các bản án, quyết
định được ban hành bởi tòa án, của hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và của
trọng tài thương mại trong nước mà còn là những phán quyết được ban hành
bởi Tòa án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài nhưng được

thành ý thức pháp luật, tạo ra cho mỗi công dân một khả năng tư duy pháp lý,
tránh được những ngẫu nhiên, tùy tiện, coi thường pháp luật Nhà nước.
Tựu chung lại cưỡng chế được hiểu là Nhà nước dùng quyền lực của
mình buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện một hành vi hoặc nghĩa
vụ nhất định, theo quy định của pháp luật hoặc là quyền lực xã hội buộc mọi
người phải tuân theo luật, lệ ... đã đặt ra.
Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong
những phương pháp chủ yếu trong hoạt động quản lý nhà nước. Trong nhà
nước Pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà
nước, duy trì trật tự xã hội [9,tr.194]. Nhà nước thực hiện cưỡng chế thông
qua nhiều biện pháp cưỡng chế, những biện pháp cưỡng chế này được Nhà
nước trao quyền cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như: cưỡng
chế hành chính, cưỡng chế trong hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và cơ
quan tòa án và cưỡng chế thi hành án.
Trong hoạt động quản lý hành chính và xử lý vi phạm hành chính,
cưỡng chế hành chính được UBND và các cơ quan hành chính thực hiện như:
cưỡng chế hành chính đối với những đối tượng chống đối không di dời tài sản
để giải phóng mặt bằng phục vụ cho quốc phòng hoặc các cá nhân, cơ quan,
tổ chức vi phạm hành chính thì các cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các
biện pháp cưỡng chế được quy định tại Khoản 2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm
hành chính như kê biên tài sản, khấu trừ tài khoản của cá nhân, tổ chức ...[19].
9


Các biện pháp cưỡng chế của cơ quan điều tra được trao quyền cho thủ
trưởng cơ quan điều tra thực hiện được quy định tại Khoản 2 Điều 34 Bộ luật
tố tụng hình sự như: quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, kê biên tài
sản ...[15]. Trong hoạt động tố tụng cơ quan tòa án cũng được Nhà nước trao
quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 102 Bộ
luật tố tụng dân sự về các biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên tài sản

THADS. Thi hành án hình sự được Chính phủ giao cho Bộ công an quản lý,
công tác THADS được Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp quản lý. Việc áp
dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án hình sự hà khắc hơn biện pháp cưỡng
chế THADS. Sự khác biệt giữa thi hành án hình sự và THADS được thể hiện
ở căn cứ và tính chất của cưỡng chế thi hành án. Nếu như căn cứ cưỡng chế
thi hành án hình sự là phần hình phạt được tuyên trong quyết định của bản án
hình sự đó là hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và hình phạt tử hình. Thì
căn cứ cưỡng chế trong thi hành án dân sự lại là: Theo Điều 70 Luật THADS
năm 2008, căn cứ tổ chức cưỡng chế gồm có: bản án quyết định, quyết định
thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản, quyết định
đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Về tính chất cưỡng chế
hình sự có hiệu lực thi hành án ngay sau khi bản án hình sự có hiệu lực pháp
luật, tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hình sự đối với người
phải thi hành án, họ không có thời gian tự nguyện thi hành án. Ngay sau có
quyết định thi hành án, người phải thi hành án hình sự phải chấp hành ngay
tức khắc, nếu không cơ quan công an tiến hành cưỡng chế bằng việc bắt hoặc
dẫn giải người phải thi hành án đến các trại giam để thi hành án. Nhưng đối
với việc cưỡng chế THADS chỉ đặt ra khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành
án, cơ quan THADS ra quyết định thi hành án, giao cho Chấp hành viên thực
hiện, Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với người
phải thi hành án sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án ( theo khoản 1
điều 45 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 là 10 ngày)
11


trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy
hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Ngoài ra, cơ quan thi hành
án dân sự không không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng
trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống

hội. Ngoài ra, quyền sử dụng đất được xem như một quyền năng pháp lý tức
quyền năng này được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền sử dụng đất là một
loại quyền đặc trưng của người sử dụng đất, nó được phái sinh từ quyền sở
hữu toàn dân về đất đai. Đây là loại quyền phát sinh trên cơ sở kết hợp một
cách đặc thù quyền tài sản của chủ sở hữu với yếu tố quyền lực nhà nước.
Yếu tố quyền lực nhà nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước ban hành các quy
định pháp luật một cách chặt chẽ về hình thưc, thủ tục, điều kiện, quyền và
nghĩa vụ của các bên trong quan hệ sử dụng đất đai.
Quyền sử dụng đất là một trong loại tài sản có thể bị cưỡng chế kê biên
đảm bảo thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật. Kê biên
quyền sử dụng dất để thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế với người phải
thi hành án sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án, do chấp hành viên
tiến hành tính toán và ghi chép lại những quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất của người phải thi hành án theo một trật tự nhất định theo quy định pháp
luật nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Kê biên quyền sử dụng đất để thi hành án dân sự là một trong những
biện pháp khó khăn và phức tạp nhất trong các biện pháp cưỡng chế hiện nay,
đặc biệt là thực hiện kê biên đối với người phải thi hành án là cá nhân. Bởi vì
như chúng ta đã biết đất đai là những tài sản lớn và vô cùng quan trọng của
mỗi người, đó là nơi sinh hoạt, sản xuất của mỗi gia đình hay là nơi thiêng
liêng, nơi có mộ phần ông bà, cha mẹ của người phải thi hành và cũng là nơi
mà nhiều thế hệ ông bà, cha mẹ họ đã sống nơi đó. Nên việc cưỡng chế, tước
đi quyền năng của họ đối với tài sản này, buộc họ phải rời bỏ mảnh đất đó thì
có sự chây ỳ không muốn thưc hiện, thậm chí là kháng cự, chống đối là điều
không tránh khỏi.
13


Chính vì vậy, khi áp dụng biên pháp này phải đáp ứng đủ các điều kiện
như: Theo bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án phải có nghĩa

biên, cưỡng chế THADS.
Tóm lại: Kê biên QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế THADS, do Chấp
hành viên thực hiện quyền lực Nhà nước để kê biên QSDĐ của người phải thi
hành án buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tiền theo
bản án, quyết định của tòa án, trong trường hợp người phải thi hành án có
điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án.

1.2.3 Đặc điểm và ý nghĩa của kê biên QSDĐ trong Thi hành án dân sự
Đặc điểm của kê biên QSDĐ trong Thi hành án dân sự:
Mang tính quyền lực của Nhà nước, người áp dụng biện pháp kê biên là
người được Nhà nước trao quyền thực hiện quyền lực của Nhà nước nhằm
đảm bảo các bản án, quyết định của tòa án và các quyết định khác theo quy
định của pháp luật đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế. Quyền
lực Nhà nước còn thể hiện ở khía cạnh chỉ có cơ quan thi hành án mới có
quyền cưỡng chế kê biên và xử lý QSDĐ. Nhà nước không trao quyền này
cho bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào kể cả các văn phòng thừa phát lại cũng
không được ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ, quyền này thuộc về Cục
trưởng Cục THADS tỉnh xem xét phê duyệt kế hoạch và ra quyết định cưỡng
chế thi hành án trên cơ sở đề nghị của Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn
[5]. Tóm lại kê biên cưỡng chế QSDĐ mang tính quyền lực Nhà nước rõ rệt.
Nhà nước giao quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm thi
hành bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật trao cho Chấp hành
viên thực hiện.
Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự là một trong những
biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có tính nghiêm khắc nhất trong các
biện pháp cưỡng chế. Theo đó, khi bị kê biên, QSDĐ của người sử dụng đất
bị đặt vào tình trạng bị hạn chế giao dịch. Khi Chấp hành viên ban hành quyết
định cưỡng chế kê biên QSDĐ, thì kể từ thời điểm này người phải thi hành án
15




một quá trình thi hành án sẽ bị ngưng trệ, thậm chí phải làm lại từ đầu, gây
tốn kém về thời gian và tiền bạc của Nhà nước.
Ý nghĩa của kê biên quyền sử dụng đất trong Thi hành án dân sự
Thứ nhất, kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự góp phần
củng cố và thi hành triệt để kết quả của công tác xét xử trước đó.
Quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn, vì vậy khi Chấp hành viên
thực hiện biện pháp cưỡng chế này phần lớn thi hành triệt để bản án, quyết
định của tòa án có nghĩa vụ tài sản có giá trị lớn mà các biện pháp cưỡng chế
khác không mang lại hiệu quả như biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án, kê biên tài sản có giá trị không lớn, Thu tiền từ hoạt
động kinh doanh của người phải thi hành án … Mặt khác đối với người phải
thi hành án, phải thi hành nhiều bản án, quyết định của tòa án, do đó họ phải
thực hiện nhiều nghĩa vụ về trả tiền thì việc xử lý QSDĐ sẽ bảo đảm thi hành
triệt để không những một bản án, quyết định mà còn thi hành triệt để nhiều
bản án, quyết định của Tòa án.
Thứ hai, kê biên quyền sử dụng đất còn có tác dụng lớn trong việc răn
đe, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân.
Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự không chỉ là hoạt
động nghiệp vụ của riêng cơ quan thi hành án dân sự mà đó là sự kết hợp với
vai trò và trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương là sự
phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức hữu quan và mỗi thành viên trong
cộng đồng xã hội. Vì vậy thông qua buổi cưỡng chế kê biên quyền sử dụng
đất nhằm răn đe những đối tượng trây ỳ, chống đối không thực hiện nghĩa vụ
của mình. Mặt khác thông qua buổi cưỡng chế nhằm giáo dục ý thức pháp
luật cho mỗi công dân hiểu biết thêm pháp luật về THADS để họ tự điều
chỉnh hành vi của mình trong những trường hợp tương tự.

17



đoạt của đương sự trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình bằng sự
cưỡng chế của Nhà nước.
Năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 85/SL ngày
22/5/1950 quy định “thẩm phán huyện dưới sự kiểm sát của biện lý có nhiệm
vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án
hộ, mà chính toà án huyện hay toà án trên đã tuyên” [8]. Như vậy, theo quy
định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực
hiện trước đây đã được chuyển giao cho thẩm phán huyện, dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Chánh án. Đó là sự thay đổi trong cơ chế thi hành án, từ cơ chế
theo yêu cầu của bên được thi hành án sang cơ chế toà án chủ động thi hành
án. Nhà Nước thực thi trách nhiệm thi hành án thông qua việc Toà án chủ
động thi hành án dân sự mà không cần chờ đến yêu cầu của các đương sự.
Năm 1960 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 được ban hành.
Trong đó quy định: “tại các Toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp
hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định về dân sự, những
khoản về bồi thường tài sản trong các bản án và quyết định về hình sự”[22].
Ngày 13 tháng 10 năm 1972 Chánh án Toà án nhân dân tối cao ban hành
Quyết định số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên
tại các Toà án nhân dân khu phố, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương và cùng với đó Thông tư số 187 -TC ngày
13/10/1972 của Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn thực hiện Quyết
định số 186/TC ngày 13/10/1972 về tổ chức nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp
hành viên các TAND địa phương. Trong thời gian này Cơ quan thi hành án
không được tổ chức riêng mà giao cho Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành
các bản án, quyết định của Toà án; giúp Chánh án kiểm tra, đôn đốc công tác
thi hành án tại các Tòa án cấp dưới.
Đến năm 1981 Luật tổ chức tòa án 1981 và tại Nghị định 143/HĐBT
ngày 22 tháng 11 năm 1981 của Hội đồng bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status